*********
LỜI NGÕ
“Con Dế Mèn của Mẹ” không phải là một câu chuyện cổ tích.
Đây là câu chuyện có thật về một đứa trẻ mong manh, mang trong mình những giới hạn của số phận nhưng chưa bao giờ đánh mất nghị lực sống và về một người mẹ đã đi qua chiến tranh, tù đày, mất mát và những cuộc chia ly tưởng như không thể chịu đựng được.
Qua những ký ức giản dị nhưng chân thành, cuốn sách là lời kể về tình mẫu tử, lòng nhân ái và sức mạnh của tình yêu thương .
Câu chuyện của VyDan, của người Mẹ và tình yêu thương đó như sợi dây xuyên suốt cả cuốn sách. Dù chiến tranh, tù đày, bệnh tật hay khoảng cách nửa vòng trái đất, sợi dây đó chưa bao giờ đứt, những điều đó đã giúp hai mẹ con vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc đời.
Nếu khi khép lại những trang sách này, người đọc cảm nhận được một chút yêu thương, một chút hy vọng và sự trân quý đối với những người thân yêu bên mình, thì đó chính là điều tác giả mong muốn gửi gắm.
-Tặng Vy Dân, chú dế nhỏ của tôi, người mang tâm hồn bất khuất trong một cơ thể mong manh.
Ngọc Ánh 23/7/2026
Phần Một
NHẬT KÝ CỦA CON DẾ MÈN
Con là Vy Dân, nghe Mẹ kể rằng con sinh ra trong tháng 7 mưa dầm ở Đà Lạt, con nhỏ xíu vì không đủ ký, trời lạnh mà nhà không có lò sưởi, dì Giao bày cho Mẹ lấy chai thủy tinh đổ nước sôi vào rồi đậy nắp thiệt chặt, ủ quanh giường cho con được ấm, Mẹ quấn tả con kín mít, đặt vừa vặn trong cái giỏ mây xách trên tay khi trở về nhà ba ở Sài Gòn, lúc đó Mẹ còn trẻ lắm, mới ngoài 20 tuổi. Mẹ nâng niu con như chơi búp bê, nhưng con búp bê này chỉ biết cười chớ không biết khóc, người ta nói khi sinh ra ta khóc trong lúc mọi người cười vui, còn con thì ngược lại, con cười thành tiếng trong khi Mẹ lại khóc nấc vì tủi thân.
Trời Đà Lạt lạnh lắm, quần áo con không đủ ấm, ba phải đi bán máu để mua sữa, thức ăn và khăn tả cho con, nghe nói cái thời đó cả nước đều nghèo.
Mẹ phải đi buôn trà lậu ở Bảo Lộc để xoay sở mua sữa cho con, thỉnh thoảng bị Cộng Sản bắt và thu hàng mất vốn, mẹ về nhà mắt đỏ hoe khi ôm con vào lòng tức tưởi.
Rồi mẹ về Sài Gòn tiếp tục công việc với ba, con chậm lớn vì suy dinh dưỡng nhưng không có bệnh tật gì đáng lo, bác sĩ đã nói như vậy.
Ba mẹ và con sống vui vẻ bình an trong nhà ông Nội ở quận 10, Sài Gòn.
Rồi một ngày biến cố ập đến gia đình, Họ tới xét nhà và bắt Ba Mẹ đi tù, con không thể gởi ông bà Ngoại được dù nhà Ngoại cách nhà Nội chỉ một con đường ngắn, nên mẹ ôm con đi luôn vào trại giam, lúc đó con vừa hơn 1 tuổi ốm yếu như con dế mèn, nhưng con vẫn thích ở với ba mẹ mà người ta không cho gia đình mình ở chung với nhau. Kỳ ha, Ba bị nhốt ở biệt giam cuối trại, còn hai mẹ con ở biệt giam gần ngoài cổng.
Trời ơi cái phòng nhỏ xíu mà tối thui, con sợ bóng tối nhưng có Mẹ bên cạnh thì ấm áp bình yên làm sao.
Lần duy nhất con được nhìn thấy Ba trong lúc cả nhà mình chuyển trại từ Sài Gòn ra Phan Thiết, con nhớ cái dáng ba cao gầy, đeo kính cận và hay mỉm cười, ai cũng nói mặt con rất giống ba.
Mẹ bao nhiêu lần xin bọn họ cho con gặp ba, mà không ai đồng ý. Họ nói tội ba mẹ lớn lắm, phải nhốt cách ly, không cho liên lạc với người thân, nhưng con còn nhỏ xíu mà, có biết gì đâu. Họ ác quá!
Rồi mấy năm sau Mẹ được ra nhà giam tập thể, người đông ơi là đông nhưng không có đứa con nít nào bị tù như con,vì vậy mà mấy cô bác mới thương có mình con, thỉnh thoảng họ có thăm nuôi và chia chút xíu đồ ăn cho con bồi dưỡng, phải nói là món thịt chà bông con ăn ké ngon ơi là ngon, chớ 2 Mẹ con đâu có ai thăm nuôi, sống trong sự thiếu thốn gian khổ lâu dài, nhìn thấy mẹ già hơn mà thương.
Mẹ thường ru con ngủ bằng những bản nhạc vàng (cái này con nghe mấy cô trong nhà nữ nói thì thầm với nhau, loại nhạc cấm không được hát um sùm) mỗi lần mẹ hát tới câu “ trong tim cô sinh viên hay buồn” thì con chỉ vào Mẹ , Mẹ là cô sinh viên của con,
Mẹ cũng hay buồn nhưng chưa bao giờ than thở với con về những nhọc nhằn mà mẹ phải chịu đựng. Nhưng con biết lòng Mẹ cũng mỏi mòn, Mẹ từng nói nếu không có con, Mẹ sẽ chết để thoát khỏi cảnh ngục tù. Con sợ quá, nếu không có Mẹ chắc con cũng chết.
Mẹ là tia nắng sáng, là vầng trăng khuya, là nơi chốn bình an cho con nương tựa trong cuộc sống gian nan này.
Ban ngày Mẹ lao động rất cực khổ, mệt mỏi, nhưng đêm về chui vô mùng, Mẹ mới ôm con thủ thỉ kể chuyện cổ tích, chuyện ra ngoài lao động, chuyện trên trời dưới biển mà chuyện nào Mẹ kể cũng hấp dẫn trí tò mò của con, và khiến con ao ước có một ngày ra khỏi cái nhà tù chật chội này để nhìn thấy thế giới bao la ngoài kia, nhưng tiếc là con không thể đứng dậy được Mẹ ơi! Con không thể chạy nhảy hay ca hát líu lo, không thể vòng tay ôm Mẹ như người bình thường, mà con chỉ có đôi chân ôm ngang hông Mẹ, cái chân khẳng khiu quơ khăn lau mặt Mẹ, cầm cái lược chải tóc cho Mẹ và đấm lưng cho Mẹ mỗi khi mẹ mệt nhoài.
Thế giới của con bây giờ là Mẹ, con tưởng tượng ra cánh đồng bao la mà Mẹ cấy gặt lúa ở đó mỗi ngày, có con cò trắng thong dong đậu một chân trên bờ ruộng giống như cán bộ canh tù, con hình dung ra con đĩa máu đen bám trên chân Mẹ trắng ngần đã khiến Mẹ la lên sợ hãi, nếu có con ở đó, thế nào con cũng giúp Mẹ bắt nó liệng lên bờ cho con cò ăn,
Hôm nào đi làm về Mẹ cũng mang cho con một món quà gì đó, khi thì mấy hòn đá cuội bên bờ suối, lúc vài bông hoa dại bên đường, mấy trái đào bé xíu chưa kịp lớn đã rụng, hay cái lông chim to cả gang tay, Mẹ nói giống cây viết thời cổ đại, nhưng khi con cầm lên ngắm nghía lại tưởng tượng con quạ nào đó đã bay qua vườn đào nơi Mẹ lang thang lặt hột và làm rơi ra chiếc lông để Mẹ lượm về, kể thành câu chuyện cổ tích ăn khế trả vàng cho con nghe, để con mơ ước có ngày nó chở con đi chơi.
Một hòn đá Mẹ lượm bên bờ suối cũng là câu chuyện dài về Robinson trên hoang đảo với bờ cát hoang vu và mỗi ngày được đánh dấu bằng viên sỏi nhỏ. Nếu Mẹ con mình cũng giữ những cục đá như vầy mà đếm thời gian ở đây chắc chúng ta xây được một lâu đài! .
Mẹ nói “ nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” Con không hiểu những lời ẩn ý trong đó, nhưng con biết thời gian của hai mẹ con mình ở đây rất dài, rất mệt mỏi.
Rồi một ngày Mẹ đem về con kéc bị gãy cánh, nó không thể bay được nhưng nó hay hơn con là nó biết đi chầm chậm quanh nhà, màu sắc đầu tiên con biết là bộ cánh xanh biếc mềm mại của nó, và còn một màu hồng tươi mát mà con nhớ hoài là cái áo đầm của con bé nào đó xuất hiện trong trại khi mẹ nó dẫn vào chơi, con con bé rạng rỡ như tiên làm con ngơ ngẩn, vì con có bao giờ thấy bóng dáng đứa nào nhỏ như con mà phải ở trong tù đâu, con chỉ thấy toàn là màu xám của những bộ đồ lao động mà các cô chú trong trại giam hay mặc, nó dính mủ, dính phèn và đôi khi bị vá víu vì lam lũ, cái màu tăm tối gì đâu.
Con kéc là bạn thân duy nhất của con, nhưng mà nó cũng phá dàng trời, nó leo lên dây phơi đồ sau nhà cắn hết những nút áo, mấy dì đi làm về mưa gió lạnh run, bận cái áo nào cũng không có nút, họ bực tức chửi um sùm.
Mẹ thường lấy nón lá che mặt con mỗi khi nhà nữ đi làm về thay đồ chồng ngồng trong phòng, những lúc đó con cười thầm vì con biết ai là thủ phạm.
Rồi một hôm con kéc biết nói,(nó cũng hay hơn con ở chỗ này) nó nói lảnh lót “ kéc ăn cháo” đòi ăn khi thấy mẹ đút cho con ăn, nó gào thét “ cấp cứu, cấp cứu” khi nhà nữ có người bịnh. Mẹ nói nó là loài vật thông minh và giỏi tài bắt chước.
Con sống với Mẹ không biết bao nhiêu năm, đối với con thời gian không là cái gì hết, thậm chí con chưa từng biết đồng hồ ra sao cho đến lần nào đó “cán bộ” vào tận trong nhà nữ, ông ta đeo cái đồng hồ lấp lánh ở cổ tay, và chiếc Radio nhỏ xíu dắt vào sợi dây nịch bên hông, con nhìn mấy thứ công nghệ tiên tiến đó bằng đôi mắt lạ lẫm thích thú.
Mẹ nói đồng hồ cho ta biết thời gian, và cái radio chota biết tin tức khắp nơi trên thế giới bằng giọng nói của ai đó vang lên, con không hình dung được ở ngoài cổng trại kia lại có những điều kỳ lạ mà con chưa từng thấy, chưa từng biết bao giờ.
Mỗi ngày trong trại giam ,người ta tính thời gian mau qua đi “ hết sáng sang chiều tối lại mai” để mong đợi ngày về, còn con chỉ biết mỗi ngày có Mẹ bên cạnh là hạnh phúc nhất trên đời rồi, con không cần biết tuổi của con , tuổi của Mẹ, con không cần biết đã qua bao nhiêu cái Tết trong trại giam
Nhưng con thích cái không khí Tết rộn ràng và hai mẹ con sẽ có chút thức ăn ngon hơn ngày thường, để con vui khi có dịp ngồi ở dưới nhìn lên sân khấu thấy Mẹ hát cải lương tuồng “Đời cô Lựu”, hổng biết sao mẹ khóc ngon lành như nhân vật chánh trong tuồng, ai cũng vỗ tay rần rần mỗi lần mẹ xuống câu vọng cổ ngọt lịm.
Mẹ hay thiệt, vai nào cũng đóng được hết, để tối về ôm con, Mẹ lại thút thít khóc nhớ ba, nhớ Tết ở quê nhà xa xôi, ở đó có ông bà ngoại đang chờ mòn mỏi mẹ con mình trở về.
Mẹ lại kể chuyện Tết xưa với múa lân có pháo nổ rợp trời, có bánh chưng xanh, có dưa hấu đỏ, có tiền lì xì...để con tưởng tượng niềm vui của mẹ một thời đã xa, nhất định ngày về Mẹ sẽ dẫn con đi Chùa vào dịp Tết, để con coi múa lân coi đốt pháo, chắc con cười lăn với ông Địa bụng bự .Ngày trở về của hai mẹ con hình như còn lâu lắm,
Nhưng có một chuyện xảy ra mà con không muốn chút nào, đó là ngày dì Hai lên thăm Mẹ lần đầu tiên và mang theo lá thư của cơ quan nước ngoài nói về chuyện lãnh con ra khỏi trại giam để đi Châu Âu chữa bệnh.
Con đã quýnh quáng ôm cứng lấy Mẹ, dù Mẹ hết lời dỗ dành là nơi đó con sung sướng như ở thiên đường, có quần áo đẹp, có thức ăn ngon, có nhiều đồ chơi mà đứa trẻ nào cũng thích, con sẽ được chữa bệnh, được đi lại, được học hành và sẽ viết thư gửi cho Mẹ đọc , rồi Mẹ sẽ cố gắng về sớm để gặp con, rồi hai mẹ con mình lại ở bên nhau suốt đời.
Mẹ mong muốn con ra đi để có cơ hội tìm được cuộc sống tốt đẹp hơn cảnh hiện tại tù đày khốn khổ, nhưng mẹ quên câu hát trong vở cải lương mà mẹ đóng vai cô Lựu: “ Gánh nặng cuộc đời con với Mẹ sớt chia” .
Con không muốn đi đâu hết, con sẽ ở với Mẹ cho đến khi nào chúng ta chết thì thôi. Mặc cho con đập chân phản đối, Mẹ im lặng ôm lấy con vỗ về, mắt Mẹ buồn thật buồn, con chỉ mong Mẹ khóc là con sẽ được ở lại, Mẹ sẽ yếu đuối vì không thể rời con, nhưng Mẹ đã không khóc chỗ đông người, cũng như Mẹ không hề khóc trước mặt những người xa lạ khi nhận lá thư báo tin Ba mất.
Con nhớ buổi tối đó khi 2 Mẹ con vào mùng, Mẹ kể về cái chết của ba như một dũng sĩ trong truyện cổ tích, vung gươm giết bọn yêu tinh và bây giờ đã bay về trời, Mẹ vừa kể vừa thút thít trong bóng tối. Lúc đó con cảm nhận được sự mất mát chia lìa, chắc không bao giờ chúng ta gặp lại ba. Nhưng con tự hào khi biết ba con là một anh hùng , ba đã can đảm để đánh nhau với những kẻ xấu, con cũng muốn bắt chước giống ba, nhưng con phải ở lại để bảo vệ Mẹ, con tự nhận mình là một dũng sĩ nhí của Mẹ, vậy mà bây giờ Mẹ lại muốn con rời xa nơi này.
Ai sẽ lau nước mắt cho Mẹ khi mẹ buồn, ai sẽ đấm lưng cho Mẹ khi đêm về mệt mỏi vì lao động nặng nhọc, cánh tay con yếu ớt nhưng bàn chân con rất mạnh mẽ. Con đã ôm chặt Mẹ bằng đôi chân khẳng khiu vì không muốn phải rời xa Mẹ đêm nay, Nhưng cuộc chia ly đã diễn ra âm thầm lặng lẽ khi con ngủ say trên vai dì Hai rời khỏi trại giam lúc nửa đêm, con kéc cũng im lìm trong cái ba lô dì đeo sau lưng. Cả hai tụi con đã chia tay Mẹ từ đây. Chắc Mẹ sẽ buồn và nhớ con lắm phải không ?
RA TÙ & VỀ SÀI GÒN
Sài Gòn mọi thứ đều mới lạ đối với con, nhà cửa đường xá xe cộ tấp nập, nghe nói đây là thành phố mà gia đình mình đã sống trước kia, nhà Ngoại cũng gần đâu đó, khi con về cả nhà ai cũng thương con hết, mọi người mua sắm quần áo mới cho con, dì Hai dẫn con đi chơi sở thú, khung cảnh với quá nhiều điều lạ lẫm mà con thú vị khi nhìn thấy, chị Thảo chị Huyền thay nhau bồng ẳm con ra chợ mua đồ ăn, anh Tuấn cõng con qua hàng xóm chơi với bạn của ảnh, dì Mai ôm con tới cửa hàng bán gạo để con chơi tới chiều,
Và Mẹ biết không , lần đầu tiên trong đời con có cái bánh sinh nhật do dì Hai mua cho con, có ngọn nến và bạn bè hàng xóm qua dự tiệc, con kéc cũng được cắn một chút kem, tụi con vui lắm, nhưng con nhớ Mẹ và ao ước phải chi có Mẹ bên cạnh con lúc này.
Con sống vui vẻ yên ấm trong gia đình Ngoại không bao lâu thì tới ngày con có giấy tờ đi Thụy Sĩ để chữa bệnh, một đất nước xa lạ mà mọi người chỉ cho con coi trong tấm bản đồ.
Ở nhà ai cũng chuẩn bị đưa con ra phi trường, nhưng con kéc thì ở lại, dì Hai dỗ dành là người ta không cho con kéc lên máy bay, con buồn lắm nhưng không biết nói sao, nó là con vật khôn ngoan thân thiết với con từ hồi trong trại giam, nó là ký ức một trời kỷ niệm của hai mẹ con mình, bây giờ phải bỏ nó lại con thương lắm,
Con sẽ làm một chuyến đi xa hơn nữa, con nghĩ chắc chừng vài năm thôi, con sẽ hết bệnh và nhất định sẽ quay về với Mẹ, con đã hứa như vậy rồi mà, chúng ta sẽ ở bên nhau cho tới chết. Dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, hai mẹ con mình cũng vượt qua để tìm nhau nhe Mẹ.
Đón con ở phi trường là một bà đầm nào đó con không biết, bà đưa tấm hình con để nhận diện và gia đình Ngoại trao con cho họ bồng lên máy bay. Chuyện kết thúc dễ dàng như vậy, không ai nói với nhau lời nào, vì hai bên ngôn ngữ khác nhau, con chỉ quay lại nhìn người thân lần cuối, con cũng không biết nói một câu giã từ, con ú ớ ngây ngô trong vòng tay lạ, nhưng nhìn đôi mắt xanh trong veo của người phụ nữ ngoại quốc, con cảm nhận được sự ấm áp của chuyến đi xa .
Lần đầu tiên được đi máy bay con thấy thích lắm, nó lớn hơn cái nhà và nó sẽ chở con đi rất xa, như con quạ trong chuyện cổ tích Mẹ kể, nó bay qua những đám mây trắng, qua những ngọn núi và biển xanh ngắt bên dưới.
Con đã ngủ ngon suốt chuyến bay và trong giấc mơ hẹn ngày trở về gặp Mẹ. Con không hình dung được khoảng cách địa lý là bao xa, nhưng con biết là xa xa lắm từ Sài Gòn qua Thụy Sĩ, và con biết cũng sẽ còn lâu lâu lắm mới gặp lại Mẹ.
Trời ơi không hiểu sao con lại nghĩ như vậy, chuyến đi lần này lẽ nào lại làm cách biệt chúng ta?
ĐI XA HƠN NỮA
-Những năm tháng đầu tiên con sống trong gia đình của người bảo trợ, hai vợ chồng chú út và 3 người con nhỏ, các anh chị ấy chắc cũng suýt soát tuổi con, mọi người đều yêu thương con và nhất là thiếm ấy (Madame Vivian) đã chăm sóc con rất chu đáo nhưng không ai nói với con bằng tiếng Việt Nam.
Con được đi học và hiểu ra con đang ở một đất nước khác Sài Gòn của Mẹ con mình, người ta dạy con bằng tiếng Pháp, con ăn những món ăn cũng lạ, coi Tivi cũng khác, không có chương trình thiếu nhi như ở quê nhà.
Con đã có một thời gian dài để sống thích nghi với cuộc sống mới này và đôi khi con cũng quên mất con là ai, không ai kể cho con biết về gia đình người thân, về quá khứ của con, tại sao con có mặt ở đất nước này, giống như con sinh ra ở một thế giới mới chỉ có hiện tại và tương lai, nhưng trong trí nhớ mù mờ con biết mình còn có một người Mẹ, nhưng không biết Mẹ ở đâu, Mẹ còn sống hay chết, Mẹ như thế nào trong thời gian dài của mười mấy năm không gặp.
Con không biết diễn tả được tâm trạng của mình cho người khác hiểu, con không biết nói lên cảm xúc vui buồn của chính con mỗi khi nhớ về Mẹ, dù mỗi ngày qua đi con sống rất yên ấm ở đây.
Khi con 18 tuổi, theo luật con phải rời khỏi nhà người thân để sống trong nhóm khác, nơi đó chỉ có những người bạn bệnh tật giống như con, bại liệt toàn thân, không nói được, không tự cầm nắm được và đầu óc ngây ngô như một đứa trẻ, dù tuổi cũng đã trưởng thành.
Con may mắn hơn họ một chút là con hiểu tất cả mọi chuyện xảy ra chung quanh (nhờ coi tivi thường xuyên) con biết sử dụng computer dù chỉ bằng 2 ngón chân click chuột.
Nếu trước đây con có biểu hiện khi nói chuyện với ai đó bằng dấu hiệu đưa chân lên cao là đồng ý, còn đập chân xuống là không, thì bây giờ chân con lại cong queo không thể nhúc nhích được, con chỉ có thể thay bằng dấu hiệu khác là le lưỡi khi muốn nói “Yes” hay ngậm miệng khi muốn nói “No”.
Và những người chăm sóc con đều biết con muốn gì, nhưng họ chỉ hiểu những điều cơ bản trong cuộc sống hàng ngày của con, một cuộc sống thầm lặng giữa những con người bệnh tật, tụi con được chăm sóc chu đáo từ miếng ăn đến giấc ngủ, được đối xử dịu dàng thân tình như một gia đình nhỏ, cuối tuần họ đẩy xe chúng con ra ngoài trời đi xem phim hay uống cà phê.
Thỉnh thoảng mùa hè chúng con được du lịch sang các quốc gia lân cận, tham gia các trò chơi dã ngoại, vì nghe và hiểu được tiếng Pháp nên mỗi lần như vậy là một điều rất tuyệt vời với con.
Mười lăm năm sống không có Mẹ, thời gian này dài hơn lúc con được ở cùng Mẹ trong trại giam, con đã thành thanh niên trưởng thành, râu ria tóc tai mọc dài nếu một tháng con không đi tiệm cắt tóc, con chừa hàng ria mép vì rất giống ba trong hình mà con thấy lúc ở nhà chú Út (em của ba). Con cũng xăm trên cánh tay trái của mình một chữ Tỵ bằng tiếng Tàu, nó là tuổi con Rắn của con, ai đó nói với con như vậy.
TIN VUI VỀ MẸ
Rồi một ngày có người đến thăm con, đây là điều bất ngờ mà con sung sướng nhất,
Dì Hoa, một phụ nữ Châu Á, nói tiếng Pháp rành rẽ, Dì tưởng con không biết tiếng Việt, Dì xưng là bạn của Mẹ ở Việt Nam, có dịp qua Thụy Sĩ, Dì ghé thăm con theo yêu cầu của Mẹ.
Dì kể bây giờ Mẹ đã ra tù rồi, đang sống ở Sài Gòn cũng vất vả mưu sinh và lúc nào cũng mong ngóng tin con nhưng không biết tìm con ở đâu. May mắn là quen được dì, rồi dì lên mạng tìm mấy tổ chức nhân đạo nuôi trẻ khuyết tật ở nước ngoài (Terre des Hommes) Dì thấy tên con ở đây nên mừng quá, nhân có chuyến công tác nên dì ghé qua thăm.
Ơn Trời, con sung sướng biết bao nhiêu khi nghe tin Mẹ, và chắc Mẹ cũng hạnh phúc vô cùng khi biết tin con, Dì Hoa như bà tiên cho hai mẹ con mình kết nối với nhau, dì chụp rất nhiều hình con để mang về cho Mẹ yên tâm.
Dì cho con địa chỉ nhà Mẹ ở Sài Gòn. Và khoảng thời gian này con luôn nôn nao khi nhớ về Mẹ, con biết mình không phải trẻ mồ côi, điều mà bấy lâu nay con cứ anh ách trong lòng.
Không ai nói cho con biết về Ba về Mẹ, chắc mọi người không muốn nhắc với con về gia đình có một quá khứ đau buồn. Nhưng con biết hết mọi chuyện Mẹ ơi, con hiểu những lời nói xa gần của bà con bên Ngoại, con hiểu sự xót xa của gia đình Nội khi nhìn sự khuyết tật của con, ở đây thỉnh thoảng con gặp Bác hai, Bác ba (người thân lớn nhất của Ba) trong những dịp vui tụ họp bà con, dù sao con cũng là một thành viên trong gia đình của họ Trần Thắng.
Ở đây con có tất cả cho một cuộc sống mới đầy đủ, nhưng con vẫn ao ước được có Mẹ bên cạnh. Nỗi khát khao được gặp Mẹ nhiều hơn khi có chuyến ghé thăm của dì Hoa cho con biết tin về Mẹ ở quê nhà.
Nhất định con phải về Việt Nam tìm Mẹ, dù chuyến đi không dễ dàng gì cho một người khuyết tật như con.
Những lá thư qua lại của hai mẹ con càng thôi thúc con hơn khi nghĩ đến một ngày trở về, con đã cố gắng rất nhiều thời gian để gõ trên computer những dòng emails gởi Mẹ, nhưng con chỉ biết tiếng Pháp thì sao đây? con có nhiều bạn, họ là những nhân viên trong cơ quan Terre des hommer của chính phủ Thụy Sĩ, họ là sinh viên thiện nguyện cho tổ chức xã hội này, mọi người đều là bạn thân thiết của con, họ sẽ giúp con dịch emails ra tiếng Việt cho Mẹ dễ đọc.
Lá thư đầu tiên gởi qua đường bưu điện từ Thụy Sĩ về Sài Gòn, con kể cho Mẹ nghe đủ thứ chuyện về cuộc sống của con ở đây, con vui lắm vì mọi người ai cũng tốt và thân thiện với con.
Có vài lần con phải vào bệnh viện với chứng viêm phổi nhưng rồi sức khỏe con cũng ok, Mẹ yên tâm nhe.
Thỉnh thoảng con được du lịch đến các nước Châu Âu quanh đây, con không biết tả cho Mẹ biết thế nào là những cảnh đẹp mà con đã đi qua, từ khi liên lạc được với Mẹ, những lá thư qua bưu điện lâu ơi là lâu, đến khi hai mẹ con mình có emails, phải nói con tràn ngập hy vọng là có ngày nào đó con sẽ về thăm Mẹ.
Chắc chắn như vậy rồi khi con lên kế hoạch cho một chuyến bay nửa vòng trái đất, kế hoạch không phải một vài tháng mà là mấy năm trời.
Con kiếm tiền bằng việc bán những mặt hàng Giáng Sinh nho nhỏ, những mẫu thiệp do con thiết kế trên computer và in ra bày bán ở chợ trời vào những ngày cuối năm.
Nơi con ở họ luôn khuyến khích con sáng tạo bằng ý tưởng của mình, con được đối xử bình đẳng đến độ con quên mình khiếm khuyết rất nhiều phần trên cơ thể, con không biết cầm muỗng tự múc ăn, không biết đứng dậy và ca hát nhảy múa...
Thời gian ở bên Mẹ, con không nhìn thấy sự khác biệt của mình, nhưng khi con sống với môi trường mới lạ xung quanh, con nhận ra mình không giống những người bạn trẻ khác, con thoáng hụt hẫng nhưng không dám hỏi Mẹ tại sao con phải chịu như vậy, vì con biết là Mẹ sẽ khóc mỗi ngày khi nhìn thấy thân thể con èo uột bệnh tật, nhưng con hứa với Mẹ là con không khiếm khuyết tâm hồn.
Con hồn nhiên vui vẻ với mọi người, con sống như chưa bao giờ biết đến đau buồn trong quá khứ, dù đôi khi con nhớ Mẹ muốn khóc lên được với hình ảnh Mẹ liêu xiêu trở về trại giam sau một ngày lao động mệt mỏi. Mẹ bồng con mà không nhấc nổi cánh tay vì đuối sức,mắt Mẹ buồn như trời sắp mưa.
Nỗi nhớ Mẹ luôn thôi thúc con phải có tiền để sớm về thăm Mẹ, và con nói nhỏ Mẹ nghe điều này vì con có một chút xấu hổ khi viết thêm dòng chữ đặt trước chỗ bán hàng của con: “Cần tiền về Việt Nam thăm Mẹ”.
Đó là một sự thật mà con đã can đảm khi viết ra, nhưng kết quả thật bất ngờ khi mọi người đi ngang qua đều dừng lại mua giúp con một cái gì đó và trả tiền nhiều hơn giá trị của món hàng.
Sự tử tế và lòng yêu thương chân thành luôn được đón nhận vô điều kiện phải không Mẹ, Con cám ơn cuộc sống ở đây biết bao nhiêu.
CUỘC HỘI NGỘ SAU 15 NĂM
Con có 2 người bạn là Luctine và Jerome, bọn con sẽ lên chương trình cho một chuyến đi xa, con đã email cho Mẹ biết về điều đó, con sẽ về với 2 người bạn, cơ quan giúp con một chiếc xe lăn có thể tháo ráp được dễ dàng khi lên xuống máy bay.
Jerome chuẩn bị thuốc men quần áo vật dụng cần thiết cho con, kể cả khăn tả và máy nghiền thức ăn, Luctine thì lo Passport, thủ tục ra vào lãnh sự quán, chi phí đi lại cho 3 đứa trong 10 ngày lưu trú ở Việt Nam, thậm chí tụi con phải lên mạng tìm coi khách sạn nào ở gần nhà Ngoại, có thang máy, có ăn sáng free thì đặt chỗ cho tiện.
Một kế hoạch hoàn hảo phải không Mẹ?
Con rời Sài Gòn khi 9 tuổi và bây giờ con trở lại nơi này lúc con 24 tuổi, mười lăm năm thay đổi ra sao con không hình dung được nhưng con biết chắc là đã quá lâu để hai mẹ con mình mới gặp lại nhau.
Máy bay hạ cánh xuống phi trường Sài Gòn, cái tên thành phố mà con mơ hồ nhớ ra Mẹ thường kể cho con nghe về những kỷ niệm của ba mẹ, về ngôi nhà của Nội mà gia đình mình từng ở đó một khoảng thời gian êm đềm.
Cả bọn chúng con ngơ ngác giữa rừng người đưa đón ở phi trường, nhưng con nhận ra Mẹ ngay khi có người phụ nữ hấp ta hấp tấp bước vội về phía con, trong khi dì Hoa nói chuyện với Luctine và Jerome.
Trời ơi! Con muốn hét to lên vì mừng rỡ, nhưng chỉ biết ú ớ trong họng. Mẹ thì ôm chầm lấy con mà nước mắt chảy dài. Hạnh phúc nhất có lẽ là lúc này, khi mẹ con mình được gặp lại nhau sau thời gian dài xa cách.
Mọi người cùng nhau về nhà Ngoại, con gặp lại đầy đủ những người thân hồi nào con ở Sài Gòn 15 năm trước, chỉ thiếu ông Ngoại và con kéc. Ông Ngoại mất sau đó vài tháng và con kéc thì khi vắng con, nó đã buồn bã bỏ ăn rồi chết, chị Thảo chôn nó trong chậu mai trước sân nhà. Ai cũng vui vẻ trong lần gặp lại nhau.
Con biết thêm sau khi Mẹ rời trại giam, con có thêm đứa em gái, con không quan tâm về người đàn ông sau này của Mẹ, hình như ông ấy cũng đã mất rồi. Thương cuộc đời Mẹ lận đận và cô đơn, nhưng không sao Mẹ à, quá khứ đau buồn đã qua, bây giờ Mẹ đã có con và Phương (tên đứa em gái của con) Chúng con rất yêu thương Mẹ, mãi mãi Mẹ vẫn luôn tuyệt vời trong tim chúng con.
Luctine kể cho mọi người nghe về “kế hoạch hoàn hảo” trong chuyến đi này, về việc con đã để dành tiền như thế nào và thanh toán mọi chi phí cho cả ba người trong suốt thời gian 10 ngày ở Việt Nam. Con thấy ánh mắt tự hào của Mẹ khi nhìn con. Mẹ biết con làm được tất cả mọi chuyện này, dù con không thể như những người bình thường khác, nhưng con có nghị lực để dám nghĩ và dám làm. Thời gian ở Việt Nam tuy không nhiều, nhưng chúng ta phải sắp xếp cho hợp lý, đầu tiên Mẹ đưa con đi Đà Lạt để biết thành phố nơi con sanh ra, sau đó là về Sóc Trăng quê hương của Mẹ (cũng là nơi chôn nhao của con, lạ hen, tại sao cắt rún và chôn nhao lại ở 2 nơi cách xa nhau dữ vậy, bí mật này chỉ có Mẹ biết thôi)
Trên đường đi chúng ta ghé Bến Tre thăm quê Nội, nguyên quán của Ba, thăm thêm một điểm đặc biệt của Miền Tây là chợ nổi Ngã Bảy, nơi người ta chèo ghe mua bán hàng hóa trên sông. Luctine chụp rất nhiều hình cho quang cảnh độc đáo này, con nghĩ chắc không có nơi nào lạ như ở đây, họ chỉ mua bán thức ăn và trái cây nông sản ở địa phương thôi, nhưng rất vui vẻ và nhộn nhịp.
Lại về Sài Gòn, mỗi ngày đều có một chuyến rong chơi, khi Sở Thú lúc Đầm Sen, con được đi xe lam, xe buýt, phương tiện di chuyển của người nghèo, con thấy những người sống cơ cực, trẻ em và người già đi bán hàng rong , bán vé số mưa nắng dãi dầu. Mọi người đều nhìn con lạ lẫm khi con được 2 người
ngoại quốc đẩy xe lăn, con nghe họ nói Mẹ phải là người giàu có lắm nên con mới được sung sướng như vậy, chớ trong nước người tàn tật chỉ có đi ăn xin thôi. Con nghe Mẹ kể lại mà buồn cho họ.
Rồi 10 ngày cũng trôi qua nhanh chóng, con hiểu tiếng Việt nhiều hơn, Phương cũng bập bẹ được tiếng Anh với Luctine và Jerome, bọn con trao đổi email với nhau, con mua quà cho mọi người hết số tiền còn lại, thời gian ngắn ngủi thôi nhưng con hiểu phần nào cuộc sống ở đất nước chưa được phát triển như Việt Nam, để con so sánh với những nơi mà con đã đi qua ở Châu Âu, những thành phố rộng lớn, gương mặt ai cũng tươi vui, còn quê mình thì thấy có quá nhiều ngôi nhà lụp xụp, trẻ em áo quần xộc xệch, mặt mũi buồn hiu, nghe nói nhiều đứa không được đi học vì ba mẹ nó nghèo. Thương ghê!
Mẹ nói con tuổi con rắn tính theo Phương Đông, nhưng con là con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú, con may mắn là được ra nước ngoài, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của những tổ chức nhân đạo nhất thế giới, nên con có cơ hội hiểu biết hơn những người khuyết tật kém may mắn khác ở quê nhà.
Chuyến đi này con vui lắm, nó vượt xa mọi điều tưởng tượng của con. Mẹ đã ra khỏi trại giam đầy kinh khủng đó, Mẹ có cuộc sống riêng ổn định, Mẹ đi học lại rồi đi làm cho một công ty cũng không vất vả lắm, bên cạnh Mẹ lại có bé Phương thay con làm bảo vệ nhí cho Mẹ…
Con yên tâm khi biết mọi việc đều ổn cho Mẹ và Phương. Từ đây về sau gia đình mình sẽ giữ liên lạc với nhau nhe Mẹ.
Ngày cả nhà đưa con ra sân bay, (con không hiểu tại sao mọi người lại thích đi đưa đón đông như vậy, hình như được ra tới phi trường là niềm vui, là một mơ ước thầm kín nào đó). Sự chia tay lần này chỉ có nụ cười hạnh phúc và những cái ôm chặt quấn quýt yêu thương. Mẹ hứa là sẽ tìm cách qua Thụy Sĩ thăm con. Con tin là Mẹ sẽ làm được điều đó, vì con biết trái tim của Mẹ luôn hướng về con.
TRỞ VỂ THỤY SĨ
Trở lại Thụy Sĩ lần này, con như một người khác, con không còn băn khoăn về thân phận mình, con biết con còn có một gia đình, còn có những người thân ở đất nước Việt Nam xa xôi, con không còn buồn tủi mỗi khi thấy những đứa khác cuối tuần có người thân đến chở về nhà chơi, mà con thì thui thủi nhớ đến Mẹ, vì con biết Mẹ rất yêu thương con, nhưng hoàn cảnh xa cách thì mẹ con mình đành phải chấp nhận.
Sau chuyến đi xa về, Luctine và Jerome không còn làm trong chỗ con nữa, họ có công việc khác nhưng thỉnh thoảng vẫn ghé thăm con, có khi lấy xe đẩy con về nhà Luctine ăn tối với gia đình của họ, cùng coi đá banh trên TV, Luctine có 3 đứa con và một con chó, cả nhà thân thiện với con như một gia đình làm con rất cảm động.
Nơi con ở hiện nay chỉ có 4 đứa, 2 trai 2 gái, mỗi đứa một phòng ngủ gọn gàng sạch sẽ, nhân viên chăm sóc cho tụi con hầu hết đều còn trẻ, chắc cũng suýt soát tuổi con, có những cô gái rất trẻ, rất xinh đẹp, có thể họ là sinh viên thực tập một thời gian thì rời đi, và cũng có những người làm việc chuyên nghiệp lâu dài, nhưng tất cả đều phục vụ với một tấm lòng nhân ái, họ vui vẻ và chăm chỉ trong công việc, từ việc giúp tụi con làm vệ sinh cá nhân đến dọn dẹp phòng ngủ, giặt giũ quần áo, nấu ăn....
Dù bận rộn nhưng họ luôn nở nụ cười và cho chúng con những lời dịu dàng, những cái ôm ấm áp. Con rất biết ơn những con người ở đây Mẹ à, con biết mình thật may mắn khi được sống ở nơi này. Con muốn viết email cho Mẹ thật dài để kể cho Mẹ nghe về tất cả mọi sinh hoạt ở đây để Mẹ yên tâm là con đang sống bình an hạnh phúc, nhưng Mẹ ơi, con đã cố gắng hết sức cũng chỉ có một dòng thôi “con yêu Mẹ rất nhiều”.
LỜI GHI CHÚ CUỐI CÙNG
Con viết những dòng này không phải để than thở, mà để giữ lại những ký ức của đời mình những điều con đã sống, đã thấy, và đã đi qua. Có những ngày con nghĩ rằng ký ức sẽ mờ đi theo thời gian. Nhưng cũng có những ký ức càng xa lại càng rõ, như một vết khắc không thể xóa trong tim.
Con không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng con muốn ghi lại tất cả, để nếu một ngày nào đó con không còn ở đây, thì những gì con từng sống vẫn còn tồn tại trong những trang giấy này.
VyDan Tran Thang
Phần Hai
NHỮNG CHUYẾN ĐI
Tôi đi mình ên trong chuyến xe lửa từ Paris sang Thụy Sĩ với tâm trạng nôn nao và thoáng lo âu ngần ngại, mặc dù đây không phải là lần đầu thân gái dặm trường xuyên quốc gia như thế này, cách đây 2 năm tôi cũng từng liều mạng mang balô dong ruổi đi Tây mà chữ nghĩa tiếng Tây không rành nửa câu, không cellphone wifi để liên lạc trong trường hợp khẩn cấp, không có quá 200€ trong túi, chỉ theo lời mời thân tình của một gia đình Tây quen biết sơ giao mà hăm hở đi đại với mục đích duy nhất là thăm thằng con tật nguyền đang sống lưu lạc xứ người.
Cái đất nước Thụy Sĩ giàu có bậc nhất thế giới này đã cưu mang nuôi dưỡng đứa con trai èo uột tội nghiệp của tôi từ hơn 30 năm nay.
Thật lòng tôi nợ những con người ở đây một lời cám ơn vô hạn. Xe chạy băng qua những đồi thông, những cánh đồng, những thành phố nhỏ bình yên với nóc nhà thờ thấp thoáng trong sương mù, tự dưng thấy nhớ Đà Lạt mấy mươi năm trước, nơi mà tôi đã đến rón rén với cái ba lô mang ngược, bởi cái giọng con nhỏ em họ rù rì “chị mà không đi phá thai để ba chị biết được ổng cạo đầu khô cho coi”.
Tại sao phải bỏ đứa nhỏ? có thể ba tôi không chấp nhận “tên lính ngụy” trong gia đình “cách mạng” của ông, nhưng tôi yêu anh ấy biết bao nhiêu. Chúng tôi có quá nhiều chuyện để làm phía trước, có thai lúc này là ngoài kế hoạch, nhưng tôi cương quyết giữ lại tình yêu và lý tưởng của mình.
Vậy là tôi chạy trốn Sài Gòn lên thành phố sương mù, tạm trú trong nhà người quen chờ ngày sinh nở, anh có mặt bên cạnh tôi trong khoảng thời gian khó khăn đó, khi cả nước ăn bo bo thì anh lén lút mang gạo trắng từ miền Tây lên cho tôi, vượt qua không biết bao nhiêu trạm kiểm soát trong cái áo giả dạng bộ đội mà anh phải đổi nhiều quần áo đẹp của anh mới có được nó.
Tôi sanh sớm hơn 2 tuần nên thằng bé phải nằm lồng kính, tháng 7 mưa dầm, quần áo không khô kịp, tôi không có đủ sữa cho con, anh tất tả đi bán máu mua về mấy hộp sữa bò, khăn áo ấm cho hai mẹ con, nấu cho tôi một nồi súp đầy rau mà ít thịt, giặt dùm tôi mấy cái quần lót dính đầy máu vì thiếu băng vệ sinh.
Tôi đã bật khóc trong niềm hạnh phúc vô cùng. Đối với tôi, nếu có phải hy sinh cuộc đời mình cho người đàn ông đáng yêu này thì tôi luôn sẵn sàng. Và tôi đã sẵn sàng như vậy suốt hơn 40 năm qua, mặc dù anh ấy nằm xuống lâu lắm rồi. VyDan là kỷ niệm đẹp nhất trong chuyện tình của chúng tôi.
Đẹp mà buồn đến xót xa!.
Yverdon là một thành phố nhỏ của Thụy Sĩ, nói theo bài hát là đi dăm phút trở về chốn cũ, lúc đầu còn bỡ ngỡ lạ lẫm với những con đường quanh co mà từng viên gạch lót trên quảng trường, những lâu đài nóc nhọn phủ mái ngói rêu xanh nằm bên góc chợ đã có tuổi đời hơn trăm năm trước, xen lẫn giữa những tòa nhà cao tầng hiện đại thì xem ra mấy cái Chateau vẫn còn phảng phất vẻ kiêu sa của một thời quý tộc.
Hệ thống xe lửa ở các nước Châu Âu đều có chung một quy tắc tuyệt đối, đó là sự đúng giờ, tôi thực sự thoải mái khi sử dụng phương tiện công cộng này. Bước xuống sân ga lúc nào cũng 4 giờ 15 chiều, tôi chỉ báo cho Luctine và VyDan biết thời gian để yên tâm là tôi có đến và sẽ tự đi bộ về, nhưng lần nào thì 2 người đó cũng đều có mặt để đón tô.
Luctine đẩy xe lăn và VyDan cười vui biểu lộ ra gương mặt muốn hét lên như bất cứ đứa trẻ sung sướng nào được đón Mẹ đi xa về.
Tôi hạnh phúc khi cúi xuống ôm VyDan, xoa cái lưng gầy gò nhô xương của nó mà rưng rưng cảm xúc. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi.
Luctine giúp tôi mang cái ba lô nặng trĩu đầy quà của thằng bé để tôi hăm hở đẩy xe cho VyDan, chúng tôi đi bộ về nhà khoảng 2 miles với bao nhiêu câu thăm hỏi dồn dập, vốn liếng tiếng Anh của tôi chỉ có thể ở mức xã giao và anh bạn trẻ gốc Pháp này đối thoại sinh ngữ phụ khá hơn tôi, nên khi gặp câu khó tôi cười trừ, hoặc nói bâng quơ vậy mà nó cũng hiểu tuốt.
Tôi quen biết Luctine cách đây cũng gần 20 năm, khi hắn còn là sinh viên làm thiện nguyện cho tổ chức Terre des Hommes (The leading Swiss child relief agency), hắn chăm sóc cho VyDan và quen Martin cũng trong công việc này, hai đứa yêu nhau rồi ra trường, hôm đám cưới có cả VyDan tham dự. Năm 2002 hắn đẩy VyDan về Việt Nam thăm Mẹ sau 15 năm xa cách, trong khi ở Thụy Sĩ Martin sắp tới ngày sanh đứa con đầu lòng.
Luctine lớn hơn VyDan chắc vài tuổi, điều đáng nói là sự chân tình của hắn dành cho chúng tôi, những con người xa lạ khác màu da, khác ngôn ngữ nhưng có duyên phận gắn bó tình nghĩa với nhau.
Lần đầu tiên khi chúng tôi qua Thụy Sĩ ở nhờ nhà đứa cháu họ bên Lausanne, mỗi ngày đi xe lửa đến thăm VyDan, tiền vé đi về của hai vợ chồng hơn 70€, cầm cự mấy tuần chịu không thấu, thì gặp Luctine, hắn nói nhà hắn có dư một phòng, đi bộ đến chỗ VyDan chừng 5 phút, hắn “Welcome, see you next time.” Lại một lần nữa tôi chịu ơn người dưng nước lã đầy hào hiệp này. Hắn hiện ra trong đời sống của mẹ con tôi giống như ông Bụt, cầu được ước thấy.
Tôi đã ở nhà hắn đây là lần thứ ba, gia đình Luctine đúng là kiểu mẫu của người Tây phương nề nếp nghiêm chỉnh, 3 đứa con đều xinh đẹp ngoan ngoãn, học hành giờ giấc đâu ra đó, không ôm iPhone iPad nấu cháo như kiểu nhà mình, cuối tuần cha mẹ dẫn đi học khiêu vũ, học võ hay đánh banh, đứa nào cũng nói được 2-3 thứ tiếng.
Nhà khá giả nhưng ăn uống hết sức đạm bạc (!), buổi trưa cả nhà ăn ở ngoài, buổi tối là về đủ mặt cho bữa dinner, có khi chỉ vài đũa spaghetti hay bánh mì chấm chút xíu nước sốt, lâu lâu có miếng cá salmon khiêm tốn cỡ 2 ngón tay.
Lúc đầu tôi không quen ăn quá ít như vậy nên tối ngủ nghe bụng cồn cào. Hỏi ra mới biết họ không thích ăn thịt các loại hay hải sản, và ăn ít như vậy cũng thành quen nên dáng người ai cũng thon thả. Ở bên Mỹ ăn uống thoải mái như hổ, qua đây ăn rón rén như mèo, nên ngày nào tôi cũng mua bánh mì phô mai ra công viên ngồi nhai như dân homeless...
Chỗ ở của VyDan cách nhà Luctine chừng 1 miles, đó là khu dân cư nhưng cơ quan thuê hay mua gì đó 2 căn có 4 phòng chung một hành lang riêng biệt để nuôi những đứa trẻ bệnh tật như VyDan, có nhân viên chăm sóc 24/7 từ ăn uống thuốc men thay tã tắm rửa, hình như họ chia ca trực, ban ngày có 3-4 người lăng xăng nấu ăn giặt giũ dọn dẹp không ngơi tay nhưng gương mặt họ lúc nào tươi cười vui vẻ, cử chỉ nhẹ nhàng, nói chuyện với tụi nhỏ thân mật như chị em trong gia đình, lạ một điều không đứa nào biết nói nhưng hiểu những lời họ nói và mỗi đứa đều có lối biểu cảm riêng để giao tiếp với họ dễ dàng.
Bốn đứa trẻ đó tôi nghĩ là người của các quốc gia khác chớ không phải dân Thụy Sĩ, nói trẻ vì hình dạng mặt mũi ngây ngô như con nít nhưng đứa nào cũng hơn 35-45 tuổi, chung một khuyết tật như nhau, tay chân khều khào, không đi đứng được, không nói được nhưng nghe hiểu, biết cười và đôi khi la hét vu vơ, ăn phải có người đút và mọi chuyện cá nhân phải có người giúp đỡ tất tần tật như đánh răng tắm rửa thay tã mặc quần áo.
Cuộc sống ở đó thân thiện cho các cháu mang cảm giác thoải mái giống như trong gia đình, phòng khách có sofa tivi trang trí vài chậu hoa, cây xanh trong ánh sáng dịu mát, phòng ăn nhà bếp tươm tất, tới giờ ăn họ trải khăn ăn muỗng nĩa như nhà hàng, thức ăn mang lên thơm lừng, Có đủ thịt bò thịt heo rau củ nhưng tất cả đều được bỏ vào máy cắt nhỏ hay xay mịn tùy theo cách ăn của từng đứa, thật tình tôi không biết tụi nó cảm nhận món ăn ngon dở ra sao trong cái nước sốt sền sệt trộn chung “hầm bà lằng” này, mỗi đứa ngồi một góc có nhân viên bên cạnh, Daniel và Jessica thì tay chân quờ quạng nhưng vẫn thích tự cầm muỗng ăn, dù thức ăn đổ vương vãi.
Có chứng kiến một buổi ăn trưa với bọn trẻ mới thấy cái tâm và sự chịu đựng của người phục vụ, họ nói huyên thuyên điều gì đó khiến mấy đứa nhỏ cười, họ lấy muỗng gõ xuống bàn chọc ghẹo nhau và các nhân viên ăn ngon lành thức ăn trong dĩa, dù trước mặt họ mấy đứa ăn uống đổ tháo ho khạc đàm nhớt lòng thòng vào chiếc khăn quấn trên ngực. Thú thật tôi nuốt không vô khi ngồi đối diện với Daniel lúc nào cũng ho sù sụ khạc đờm rơi rớt trên cái dĩa của nó.
Mới biết họ chấp nhận công việc ở đây ngoài chuyện lương bổng là bình thường nhưng cái tâm họ tịnh hơn, tấm lòng của họ bao dung độ lượng hơn nhiều người khác, họ được giáo dục để biết yêu thương và tử tế với những đứa trẻ bất hạnh.
Bà trưởng phòng ở đây đã từng ôm tôi an ủi -“mày đừng lo lắng, bọn tao đã sống với tụi nhỏ lâu rồi, tao coi mấy đứa như con của tao, nên mày tin rằng tụi nó rất hạnh phúc”
Tôi lại khâm phục những con người vác thánh giá này, không có lời cám ơn nào đủ giá trị để dành cho họ. Tôi thấy mình nợ nần một đất nước xa lạ, nợ nần những con người xa lạ nhưng trái tim của họ thật gần gũi ấm áp biết bao nhiêu.
Nếu không có vòng tay dang rộng của chính phủ Thụy Sĩ và tổ chức nhân đạo này, chắc gì con trai tôi sống sót được đến hôm nay. Đó còn là một ơn phước mà Thượng Đế đã ban tặng cho mẹ con chúng tôi.
Có người hỏi tôi sao không mang VyDan về bên Mỹ cho tiện chăm sóc mà mẹ con cũng được gần nhau, tôi đã thẳng thắn nói không, vì tôi biết nơi nào là quê hương của nó, nơi nào nó sống yên vui mỗi ngày thì đó là thiên đường.
Định mệnh đã sắp đặt cho nó sống ở đây và có chết thì cũng ở đây, tôi biết cái cây đã èo uột sẵn mà bứng trồng chỗ khác không chắc gì sống nổi. VyDan đã thuộc về nơi này. Trong phòng ăn treo 4 bức ảnh của 4 đứa, năm ngoái tôi qua thì thấy gỡ mất 1 tấm, hỏi thăm mới biết con bé đã về trời, tôi buồn ngẩn ngơ khi nghĩ đến VyDan, nếu lúc nào đó tấm ảnh của nó không còn treo trên tường nữa!
Chỉ nghĩ như vậy thôi mà nghe tim mình như nghẹn thở. Những ngày ngắn ngủi ở bên cạnh con, tôi kể lể cho nó nghe những chuyện này kia về cuộc sống bên Mỹ, về bà con dòng họ ở quê nhà mà hình ảnh và độ thân thiết đã mờ nhạt trong ký ức của thằng bé rời Sài Gòn hơn 30 năm trước.
Thật tình VyDan không có kỷ niệm gắn bó về quê hương Việt Nam với những địa danh xa lạ, thậm chí nó còn không biết là nó cắt rún ở Đà Lạt và chôn nhao ở Sóc Trăng, một điều lạ lùng chưa từng xảy ra với bất cứ đứa trẻ nào, tôi đã làm điều ấy vì ý tưởng nghịch ngợm của một bà mẹ trẻ lúc đó, đem nhao thai ngâm rượu rồi mang bình rượu đó về quê chôn dưới gốc cây trong vườn nhà ngoại, không có mục đích ý đồ gì khác thường, chỉ muốn là làm vậy thôi.
Sau này có người biết chuyện lại trách “ngâm rượu hèn gì thằng nhỏ nóng nảy trong người nên còi cọc”
Tôi làm thinh không phân trần, 7-8 năm trong tù đủ để giết chết tuổi thơ của nó rồi, VyDan còn sống sót tới bây giờ là điều kỳ diệu của Thượng Đế.
Nó tuổi Tỵ, tôi hay gọi đùa “con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú” Nghe nói mỗi mùa hè là cơ quan đưa những đứa như nó được đi chơi khắp các nước Châu Âu. Ơn Trời, sự bất hạnh của nó đã được đền bù.
Ở đây VyDan được dạy và nghe tiếng Pháp, lần gặp lại nó ở Sài Gòn sau bao nhiêu năm xa cách, tôi phải nhờ cô bạn làm phiên dịch giữa tôi và nhân viên đi cùng, rồi nhân viên nhìn nó nói điều gì đó, họ truyền đạt lại cho cô bạn.
Hai mẹ con lúng túng mất mấy ngày, nhưng sau đó tôi nói tiếng Việt thẳng với nó và hỏi có hiểu không? Nó le cái lưỡi nghĩa là Yes, và ngậm miệng lại là No, từ đó chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau cả ngày như chơi trò trắc nghiệm đố vui. Tôi đặt câu hỏi và nó trả lời yes/ no rất nhanh
Trong ngôi nhà này VyDan là thằng bé “thông thái” nhất so với 3 đứa còn lại, nó biết đọc sách, xem TV, lên mạng email, Facebook với bạn bè. Người ta gắn cho nó một màn hình nhỏ đặt trên tường hay trên xe lăn, với một bàn phím được thiết kế bằng các ký tự đặc biệt và kỳ diệu hơn khi nó sử dụng 2 ngón chân để click chuột. Chỉ một dòng chữ “Je t’aime maman” mà nó cặm cụi cả nửa tiếng mới xong.
Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy sự cố gắng để diễn đạt ngôn ngữ yêu thương của thằng bé tật nguyền. Thỉnh thoảng tôi thấy nó lên Facebook, cũng viết vài chữ thăm hỏi gởi cho mẹ, nhưng tôi không hình dung được sự khó khăn của nó khi lần mò từng chữ bằng 2 ngón chân run rẩy.
Tôi nói nickname để VyDan add tên em gái nó vào Facebook, tôi mang cho Vydan mấy món quà nhỏ của của Kaytlyn và Derek, (hai đứa con của Phương) và hẹn khi nào tụi nó lớn một chút sẽ dẫn qua thăm cậu Vydan. Nó hào hứng khi nghe điều này, trong cuộc sống lặng lẽ buồn hiu của nó thì tình yêu thương gia đình gắn bó và ấm áp biết bao nhiêu.
Cám ơn những thành tựu công nghệ của thế giới ảo nhưng rất thật này, nó kết nối những con người xa xôi gần lại với nhau, mỗi lần tôi thấy hình VyDan trên mạng, tôi yên tâm là thằng bé còn mạnh khỏe bình an.
Có những buổi chiều trời nắng ấm, tôi đẩy VyDan đi vòng vòng ngoài phố, ngồi trước quảng trường ngập hoa cúc mùa thu, uống cà phê và nhìn người qua lại. Nó thích thú lộ ra mặt, tôi thầm cám ơn những ánh mắt thân thiện của mọi người ở đây dành cho nó, ít ra nó không bị mặc cảm vì hình dạng khuyết tật của mình, đó là yếu tố cần thiết để nó tồn tại và thấy đời đáng sống hơn.
Có lúc hai mẹ con ngồi bên nhau lặng im nhìn ra khung cửa sổ lất phất mưa, tôi hát cho nó nghe những bản nhạc quê hương xưa cũ và thằng bé dựa vào vai tôi thiu thiu ngủ như hồi còn nhỏ, tôi nắm bàn tay bàn chân lạnh ngắt cong queo của nó cố vuốt cho thẳng mà lòng cứ ao ước phép lạ xảy ra cho VyDan, nếu không thể vươn vai như Phù Đổng thì cũng gọi được tiếng Mẹ cho hạnh phúc ngập tràn, nhưng bà Tiên ban phép lạ thì chỉ có trong cổ tích thôi con trai à.
Khi mang nó ra khỏi nhà tù Cộng Sản thì thằng bé đã kiệt sức, tay chân co quắp, cột sống cong vẹo và các cơ bắp đã teo lại không đủ sức nâng đỡ thân hình xương xẩu. Thụy Sĩ là đất nước có ngành y tế tốt nhất thế giới mà cũng không thể cứu chữa được cho thằng bé trong tình trạng muộn màng.
Sự thăm viếng VyDan cũng theo quy định của cơ quan, tôi chỉ đến buổi sáng sau 10 giờ và buổi chiều sau 3 giờ, khoảng thời gian còn lại thì tôi lang thang khám phá những ngõ ngách của thành phố yên tĩnh này, tôi thường chọn mùa thu để qua thăm con, không hẳn vì Châu Âu thơ mộng bởi rừng cây đổi sắc đỏ vàng, nước Mỹ cũng có nhiều thành phố lung linh màu thu rạng rỡ vậy, đi chi xa, nhưng thật tình khoảng tháng 9-10 giá rẻ nên đi thôi, sống bằng lương hưu thì chỉ có vậy.
Nhưng ai không biết hoàn cảnh thì trầm trồ “đi du lịch sướng he” Tôi hay nói đùa “Ờ thì tiền bạc gởi bên ngân hàng Thụy Sĩ nên lâu lâu qua coi còn được bao nhiêu” ha ha chảnh bắt ớn!
Yverdon không có nhiều người Việt như thủ đô tị nạn Bolsa California hay Houston Texas bên Mỹ, hoặc nếu có thì chắc sống rải rác đâu đó không biết, duy nhất có một tiệm phở mà nghe giọng là biết Bắc Kỳ 75, một gian hàng tạp hóa Asian bán đủ thứ từ cọng rau muống, gói mì Hảo Hảo đến cái nón lá và tượng ông Địa China, tất cả đều nhập trực tiếp từ Việt Nam qua bằng đường hàng không mỗi tuần, dĩ nhiên chủ nhân là người Việt nói tiếng Pháp như gió,
Tôi quen với một chị bạn cũng từ cửa tiệm này, chị mua rau răm về nấu cháo lòng (!) nhưng rủ tôi về nhà để mời món mắm chưng cá mặn. Biết là bên Mỹ mấy món này không phải hiếm hoi nhưng được ăn bên trời Tây mà nghe tiếng Huế líu ríu thì quả là thú vị.
Tôi nhận ra rằng người Việt dù sống tha hương ở chân trời góc biển nào cũng có chung một nỗi nhớ nhà, “nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” Quê hương cứ lẩn quẩn trong từng cái chén đôi đũa, từng cọng ngò tép xả, tô mắm chưng dù được đặt trên bàn ăn có nhiều dao nĩa vẫn không thấy huốt cái đặc thù dân dã Việt Nam.
Thụy Sĩ là quốc gia đắt đỏ cũng nhất thế giới nên giá tô phở 25€ -30€ là chuyện bình thường, tôi thà nhịn thèm để mai mốt về Mỹ ăn “tô xe lửa” ngon lành mà giá có phân nửa.
California nơi tôi ở nói về món ăn Việt Nam thì không thiếu thứ gì, bún phở chè xôi hay bột chiên bánh ướt đều có đủ.
Trời thu mưa lất phất lạnh, con đường vắng ngập lá vàng cho tôi cảm giác mình đang đếm bước cô đơn, dù mỗi ngày vẫn gọi phone ríu rít với chồng đủ thứ chuyện, hình như có điều gì đó buồn buồn trong tôi, mỗi lần gặp thằng bé là gợi lại ký ức đau thương đã qua, tôi vẫn thấy ray rứt như mình có lỗi trong sự bất hạnh của nó.
Tuổi đời càng ngày càng lớn, tôi không biết mình có còn đủ sức để làm một chuyến đi dài qua thăm nó mỗi năm? Thôi thì một ngày được ở bên nhau là hạnh phúc hiện tại của hai mẹ con, câu chuyện buồn đã thuộc về quá khứ xa lắc xa lơ mà tôi cố gắng để quên nhưng sao vẫn thấy chạnh lòng hoài. VyDan là một kỷ niệm khó phai.
Thời gian thăm nó rồi cũng qua, trước buổi chia tay nó tặng tôi món quà lưu niệm, nghe nói mua đâu bên Ý trong một chuyến đi chơi nào đó, tôi giả bộ háo hức khi tháo gói giấy ra cho thằng bé vui, một con bướm bằng sứ sơn men xanh đã bị gãy một góc cánh, có lẽ không được gói cẩn thận khi vận chuyển, nhìn gương mặt thất vọng của VyDan thấy thương quá, tôi vội trấn an “không sao, Mẹ sẽ lấy keo dán nó lại dễ dàng mà, con bướm thật đẹp, Mẹ cám ơn VyDan đã tặng” Tôi hôn lên vầng trán nhăn nhúm của nó mà nghe lòng dâng lên nỗi xúc động nghẹn ngào.
Buổi sáng đầy sương, tôi lên tàu về lại Paris để chuẩn bị bay về Mỹ, quê hương thân thiết của tôi cũng như Thụy Sĩ là chốn quê nhà của VyDan, nếu một mai nó nằm xuống nơi này. Tôi nói với nó là trời mưa lạnh đừng ra sân ga, nhưng thật lòng tôi sợ cảnh tiễn đưa bịn rịn, tôi sợ nhìn ánh mắt đỏ hoe của nó sẽ ám ảnh tôi trên suốt đoạn đường dài. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi.
Thành phố cuối tuần vẫn còn đang ngái ngủ, những hàng cây trút lá ngập lối đi, cái ba lô nhẹ bỗng trên lưng mà sao tôi cứ canh cánh nỗi buồn nặng trĩu. “Au Revoir mon fils”Tôi tập viết câu này trong tin nhắn trên Facebook của Vydan lúc nửa đêm
Tạm biệt con yêu!
KHI NỔI BUỒN VẪN CHƯA NGUÔI NGOAI
Mấy tháng qua rồi, đám tang Vydan đã được tổ chức rất chu đáo và ấm áp, một chị bạn sống ở gần đó đã kể lại khi mua dùm tôi vòng hoa với dòng chữ bằng tiếng Pháp “ Mon cher Vy Dan, Tu Restes Toujours dans Mon Coeur” mang đến buổi lễ và chụp cho vài tấm hình kỷ niệm giây phút cuối đời của một kiếp người lẻ loi, buồn thảm.
Vydan nằm trong quan tài với cái đầu nghiêng qua một bên, gương mặt thanh thản, cũng cái dáng tựa đầu vào vai Mẹ như hồi nào khiến tôi không cầm được nước mắt. Thương con quá dế mèn ơi, dù có nhiều bạn bè đến viếng, nhưng tôi biết thằng bé rất cô đơn vì không có Mẹ bên cạnh trong lúc cuối cùng.
Tôi biết mình sẽ không đủ sức chịu đựng được cảnh chia ly não lòng này. Tôi đợi nỗi đau này lắng xuống.
Nhưng mấy tháng qua rồi, niềm đau vẫn còn đó, nhưng lòng tôi đã phần nào dịu lại sau những ngày dài đẫm lệ mỗi khi nghĩ về Vydan – chú dế nhỏ bé, yếu ớt của tôi – người đã lặng lẽ rời bỏ thế giới này sau khi gánh chịu vô vàn gian khổ trong hình hài khiếm khuyết.
Cái chết là sự giải thoát; tôi cố gắng nghĩ như vậy để không tự dằn vặt khi nhớ lại quá khứ đau thương, đứa trẻ ấy phải chịu cảnh tù đày khi mới 17 tháng tuổi, sống trong nghèo khó, thiếu thốn, bệnh tật triền miên mà không được chữa trị, rồi mòn mỏi suốt 8 năm trong ngục tù cho đến khi một tổ chức nhân đạo phương Tây dang tay giúp đỡ, đưa con thoát khỏi cơn ác mộng kinh hoàng.
Tuy nhiên, đã quá muộn để con có thể hồi phục sức khỏe như một người bình thường. Con đã cam chịu khiếm khuyết cơ thể như một định mệnh nghiệt ngã, sống những ngày bình yên dưới sự chăm sóc đầy yêu thương của những con người khác màu da, khác ngôn ngữ những người mang trái tim Bồ Tát, dành hàng thập kỷ để chăm lo cho những đứa trẻ bất hạnh như con.
Niềm hạnh phúc và sự bình an luôn hiện rõ trong ánh mắt con mỗi khi chúng tôi gặp gỡ, đó là niềm vui nhỏ bé mà hai mẹ con cùng chia sẻ, dù chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi giữa những chuyến hành trình dài đằng đẵng và mệt mỏi.
Trong lần gặp cuối cùng cách đây một tháng, tôi đã nắm tay Vydan và nói lời từ biệt: “Sang năm mẹ sẽ lại đến thăm con nữa nhe” Gương mặt Vydan bừng sáng với nụ cười rạng rỡ.
Vậy mà giờ đây con đã lặng lẽ ra đi...Chú dế nhỏ của tôi đã bay về thiên đường – tôi tin chắc là như vậy, bởi con đã trả xong nghiệp quả kiếp trước, sống trọn vẹn những tháng ngày bình yên ở cõi trần và bây giờ đã ra đi trong thanh thản. Tôi tự hỏi liệu ở chốn vĩnh hằng kia, Vydan có cơ hội đoàn tụ cùng Ba Tài yêu dấu để được Ba dắt tay bước qua cánh cửa thiên đường hay không? Cả hai đều là những thiên thần trong trái tim tôi.
Nỗi buồn đau xót xa cho một kiếp người, tôi vẫn chưa thấm nhuần được triết lý nhà Phật là cõi trần tạm bợ, là mong manh vô thường để chấp nhận sự thật của tử biệt sanh ly. Vy Dân đã được giải thoát khỏi kiếp nạn của nó, thì phải mừng chớ sao lại khóc? Nhiều người đã khuyên nhủ tôi như vậy và chính tôi cũng từng nghĩ đến một lúc nào đó nó sẽ bỏ Mẹ theo Ba mỗi lần nhìn nó thoi thóp trong tù.
Nhưng thằng bé vẫn kiên cường để sống sót cho đến 47 năm, chẳng phải nó đã cố hết sức để trả nợ đời rồi sao , mà nài ép nó phải sống thêm vài ba năm nữa! Nghĩ vậy mà vẫn thấy nao nao trong lòng, vẫn thấy như mình nợ nần Vy Dân một lời xin lỗi đã để nó gánh nặng kiếp nhân sinh đầy khổ nạn này.
Chắc chắn sang năm tôi sẽ qua thăm con dế mèn của tôi như lời tôi đã hứa với nó, dù Vydan không còn nữa, nhưng tôi phải đến đó để nhìn một lần cuối cái nơi đã cưu mang đứa con bất hạnh của mình suốt mấy mươi năm, để cám ơn từng con đường, từng góc phố mà Vydan đã đi qua, cám ơn đất nước con người Thụy Sĩ đã hết lòng chăm sóc cho một thằng bé côi cút tật nguyền của tôi, cho đến lúc nó lìa đời trong vòng tay ấm áp của mọi người tuy xa mà không lạ.
Cám ơn dòng sông con suối nào đó đã mang tro cốt nó ra biển khơi, tìm đường về quê Mẹ xa xôi thăm thẳm.
Xin hãy nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi gởi đến tất cả bạn bè thân mến.
TRỞ LẠI YVERDON ĐỂ GIỮ MỘT LỜI HỨA
Tôi xuống trạm xe lửa lúc 4.15pm.
Mưa lất phất đủ để ướt những chiếc lá vàng tơi tả bên đường, không có ai đón tôi với con mắt sáng ngời và nụ cười hớn hở. Sân ga vắng vẻ lạnh ngắt.
Một năm trôi qua rồi, nỗi buồn cũng đã lắng xuống nguôi ngoai, nhưng khi trở lại nơi này, tôi cũng thấy chạnh lòng nhớ về thằng bé, tôi cố nghĩ là nó còn sống, nó hiện đang quanh quẩn trong nhà hay đang coi TiVi ở phòng khách để chờ bữa cơm chiều.
Kéo chiếc ba lô lọc cọc giữa những con đường yên tĩnh của thành phố nhỏ, tôi chậm rãi đi dưới trời mưa để về ngang chung cư nhìn lên căn phòng cũ của nó, cánh cửa sổ đã khép kín nhưng ký ức trong tôi vẫn đang mở toang về những kỷ niệm còn sót lại của hai mẹ con, chỉ mới một năm thôi mà, lẽ nào nó không còn nhớ đến tôi?
Tôi đã từng dựa lưng vào khung cửa đó và hứa với Vydan là tôi sẽ trở lại thăm nó vào mùa thu tới, sẽ mang cho nó chiếc lá vàng như một minh chứng của trái tim người Mẹ đã lặng lẽ vượt qua hàng ngàn cây số để đến thăm đứa con côi cút tật nguyền.
Và bây giờ tôi đã trở lại nơi này để giữ một lời hứa, dù con trai tôi không còn nữa. Nước mắt rơi trong cơn mưa ẩm ướt chiều nay, tôi nhớ câu nói của ai đó “ đi dưới mưa để không ai thấy mình khóc”.
Tôi đang bước trên những chiếc lá vàng đầy kỷ niệm của ngày hôm qua. Trời chợt mưa chợt nắng và bỗng dưng tôi nhận ra mình vừa lạc mất lối vào khu chung cư rất thân quen, trí nhớ như bị xóa trắng, tôi ngẩn ngơ giữa ngã ba đường, phải nhờ một người đi ngang qua tìm giúp một địa chỉ mà mình đã từng đến gần mười năm nay, căn phòng D7 nằm trong góc khuất của thành phố nhỏ Yverdon.
Tôi ngập ngừng khi bấm chuông, cánh cửa tự động mở ra, tôi hấp tấp leo lên cầu thang, vào ngay phòng khách, có 2 chiếc xe lăn trước TV, một khuôn mặt lạ nhìn tôi ngơ ngác, chắc thằng bé mới vào đây thế chỗ của Vydan, còn đứa kia tôi biết là Natalie, nó cười ngây ngô khi tôi nắm tay nó, trên đầu tủ phòng khách là hình những đứa đã mất, trong đó có Vydan của tôi.
Điều mà tôi đã từng lo sợ bâng quơ mỗi lần đến đây, khi nghĩ đến ngày nào đó thằng bé sẽ bỏ Mẹ theo ba... Phòng ngủ của Vydan cũng đã thay đổi cách bày trí, không có mấy bức tranh trên tường và lá cờ vàng biểu tượng của đất nước Việt Nam xa xôi mà Vydan sẽ mãi mãi không bao giờ trở lại.
Căn phòng đã thuộc về thằng bé lạ mặt ngồi ở phòng khách kia, chắc nó cũng trạc tuổi Vydan, nó có nụ cười ngây ngô đến tội nghiệp, tôi rưng rưng trong cảm xúc của sự vô thường. Thế giới này giống như một vòng quay, xoay tròn tưởng như lập lại, nhưng không, thời gian cứ qua đi và mất hút.
Tôi bước xuống bậc thềm, ngồi ôm mặt khóc như trẻ thơ. Tôi nhận ra một sự thật là con dế mèn đã bay xa rồi, gần một năm nay tôi đã không còn thấy Vydan, dù chỉ là hình ảnh nhạt nhòa trên Facetime.
Tất cả đã biến mất!
Có 2 người bạn trẻ từ Paris qua. Chúng tôi hẹn nhau là sẽ cùng đi vào khu rừng thăm Vydan, tôi nghe kể rằng ở đây người ta không còn rải tro xuống sông, suối hay trên đồi núi như bên quê nhà, mà có riêng một khu rừng, họ gọi là “ Khu Rừng Ký Ức “.
Họ chọn cây cối như người bảo vệ ký ức của gia đình “On choisit un arbre comme gardien de la mémoire. On est au milieu de la nature, de la vie. Cette continuité apporte une sorte d’apaisement aux familles”
Họ chôn tro cốt dưới gốc cây và đánh dấu lên đó như một bia mộ có thứ tự trong nghĩa trang. Và Vydan cũng có một gốc cây như vậy, dưới bóng mát của rừng lá xanh um, là nơi an nghỉ của một thằng bé Việt Nam xa lạ, cách nơi nó được sinh ra hơn nửa vòng Trái Đất.
Nếu nó biết thế giới này bao la và sống chết là lẽ vô thường thì sá gì một nơi chốn nương tựa cuối đời nhỏ nhoi cát bụi.
Nhưng là một người Mẹ với trái tim xúc cảm đời thường, tôi đã không thể nén lại nỗi đau của mình khi nghĩ đến sự cô đơn của thằng bé trong giây phút cuối cùng không có người thân nào bên cạnh.
Nghe người bảo trợ kể lại nó khó thở, khi đưa vào bệnh viện với chứng suy hô hấp thì Vydan đã ra đi, nhẹ nhàng như tiếng thở dài,như cơn gió thoảng...
Email của bà ấy chỉ vài dòng báo tin khiến tôi thảng thốt bất ngờ không muốn tin vào sự thật. Ừ mới đây thôi mà, tôi vừa qua thăm nó trở về, hai mẹ con vui vẻ ríu rít bên nhau với những hẹn hò gặp lại vào năm sau.
Vậy mà bây giờ nó đành đoạn bỏ tôi ra đi.
Ngẫm lại thì hình như tất cả những người thân yêu của tôi qua đời đều không có tôi bên cạnh, Nội Ngoại, cha mẹ, chị em, chồng con, tất cả đều như khói sương tan biến mà tôi không hình dung được giây phút cuối cùng của họ ra sao.
Cách đây hơn 40 năm anh ấy cũng mất lặng lẽ cô đơn như vậy. Chỉ có những giọt nước mắt âm thầm xót xa của người vợ trẻ và đứa con thơ còn gian khổ trong chốn lao tù khi biết tin anh đã ra đi mãi mãi, “giọt nước mắt ấy bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho em..”
Yverdon đang vào mùa mưa bão, khu rừng khép lại như giữ ký ức của hai Mẹ con trong đó.
Hôm nay, mẹ và hai người bạn đến đây để tưởng niệm một năm ngày mất của Vydan, để thương tiếc đứa con tội nghiệp đã ra đi, và để nói với con lời xin lỗi muộn màng, Mẹ sinh con ra trong hình hài yếu ớt, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan mà gia đình ta phải bị đọa đày bởi dã tâm ác độc của chế độ Cộng Sản.
Họ đã giam cầm con trong một nhà tù tàn nhẫn nhất, khiến con phải chịu đựng đói khổ, thiếu thốn, khiến con mang bệnh tật suốt đời, tuổi trẻ của con gánh chịu quá nhiều bất hạnh, mà Mẹ là người chiu trách nhiệm không thể cho con một cuộc sống ấm no và hạnh phúc như những bạn bè trang lứa với con.
Có một người anh em mà con chưa bao giờ gặp mặt, chưa bao giờ biết tên nhưng với tình yêu thương tha thiết dành cho con, nên anh ấy đã làm bài thơ và phổ nhạc, cầm theo cây đàn để đến trước “Khu rừng ký ức” đàn và hát cho con nghe.
Mẹ sẽ chép bài thơ và email của anh ấy cho con
“Em chỉ có bài hát này dành tặng cho Cô và cũng là cho VyDân, người mà đáng lẽ ra cũng phải được hưởng tất cả những gì bình thường nhất mà tụi em được thụ hưởng. Nhưng em nghĩ, tất cả mọi sự hiện hữu trên thế gian này đều có một sứ mạng nhiệm màu nào đó mà chúng ta không thể nào thấu hiểu.
Em xin gởi đến Thầy và Cô tình cảm chân thành nhất mà em dành cho Cô, cho Thầy và cho cả người anh em mà em chưa một lần hạnh ngộ.
Bài hát có tên “ Con dế mèn đáng yêu” Em Đình Đại Viết tặng cô Ngọc Ánh về tình mẫu tử tuyệt vời dành cho Vydan
“Bay đi như cánh chim Hải Âu Bay về bên kia biển
Nơi có ánh sáng bình yên Với tình yêu chan chứa
Nơi có bóng mát tình yêu Của tình cha hương ngát
Đón con dế mèn đáng yêu
Thênh thang cõi diệu hằng
Dù con đã đến trên thế gian đoạ đầy
Và dù con đã đến khi quê hương đã chìm trong tăm tối
Lời nào mẹ hát ru con
Lời nào mẹ khóc ru con
Lời nào mẹ cảm ơn con
Đã đem tình yêu ủi an ngục tối
Cuộc đời đầy gian nan
Đi qua quê hương không tiếng người
Dù chỉ một lần thôi
Cho môi thơ nụ cười tươi sáng
Con đi qua cuộc đời
Như chứng nhân lặng lời
Con dế mèn đáng yêu
Hãy rong chơi cuối trời...”
Vy Dân yêu ơi, giờ đây con đang ở thế giới vĩnh hằng. Mẹ cầu nguyện con sẽ được tái sinh vào một nơi bình yên, ở đó sẽ không có chiến tranh, không có hận thù, chỉ có người và người yêu nhau.. Mẹ hứa là quay lại để gặp con, nhưng con đã bay đi mất rồi. Ôi con dế mèn khẳng khiu của Mẹ, thôi thì hãy rong chơi cuối trời... Mẹ sẽ luôn yêu thương và nhớ con mãi mãi.
Yverdon, 29 tháng 10/ 2025
Có những giọt nước mắt không cần phiên dịch.
Có những tình yêu không bị giới hạn bởi ngôn ngữ.
Và có tình mẹ vượt qua mọi biên giới của thời gian, khoảng cách và lời nói.
Xin mời quý độc giả tiếp tục đồng hành cùng Con Dế Mèn của Mẹ qua bản tiếng Anh của cùng một câu chuyện có thật.
Mời đọc bản tiếng Anh sẽ đăng ngày mai.












Dạ cho em xin bản tiếng Anh nhé
ReplyDelete