Thursday, March 3, 2022

Chữ Việt Gốc Pháp - Trần Văn Giang


Chữ Việt gốc Pháp trong vấn đề ăn uống: Ăn phở uống cà phê: 

Ăn uống là nhu cầu căn bản đầu tiên của tất cả các dân tộc. Do đó khi giao tiếp với người Pháp, những chữ liên quan đến thực phẩm được dùng đến nhiều. Trước hết có chữ “cà phê.” Già trẻ, từ nam tới bắc, từ đông sang tây (quốc nội hay hải ngoại) đều biết từ nầy. Nó do chữ café của Pháp. Cây cà phê đã góp một phần quan trọng vào đời sống của dân Việt từ thời Pháp thuộc cho đến ngày nay. Cách đây ba, bốn năm, VN đã đứng đầu thế giới trong việc sản xuất và xuất cảng cà phê loại “Robusta.”  

Liên quan tới cà phê, có “cà phê phin” (filtre: lọc). Cà phê phin có một độ còn có biệt danh “cái nồi ngồi trên cái cốc.” Đó là sự “tả chân” về cái phin cà phê của các bộ đội ngoài Bắc vào Nam. Phải công nhận một điều là khi trời lạnh, vào quán gọi một ly cà phê sữa nóng, ngồi nhìn cái nồi thảnh thơi ngồi trên cái cốc, nhỏ từng giọt cà phê xuống cái ly (cái cốc), là một sự chờ đợi lý thú. Khi nhắp chút cà phê sữa từng hớp nhỏ, hưởng cái vị đắng-ngọt “đã” cái lưỡi không thể tả được. Nhưng chưa hết. Hãy gọi một bát phở tái, chín, nạm, gân, sách nữa. 

Có người nói với tôi chữ “phở” có nguồn gốc Lang sa đấy. Một cựu thuyền trưởng thương thuyền, đã có thời làm việc cho Pháp và sau nầy cho VNCH, đã kể cho tôi nghe rằng thời trước 1954, ông ta chở tiếp liệu cho quân đội Pháp. Thuyền Phó và nhiều thủy thủ ở tàu của ông là dân Pháp chính cống. Khi tàu cập bến ở Hải Phòng, vào mùa lạnh, họ thường nấu một món “súp” (soupe) thịt bò và sau đó họ để thêm một loại mì sợi (loại giống như spaghetti) đã luộc chín vào súp trước khi ăn. Muốn giữ cho món súp được nóng suốt bữa ăn, họ để súp luôn trên lò lửa. Họ gọi món đó là “boeuf au feu”: (chữ “feu” đọc là “phơ”) tức là “bò nấu trên lửa.” 

Các thủy thủ người Việt không để “spaghetti” vào mà lại để hủ tiếu vào và gọi món đó là “boeuf au feu” VN. Chữ nầy dài quá nên được gọi tắt là món “au feu” và sau đó chỉ còn có chữ “feu.” Rồi chữ “phơ” là lửa ấy trở thành chữ phở (có dấu hỏi) lúc nào, ông ta không biết. Món “soupe au feu” nầy trở thành thông dụng cho dân chúng miền Hải Phòng trước, và sau đó cho cả miền Bắc. Sau 1954, khi có nhiều đồng bào di cư vào Nam sau cuộc chia đôi đất nước năm 1954, món “phở” mới thành món ăn phổ biến trong Nam. Trước đó dân miền Nam dùng hủ tiếu thịt heo nấu theo kiểu Tàu.  

Một ông bạn già khác, chẳng quen biết gì ông thuyền trưởng trên, lại nói với tôi rằng người Pháp có nhiều loại súp khác nhau, họ thường ăn súp nóng khi trời lạnh. Họ giữ cho súp luôn nóng bằng cách đựng súp trong cái “pot” tức cái nồi và để ninh trên lửa. Họ gọi nó là “pot au feu” và chữ phở do từ feu mà ra. Tóm lại, “boeuf au feu” hay “pot au feu,” cả hai ông đều cho một kết luận giống nhau về nguồn gốc của chữ “phở.” Quí vị có biết thêm giả thuyết nào nữa không?  

Điểm tâm: Dăm bông, ba tê, ốp la: 

Điểm tâm, có bánh mì, trứng gà, “dăm bông” (jambon): thịt heo hun khói và “ba tê” (pâtée) tức thịt hay gan xay, đã làm chín và ướp mùi vị đặc biệt. Có nhiều cách ăn hột gà. Bình thường là luộc chín. Có thể ăn hột gà “la cót” (oeufs à la coque): chỉ thả vào trong nước sôi độ vài phút, bên trong chưa chín hẳn. Ngoài ra còn có thể chiên hột gà bằng cách khuấy trộn chung lòng trắng và đỏ, ta có hột gà “ô mơ lết” (omelette); hoặc chiên nguyên tròng trắng và tròng đỏ để có hột gà “ốp la” (oeufs sur plat).   

Cơm trưa và tối với súp, xà lách, phi lê, cỏ nhác:

Bữa cơm trưa hay tối có nhiều thứ canh hay súp (soupe). Súp bò, gà, hay súp rau cải. Súp rau cải còn có tên gốc Pháp là súp “lê gim” (légume). Tiếng bình dân của ta gọi nước súp là “nước lèo.” Súp hành để lạnh nổi tiếng của người Pháp mà các nhà hàng tây nào cũng có bán là “consommé froid”: thức uống lạnh. Sau bữa ăn chánh, thực khách thường dùng cà phê đen trong một cái “tách” (tasse) thật nhỏ. Chữ “tách” thông dụng cho đến ngày nay. Đã dọn ăn thì phải có muỗng và đũa. Muỗng nhỏ gọi là muỗng cà phê và muỗng lớn gọi là muỗng súp. Có nơi ngày xưa còn gọi muỗng là cái “cùi dìa” (cuillère). 

Trong bữa ăn, ngoài “súp” ra, còn có “xà lách” (salade) tức rau cải. Xà lách còn là tên của một loại cải. Món salade “hằm bà lằng” nhiều loại rau cải đôi khi có cả đậu hủ, thịt gà, hay thịt heo hun khói hay “dăm bông.” Cây cải xà lách Đàlạt nổi tiếng ngon và được ưa dùng ở Sài Gòn (dân Mỹ gọi nó là butter lettuce). Một loại xà lách khác rất được ưa thích để trộn với dầu dấm là cải “xà lách xon” (cresson). Để thịt bò xào tái lên đĩa xà lách son dầu dấm là có một món nhậu vừa ngon vừa bổ. Thịt bò phải lựa loại “phi lê mi nhông” (filet mignon) mới đúng điệu vì nó rất mềm. 

Cho đúng tiêu chuẩn ngon, phải uống “cỏ nhác be ri ê,” hay “mạc ten be ri ê” (rượu hiệu Cognac hay Martel và nước suối Perrier) trong một cái ly lớn. Dân nhậu gọi ly rượu ấy là “công xôm ma xông” (consommation). Nếu không có “be ri ê,” thì dùng một loại nước suối có bọt hay nước soda cũng được. Một số người chỉ dùng nước lạnh pha với cỏ nhác hay mạt ten và nước đá. Họ cho rằng pha với các loại nước có bọt làm mất nguyên vị của rượu đi. Có người uống rượu mạnh không pha gì cả, thường gọi là “uống xếch” (Boire sec). 

Phó mách, bơ, và rượu vang: 

Sau bữa cơm tối và các câu chuyện hàn huyên, người ta còn ăn “phó mách” (fromage) và uống rượu “vang” (vin), còn gọi nôm na là rượu chát. Trong thức ăn kiểu tây có nhiều món nấu rượu vang như gà, vịt, lưỡi heo, thỏ. 

Phó mách và “bơ” (beurre) là sản phẩm từ sữa. Dân Pháp, Hoa Kỳ đều khoái hai thứ nầy. Có vô số loại phó mách khác nhau. Trong số đó có vài loại có mùi nồng và nếu không biết ăn thì đành xin lỗi vì nó hôi không thể tả. Nhưng dân sành ăn thì lại cho là nó ngon khỏi chê nhứt là dùng làm mồi để uống rượu vang. Đa số người Việt chỉ thích loại phó mách hiệu “con bò cười” (“La vache qui rit”) hay có tên HK là “the laughing cow.” Vào các siêu thị VN ở HK tìm mua phó mách, chỉ có thể tìm thấy loại nầy mà thôi. 

Sâm banh, la ve:

Dân Việt ta khi xưa, lúc Pháp mới cầm quyền ở VN ba bốn chục năm, có một số làm công chức cho Pháp hay những người giàu có mới ăn phó mách, uống sữa bò tươi và ăn bánh mì trét “bơ” Bretel, tên một loại bơ mặn nổi tiếng của Pháp. Ngoài ra còn có một chỉ số khác để chỉ nhà giàu xưa ở VN là việc dùng rượu “sâm banh” trong những tiệc vui. Sâm banh (champagne) là một loại rượu vang có bọt làm ra từ những trái nho ngon của vùng đất tên là Champagne, ở miền đông bắc nước Pháp. Ngày nay thì sâm banh sản xuất ở California, HK, tràn ngập thị trường quốc tế và là một loại rượu coi là “bình dân” vì quá phổ biến trong mọi giới, mặc dù có vài loại rượu sâm banh giá khá cao. Tú Xương có viết: “Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” để chỉ những nhà giàu thời xưa như đã nói. 

Ngoài rượu vang và sâm banh ra, người bình dân thích dùng “la ve” (la bière), một loại rượu có bọt với nồng độ rượu rất nhẹ (chỉ khoảng 5%; trong lúc ấy rượu vang kể cả sâm banh có nồng độ trung bình từ 11% đến 13.5%, và rượu mạnh có 40% trở lên). La ve còn được gọi là “bia” (beer) và do đó, có chữ “bia ôm” mà hầu hết chúng ta đều biết. 

Bom, bôm, và bơm:

Trong các loại tráng miệng sau bữa cơm, chúng ta có thể dùng trái “bôm” (pomme) hay còn gọi là trái táo tây. Gần đây có một loại bôm nổi tiếng của Nhật tên Fuji. California đã sản xuất tràn ngập loại bôm nầy.  

Tiện đây xin cho nói luôn kẻo quên, trong tiếng Việt có đến ba chữ Việt gốc Pháp có âm đọc gần như nhau: “bôm,” “bơm,” và “bom.” 

“Bơm” (pomper) là động từ chỉ động tác đem không khí, hay một chất lỏng vào một chỗ nào đó như bơm bánh xe, bơm nước từ giếng lên thùng chứa nước, bơm mỡ bò vào bạt đạn xe. Vật dùng để bơm, gọi là cái bơm, ống bơm hoặc máy “bơm” (pompe).  

Chữ “bom” (bombe) chỉ một loại vũ khí gây nổ có tác dụng phá hoại và giết chóc. Ném bom, dội bom (bombarder) là động từ chỉ việc dùng phi cơ thả bom xuống từ trên không.  

Chữ Việt gốc Pháp trong giao thiệp, ăn mặc và chào hỏi: 

Các ông tây “bà đầm” (madame) khi gặp nhau, chào nhau bằng cách “bông rua” (bonjour: bắt tay chào nhau) hoặc “bông xoa” (bonsoir). Khi từ giã nhau thì nói “ô rờ voa”(au revoir: sẽ gặp lại) hay “a-dơ” (adieu: vĩnh biệt). Khi cần thoái thác hay xin lỗi điều chi thì bắt đầu bằng từ “bạt đông” (pardon: xin lỗi). 

Lại nhớ có câu thơ rằng: 

Bạt đông anh chớ pha sê           

Ách tăn moa rắc công tê tú xà. 

(Fâcher: giận; attendre: đợi; moi: tôi; raconter: kể; tout ça: tất c). 

Lẽ dĩ nhiên không đúng văn phạm Pháp, nhưng nghĩa thì rất rõ ràng và lại đúng vần thơ lục bát, mặc dầu là thơ ba rọi. Chữ “mông sừ” (monsieur: ông) và “ma đàm” (madame: bà) dùng trước tên họ của ông hoặc bà nào đó để tỏ sự kính trọng. Khi những ông bạn quen thân gặp nhau, người nầy gọi người kia là toa (toi: anh hay mầy) và xưng là “moa, mỏa” (moi: tôi hay tao). Cho đến ngày nay, những người VN lớn tuổi vẫn còn dùng lối xưng hô nầy. Dân ta dùng từ “bà đầm tôi” để chỉ người vợ của mình. Ngày nay từ “bà xã” thông dụng hơn.  

Ăn mặc:

Khi dân Việt dùng kiểu áo tây phương trong việc ăn mặc, một số các cô, bà mặc “áo đầm” tức loại áo và váy chung nhau. Đàn ông thì mặc “sơ mi” (chemise) và quần dài (quần Tây) như chúng ta mặc bây giờ. Nói đến sơ mi, ông Lãng Nhân có nhắc đến những chữ Việt hóa trong những bài thơ mà ông xếp chúng vào loại văn thơ Việt Nam hóa trong bài lục bát sau đây: 

Lạnh lùng một mảnh sơ mi          

Li-ve trằn trọc, lơ li một mình, 

Loăng-tanh ai có thấu tình 

Em-mê đến nỗi thân mình biểng-pan.  

(Chemise: áo; l’hiver: mùa đông; le lit: cái giường; lointain: xa; aimer: yêu, thương; bien pâle: xanh mét). 

Nếu các ông mặc áo vết (veste) hay áo “vết tông” (veston) bên ngoài áo sơ mi, cùng loại vải, và cùng màu với quần thì chúng ta gọi y phục đó là bộ “côm bờ lê” hay “côm lê” (complet: đủ bộ, hay nguyên bộ). Ngày xưa, khoảng trước 1954, người ta còn gọi cái áo veston là áo “bành tô” (paletot).   

Các ông bà trong ngành y khoa như bác sĩ, y tá thường mặc áo “bờ lu” (blouse) khi làm việc. Đó là chiếc áo mang tính chất nghề nghiệp rất oai.  Nhưng khi dạo chơi, người đàn ông có thể mặc áo “u ve” (veston ouvert);  trong lúc đó, đàn bà tân thời, cải cách (của thời xa xưa đó) thích mặc áo “lơ muya” (Lemur: loại áo dài do họa sĩ Cát Tường vẽ kiểu), áo thun Montaigut của đàn ông cũng thuộc loại áo được các ông ưa thích.   

Cả ông, bà khi đi đâu khỏi nhà, đều có mang “bóp” (porte, porter: mang, đựng). Bóp cho các bà thì gọi là “bóp đầm.” Bóp cho các ông có tên “bóp phơi” (porte feuille).

Trong thập niên 1950 tôi nhớ đám trẻ nhỏ chúng tôi thường hát nhái theo giọng bài ca “Dứt đường tơ” như sau:  

Tóc em dài sao em không uốn?  

Tốn bao nhiêu anh trả dùm cho, 

Đây bóp phơi anh đầy “bộ lư”  

(giấy bạc 100 đồng có hình bộ lư) .... 

Nàng ơi uốn đi...  đừng lo. 

Đàn ông mặc côm lê phải mang “cà ra oách,” hay “cà vạt” (cravate: trang sức bằng vải đeo trước ngực) mới đúng cách. Muốn cho thiên hạ biết có tiền, nhứt là khi dẫn bạn gái đi “ban” (bal: dạ tiệc có khiêu vũ) trong bóp phải đem theo nhiều giấy oảnh (vingt: hai mươi) tức giấy hai mươi đồng; và thêm vào còn có nhiều tờ giấy “xăng” (cent piastres: giấy $100.00).   

Trong lúc đó các bà các cô phải đeo “cà rá” (carat) nạm hột xoàn. Thực ra carat là đơn vị đo lường kim cương.  Nó là sức nặng bằng 1/24 của một “gam” (gramme) vàng nguyên chất. Gam là một phần 1000 của một “ki lô” (kilogramme). Vàng 18 là một hợp kim gồm có 18 phần vàng và sáu phần kim loại khác.   

Cái cà vạt và cái cà rá sống vượt thời gian. Ngày nay nó vẫn còn thông dụng cho cả hai phái, chỉ thay đổi màu và phẩm chất tùy theo số lượng “anh hai” (tiếng lóng để chỉ tiền).  

Chữ Việt gốc Pháp trong giao thông,

Ô tô, sớp phơ, gạt đờ co: 

Trước hết có xe “ô tô” (automobile) hay “xe hơi.” Ở nhà lầu, đi xe ô tô là biểu tượng của nhà giàu. Muốn tỏ ra sang trọng hay có uy quyền, người ta mướn tài xế hay “sớp phơ” (chauffeur). Chữ nầy thông dụng ở miền Nam hơn miền Bắc. Sau nầy, kể cả những thập niên cuối của thế kỷ 20, chữ tài xế  trở nên thông dụng cho cả VN. Nhiều ông làm chức vụ cao, hay quan trọng, hoặc các người giàu còn có thêm một tài xế phụ.  Thực sự người nầy là “gạt đờ co” (garde du corps: cận vệ) ngồi phía trước, cạnh tài xế,  thường đeo kính đen trông rất oai vệ. HK gọi người nầy là “bô đi gạt” (bodyguard). Ông “bô đi gạt” nổi tiếng là ông cận vệ của Tổng thống Ford. Ông ta gạt (garde)  hay đến nỗi ông ta cưới luôn con gái của tổng thống. Ông cận vệ nầy trở thành “gạt đờ co” trăm năm của ái nữ tổng thống. Vậy ông nào có người làm công với chức vụ “gạt đờ co” thì nên... coi chừng con gái mình và coi chừng luôn cả... phu nhân (nói đùa cho vui, bỏ qua đi tám!).    

Trở về với xe, ngoài xe nhỏ thường gọi là xe du lịch, còn có xe “cam nhông” (camion) dùng để chuyên chở hàng hóa. “Cam nhông” thứ thật to và chở thật nặng có tên là “boa lua” (poids lourd). “Cam nhông nết” (camionette) là xe chở hàng hóa loại nhỏ, giống xe “pick up” của ngày nay.  VN khi xưa và ngay cả ngày nay, ít khi nhập cảng “cam nhông” nguyên chiếc. Họ chỉ mua cái sườn xe thôi.    Đến VN rồi họ đóng mới đóng thùng xe tùy theo nhu cầu: đóng thùng vuông chung quanh để chở hàng, hoặc đóng thùng có cửa, có “băng” (banc: ghế ngồi) để làm xe đò hay làm xe “ô tô buýt” (autobus) hay “xe buýt.” Xe buýt rất thông dụng trong việc chuyên chở công cộng trong đô thành hay các thị xã lớn. Xe chuyên chở hành khách đi các tỉnh lại gọi là xe đò, trong khi Pháp hay HK lại gọi cả hai loại trên là xe buýt. Cũng trong lãnh vực chuyên chở, chúng ta còn có xe lô hay xe “lô ca xông” (location).  Đó là những chiếc xe du lịch được dùng làm xe cho mướn hay xe chuyên chở hành khách. 

Xe đò, ăn banh, lơ: 

Trên mỗi chuyến xe đò, ngoài người “sớp phơ” ra còn có một hay hai người phụ tá gọi là anh “lơ.” Những người nầy lo việc sắp xếp chỗ ngồi, kiểm soát giấy đi xe (chữ “lơ” do nguyên ngữ “contrôleur” tức kiểm soát viên). Ở VN, những anh nầy còn phụ trách nhiều việc khác như đưa hành lý lên và xuống xe cho khách, giao thiệp với cảnh sát công lộ khi xe bị chận vì một lý do gì đó, hoặc phụ với tài xế sửa xe khi xe bị “ăn banh” (en panne) tức là khi xe bị hư. Nhiều anh lơ rất có tài trong việc sửa xe: từ việc nhỏ như vặn chặt một vài con “bù lon” (boulon) đến việc lớn như thay cả cái “ăm vô da” (embrayage: bộ phận trong hộp số để chuyển những chuyển động của máy xe sang cái trục làm xe chạy trong hệ thống sang số bằng tay).   

Có người hỏi tại sao họ chịu khó làm việc như vậy (mà không đòi chủ xe trả tiền công)? Số là đa số chủ xe chỉ thâu tiền bán vé ở các trạm xe chánh mà thôi. Còn việc đón khách lên xuống dọc đường và tiền kiếm thêm nầy thì tài xế và lơ chia nhau. Các chủ xe đều biết chuyện nầy, nhưng vì không thể nào kiểm soát được, nên thà cho trước cái quyền lợi đó cho tài xế và lơ. Chủ xe được cái lợi là khỏi lo việc kéo xe về nằm “ga ra” (garage: chỗ sửa xe) vừa tốn nhiều tiền vừa mất thì giờ (tức mất tiền). Để cho tài xế và lơ tự sửa xe, chủ chỉ phải bồi hoàn chi phí về “bạt” (parts: các bộ phận rời). Xe được sửa mau, cả chủ và người làm công đều có lợi. Một hợp tác hỗ tương không văn kiện nhưng lại rất hiệu quả trong giới xe đò. 

Xăng và lốp xe: 

Muốn chạy xe phải có  “xăng” (essence). Ngày nay, từ nầy còn thông dụng ở mọi nơi. Xe mà hết xăng thì trở thành... sắt cục. Xưa kia nếu quên đổ xăng, để xe hết xăng dọc đường, không chạy được nữa, thì gọi là “ăn banh xéc” (panne sèche: hư xe khô, có nghĩa hết xăng). Chỉ còn có những lão già “vang bóng một thời trong việc sử dụng Pháp ngữ” dùng từ nầy. Từ “ga xăng” sẽ nói đến ở một đoạn sau.   

Chữ “xăng” còn được dùng trong một nghĩa khác. Khi trẻ con đói bụng, mặt nhăn nhó, người ta nói em bé “thiếu xăng” hay em bé cần đổ xăng thêm.   

Dân Việt có tài chế biến trong việc dùng từ ngữ. Thí dụ việc dùng chữ “quá giang” khi chúng ta đi nhờ xe của một người khác. Nguyên ngữ “quá giang” có nghĩa “qua sông” bằng cách đi nhờ đò, hay ghe của người khác. Quá giang cũng dùng đến khi đi nhờ từ nơi nầy đến nơi khác bằng thuyền. Không hiểu tự bao giờ, chữ “quá giang” được dùng cho việc đi nhờ xe. Ngày nay thì quá giang chỉ có nghĩa là đi nhờ thôi, thuyền hay xe gì cũng được. Nhưng nếu quá giang thường quá thì nên đóng góp tiền xăng cho vui cả hai bên. 

Quan trọng không kém xăng là “lốp xe” (enveloppe): vỏ xe, phần bọc bên ngoài cái “ruột xe”; sau nầy vỏ xe chỉ có vỏ mà không có ruột. HK gọi là “tubeless.” Khi bánh xe xẹp, phải bôm thêm hơi vào ngang qua cái “súp báp” (soupape: vật dụng dùng để cho không khí đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). Tùy theo công dụng cái súp báp còn có tên là cái “van” (vanne).   

Ở VN lốp xe cũ được dùng một cách hữu hiệu. Họ bọc thêm bên ngoài một lớp “cao su” (caoutchouc) gọi là vỏ xe tân trang để dùng thêm một thời gian nữa. Đôi khi xe đang chạy, phần đắp thêm bị văng ra. Đó là xe bị “lột lốp” hay bị bung “ta long” (talon: đế giày, hoặc phần ngoài vỏ xe). Ngoài ra lốp xe cũ còn dùng để chế tạo dép. Loại dép nầy rất thông dụng ở miền Bắc. Nhưng ở miền Nam chúng mang một hình ảnh hơi đen tối sau năm 75: 

Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, 

Mũ tai bèo che lấp ánh tương lai.”     

(không rõ tác giả) 

Cây cao su và anh sớp phơ nói tiếng Tây: 

Chữ “cao su” đã được Việt hóa trọn vẹn. Cây cao su là một loại cây cho nhựa. Nhựa nầy được biến chế thành nhiều vật dụng mà quan trọng nhất là vỏ xe. Cây cao su là một loại cây kỹ nghệ. Các chủ đồn điên thời tây là những nhà giàu có nhiều quyền thế và ảnh hưởng trong việc cai trị.  Những ngôi nhà do họ xây cất để ở là những dinh thự to lớn, còn tồn tại ở rải rác nhiều nơi. Số lớn các ngôi nhà nầy nằm trong vùng đồn điền hẻo lánh. Chủ nhân người Pháp của thời đó đều mang súng và có nhiều cận vệ.   

Sản phẩm khác của cao su là dây thun được dùng nhiều trong kỹ nghệ  y khoa và quần áo. Vì tính chất thun giãn của nó, dân ta dùng từ  giờ cao su để chỉ sự kiện hay trễ nãi hay không đúng giờ của dân ta. Giờ cao su trong các bữa tiệc cưới đã trở thành một nét đặc thù của dân Việt.  (Tôi có nghe câu nói đùa: “không ăn đậu không phải là Mễ, không đi trễ không phải là Việt Nam).” 

Xe máy (xe đạp) với dây sên và ru líp: 

Trong chiếc xe đạp hay xe máy, rất nhiều tên các bộ phận được Việt hóa như dây “sên” (chaine), dây nầy chạy vòng quanh một bánh xe có răng như răng cưa, gọi là cái “ru líp” (roue libre: bánh xe tự do).   

Trong cái “ru líp” lại có một bộ phận nhỏ có công dụng độc đáo là khi chúng ta đạp xe tới thì bộ phận đó kéo bánh xe đi tới. Nhưng khi chúng ta quay lui cái bàn đạp thì chỉ nghe re re mà không có ảnh hưởng gì đến việc kéo xe. Bộ phận đó có ba tên khác nhau, tùy theo vùng. Trong Nam, nó tên là “con chó”; ở miền Trung nó được gọi là “con heo”; và ở miền Bắc nó mang danh là “con cóc.” Ai biết sửa chữa cái “ru líp,” đều biết cái bộ phận nhỏ quan trọng đó. Còn tại sao nó có ba tên thì đành chịu thua. 

Xe đạp dùng trong việc chạy đua thường có cái “ghi đông” (guidon: tay cầm) cong sụp xuống. Xe đạp loại đua nầy còn có tên là xe “cuộc” (course: chạy đua). Ngày xưa, những “tua” (tour: vòng) đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, hay tua Bến Hải - Cà Mau là những cuộc đua nổi tiếng. Ngày nay tua vòng quanh nước Pháp (Tour de France) vẫn rất là hấp dẫn cho giới hâm mộ đua xe đạp.  Ngoài ra dân ta thường hay nói “đi dạo một tua cho khỏe.” 

Các hãng du lịch thường hay tổ chức những “tua du lịch” mà chi phí gồm cả tiền vé phi cơ, tiền khách sạn, tiền ăn v..v... và có cả hướng dẫn viên đi chung rất tiện cho khách du lịch. Cả Anh, Pháp đều dùng chữ “tour” nên chữ “tua” của VN rất là thông dụng.  


Nguyễn Hữu Phước 

Trần Văn Giang (ghi lại)

Giá Của Hoà Bình - Đỗ Công Luận

Mẹօ Trồng Hành Lá Nhɑոh


Đâу là ϲách trồոg hàոh lá tại ոhà đơn giản ոhất mà ϲhị em bận rộn đến mấу ϲũոg ϲó thể làm được.

Hàոh lá là thứ rau giɑ νị ⱪhôոg thể thiếu tɾoոg mỗi ϲăn bếp. Ngoài ᴄôոg dụոg tɾoոg ոấu ăn, hàոh ʟá ϲòn ϲó ոhiều tác Ԁụոg ϲhữa ƀệոh hữu ích. Là loại ɾau “Thạch Sanh” dễ sốոg lại dễ tɾồng, ϲhị em bận rộn đến mấу ϲũոg ϲó thể tự tɾồոg một νài ϲhậu tại ոhà νới cách trồոg hàոh lá đơn giản Ԁưới đây.

Chᴜẩn bị:

– Củ hàոh ⱪhô (củ ⱪhôոg bị hỏng, mốc)


– 5 ⱪhaу giấу đựոg trứng


Cách tɾồոg hàոh Lá tɾoոg ⱪhaу đựոg tɾứng:


Đầu tiên, ҳếp ϲhồոg 5 ⱪhaу đựոg tɾứոg ⱪhít lên ոhau, ở mỗi ô ոhỏ ϲủɑ ⱪhaу đục một ʟỗ ոhỏ để ոước ϲó thể ոgấm đều ϲác ⱪhay.


Saᴜ ⱪhi ҳếp ҳong, đặt νào mỗi ô một ϲủ hàոh ⱪhô, đặt phần gốc hàոh ҳᴜốոg dưới, phần ոgọn mầm hướոg lên trên. Tưới ոước giữɑ ẩm ϲho toàn bộ ⱪhaу tɾứոg đã đặt hành. Đặt ոhữոg ⱪhaу tɾứոg ոàу ở ոơi ɾâm mát, tráոh áոh ոắոg tɾực tiếp ϲhiếu νào.


Tưới ոước ϲho ϲác ⱪhaу tɾứոg hai lần một ոgàу, ոước ոgấm νào ϲác miếոg giấу sẽ tạo môi tɾườոg ẩm để hàոh rɑ ɾễ νà ρhát tɾiển. Sau một thời gian ոgắn, bạn sẽ ϲó ϲả ⱪhaу hàոh tươi tốt ăn mãi ⱪhôոg hết. Lưᴜ ý, ոếu muốn sạch sẽ hơn, bạn ϲó thể lót dưới ϲác ⱪhaу trứոg tấm ոhựɑ hoặc ҳốp để ոước ⱪhi tưới ⱪhôոg tràn ɾɑ ոgoài.


2022-02-13-10-19-54-thumb.png (650×366) (nhatbao.mobi)

Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai - Đỗ Chiêu Đức

Theo U MINH LỤC của Lưu Nghĩa Khánh đời Tống(宋.劉義慶《幽明錄》)chép rằng :

Năm Vĩnh Bình thứ 5 đời Hán Minh Đế (Công nguyên năm 62 ), người đất Diễm ( thuộc tỉnh Chiết Giang hiện nay) là LƯU THẦN và NGUYỄN TRIỆU vào Thiên Mụ sơn để hái thuốc. Thiên Mụ Sơn gồm có Lưu Môn sơn, Tế Tiêm, Đại Tiêm, Phất Vân Tiêm, Ba Tiêu sơn và Liên Hoa Phong quần tụ mà thành, thế núi hiễm trở, phong đỉnh chập chùng, cao nguyên rộng lớn, hoa cỏ rậm rạp xanh tươi, rừng núi bạt ngàn, muôn màu muôn vẻ. Lưu Nguyễn mãi mê hái thuốc, lạc sâu mãi trong rừng hoa thơm cỏ lạ, tới chừng nhìn lại thì trời đã về chiều, bụng lại đói meo. May sao bên triền núi có mấy cây đào mọc theo khe suối, nhằm lúc đào đang chín rộ, bèn hái lấy mấy trái mà ăn đỡ đói, nào ngờ đó là đào tiên, ăn vào ngon ngọt và thơm tho cả mồm miệng, khí lực lại sung mãn, bèn lần theo khe suối mà đi lên, đến một nơi khe nước rộng, trời đất như mở ra một thế giới mới, với hoa thơm cỏ lạ ven bờ, với oanh yến líu lo kêu hót, hai chàng  lấy ly ra để múc nước suối uống, thì thấy bên bờ khe đã đứng sẵn 2 nàng con gái tuyệt đẹp, cười mà rằng : " Hai chàng Lưu Nguyễn sao lại đến muộn thế ? " Bèn thân mật như người quen đã lâu năm, rước 2 chàng cùng về động phủ. Trong động như có trời đất riêng, phòng ốc khang trang tráng lệ, đã thiết bị sẵn 2 phòng hoa chúc, ngọc chuốc vàng treo, mười phần hoa lệ. Tiệc hoa cũng đã bày sẵn , tiên nữ tới lui tấp nập, cùng mời 2 chàng nhập tiệc với đầy đủ sơn hào  hải vị. Xóm đông có các tiên nương cùng mang đến một mâm đào tiên, cười chúc cho hai nàng đã đón được hai chàng rể quí Lưu Nguyễn vừa du nhập Thiên Thai. Tiệc hoa vui vầy, rượu tiên thơm lừng, chưa nhấp đã say, hòa trong tiếng sanh ca hoan lạc, đưa hai chàng cùng vào động phòng với hai tiên nữ  trong tiếng tiên nhạc du dương ngây ngất !...
      
Nhưng chỉ quá mươi ngày sau, Lưu Nguyễn cùng nhớ quê xin về, hai nàng cố cầm giữ lại, được hơn nửa năm, mặc dù bên mình luôn có người đẹp...như tiên, nhưng khi nghe tiếng Tử Qui gọi Xuân thắm thiết, hai chàng càng nghe lòng nhớ quê mãnh liệt hơn lên và nhất định xin về. Hai nàng đành phải buộc lòng đặt tiệc tiễn hành và chỉ lối để hai chàng về quê với biết bao là tình thương quyến luyến, bịn rịn chẳng nở rời xa!...
       
Về đến làng quê, thấy mọi cảnh vật đều đổi khác, tìm không thấy nhà cửa của mình ở đâu nữa. Hỏi thăm trong họ tộc, thì có một cụ già cho biết rằng: Ông Tổ bảy đời của họ đi vào núi hái thuốc rồi lạc mất đường không thấy trở về. Lưu Nguyễn ở trên Thiên Thai nửa năm, nhưng ở dưới núi đã qua đến 7 đời con cháu.  Hỏi ra, thì bấy giờ đã vào năm Thái Nguyên Thứ 8 của đời nhà TẤN rồi ( Công Nguyên năm 388 ) hơn 300 năm sau rồi! Hai người đành qua trở lại Thiên Thai, nhưng đã không còn tìm được đường lên Tiên động nữa!


Trong những bài thơ vịnh về LƯU NGUYỄN LẠC THIÊN THAI, phải kể đến 5 bài trong ĐẠI DU TIÊN THI của TÀO ĐƯỜNG đời Đường là tiêu biểu và nổi tiếng nhất.
Xin được giới thiệu 3 trong số 5 bài thơ đó cùng tác giả TÀO ĐƯỜNG sau đây...    

1. SƠ LƯỢC VỀ TÀO ĐƯỜNG

TÀO ĐƯỜNG 曹唐 tự là Nghiêu Tân, người đất Quế Châu (thuộc Quế Lâm Quảng Châu hiện nay). Không rõ năm sanh và mất. Lúc đầu xuất gia làm Đạo Sĩ, sau ứng thi Tiến Sĩ giữa năm Đại Trung, nhưng không đỗ. Khoảng năm Hàm Phong ( 860-874 ) tùng sự ở Chư Phủ. Tào sống cùng thời với La Ẩn 罗隐, tài thơ ngang nhau, Tào thường truy cứu hâm mộ tình tự cao nhã của các bậc thần tiên, nên sáng tác các thiên "Đại du tiên thi 大游仙 ", "Tiểu du tiên thi 小游仙" gồm 50 thiên, tả lại những nỗi bi hoan ly hợp của chư tiên nhân để phổ biến và truyền lại đời sau. Tào Đường lại rất thường gặp La Ẩn để trao đổi Ý kiến về những bài thơ mà mình mới sáng tác.

Chân dung Tào Đường

 2. Bài 1LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI


劉晨阮肇遊天台 

樹入天台石路新
雲和草靜迥無塵。
煙霞不省生前事,
水木空疑夢後身。
往往雞鳴岩下月,
時時犬吠洞中春。
不知此地歸何處,
須就桃源問主人。

                        曹唐

LƯU THẦN NGUYỄN TRIỆU DU THIÊN THAI 

Thụ nhập thiên thai thạch lộ tân,
Vân hoà thảo tĩnh quýnh vô trần.
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
Thuỷ mộc không nghi mộng hậu thân.
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
Bất tri thử địa quy hà xứ,
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.

                                          TÀO ĐƯỜNG                                               

Dịch nghĩa:

LƯU THẦN NGUYỄN TRIỆU DU NGOẠN THIÊN THAI  

Hàng cây dẫn nhập thiên thai với con đường đá mới, mây hòa quyện lấy cỏ trong thanh tĩnh không vướng chút bụi trần. Khói ráng mông lung như không rõ được truyện của kiếp trước, Suối nước và rừng cây cũng mờ ảo như còn ngờ ngợ thân ta như sau cơn mộng mị. Luôn luôn như nghe được tiếng gà gáy ở mõm đá dưới ánh trăng, và như lúc nào cũng có tiếng chó sủa trong động xuân. Không biết là nơi đây sẽ đưa đến nơi đâu, chỉ còn có nước là tìm chủ nhân của xứ Đào Nguyên nầy mà hỏi!?...

Diễn nôm:


LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI

Cây dẫn nhập Thiên Thai cao vút,
Cỏ mây vương chẳng chút bụi trần,
Yên hà không nhớ tiền thân,
Nước mây luống những bâng khuâng mộng hồn.
Tiếng gà gáy dập dồn trăng tỏa,
Văng vẳng xa chó sủa động xuân,
Đào nguyên dám hỏi chủ nhân,
Rằng đây dẫn lối xa gần Thiên Thai?

Đỗ Chiêu Đức
                                                                  

3. Bài 2: THIÊN THAI TỐNG BIỆT

僊子送劉阮出洞 


殷勤相送出天台,
僊境那能卻再來。
雲液既歸須強飲,
玉書無事莫頻開。
花留洞口應長在,
水到人間定不回。
惆悵溪頭從此別,
碧山明月照蒼苔。

                     曹唐


TIÊN TỬ TỐNG LƯU NGUYỄN XUẤT ĐỘNG

Ân cần tương tống xuất Thiên Thai,
Tiên cảnh na năng khước tái lai.
Vân dịch kí qui tu cưởng ẩm,
Ngọc thơ vô sự mạc tần khai.
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài!

                                       TÀO ĐƯỜNG                                                

Dịch nghĩa:


TIÊN TỬ ĐƯA LƯU NGUYỄN RỜI THIÊN THAI

Ân cần đưa tiễn nhau ra khỏi chốn Thiên Thai, Tiên cảnh biết làm sao còn có thể trở lại đây. Đã quyết định đi về nên phải miễn cưởng mà uống cạn chén rượu tiên đưa tiễn (Vân dịch: tên một loại rượu tiên ). Nếu không có chuyện gì thì không nên thường xuyên mở Ngọc thơ ra xem  (Ngọc Thơ: Sách của Đạo gia tu Tiên). Hoa lưu lại trước cửa động sẽ còn mãi mãi nơi đây, nhưng nước đã chảy về với dân gian thì chắc chắn sẽ không còn quay trở lại được nữa. Bịn rịn mãi ở đầu khe suối nơi mà từ đây đành cách biệt, chỉ còn trơ lại vầng trăng bạc trên đỉnh núi biếc chiếu lên đám rêu xanh!   

Diễn nôm

THIÊN THAI ĐƯA TIỄN

Ân cần tiễn biệt rời tiên động,
Cảnh tiên thôi hi vọng trở về,
Chén đưa luống những não nề,
Ngọc thơ vô sự chẳng hề mở đâu !
Hoa trước động luôn sầu mong nhớ,
Nước xuôi dòng biết thuở nào về,
Chia tay lòng những tái tê,
Rêu xanh núi biếc trăng thề luyến lưu !

Đỗ Chiêu Đức 
                                                         

4. BÀI 3 :   TÁI ĐÁO THIÊN THAI 

Tạo dáng trong phim và tượng của NGỌC CHÂN CÔNG CHÚA 


劉阮再到天台不復見仙子

 

再到天台訪玉真,
青苔白石已成塵。
笙歌寂寞閑深洞,
雲鶴蕭條絕舊鄰。
草樹總非前度色

煙霞不似往年春。

桃花流水依然在,                   

不見當時勸酒人。

                       曹唐     


LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO THIÊN THAI BẤT PHỤC KIẾN TIÊN TỬ

Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân,
Thanh đài bạch thạch dĩ thành trần.
Sanh ca tịch mịch nhàn thâm động,
Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
Yên hà bất tự vãng niên xuân.
Đào hoa lưu thuỷ y nhiên tại,
Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân.

TÀO ĐƯỜNG


Dịch nghĩa:

TRỞ LẠI THIÊN THAI KHÔNG GẶP ĐƯỢC TIÊN NỮ

Trở lại Thiên Thai để tìm gặp Tiên nương (Ngọc Chân  chỉ chung phái nữ tu thành tiên ). Chỉ thấy rêu xanh và đá trắng đều hóa thành tro bụi cả rồi. Trong động sâu đã vắng vẻ không còn tiếng sanh ca như ngày nào, hàng xóm cũng vắng tanh tiêu điều như mây hạc bay xa. Cỏ cây hoa lá không còn vẻ hương sắc của ngày xưa, yên hà mây khói cũng không còn nhuốm sắc tươi như mùa Xuân cũ. Hoa đào nước cuốn cũng vẫn còn đó như trước kia, chỉ có người chuốc rượu đưa tiễn năm xưa thì không còn tìm đâu thấy nữa! 

*. NGỌC CHÂN : là Công Chúa Ngọc Chân 玉真公主, tên là LÝ TRÌ DOANH 李持盈 ( 692-762 ), cháu nội của Võ Tắc Thiên đời Đường. Theo Đạo Giáo xuất gia làm đạo cô, lấy hiệu là HUYỀN HUYỀN, đắc đạo thành tiên, nên thường dùng để chỉ chung cho các nàng tiên nữ.

 

Diễn Nôm

Trở Lại Thiên Thai


Quay trở lại Thiên Thai chốn cũ,
Đá rêu xanh đã phủ bụi trần,
Sanh ca vắng vẻ động xuân,
Tiêu điều mây hạc xóm gần làng xa.
Cỏ cây cũng nhạt nhòa hương sắc,
Yên hà như cũng nhắc xuân thừa,
Hoa đào nước cuốn như xưa,
Đâu người chuốc rượu tiễn đưa dạo nào !?

               Đỗ Chiêu Đức                       

Thời Gian Đã Mất - Minh Lương

Wednesday, March 2, 2022

Bà Mẹ Tây - Nguyễn Cát Thịnh


– Gió đông gió tây, gió nào đã đưa cậu tới đây?

– Chẳng có gió đông, chẳng có gió tây, chỉ có “gió chướng” thôi. Gió chướng đã mang tôi tới đây để gặp tên bạn “khỉ gió” thuở còn tắm truồng đấy!

– Cậu lúc nào cũng ăn nói “khó tiêu”. Dễ có trên ba chục năm không gặp cậu. Thú thật đi, có phải cậu đến đây để thăm bà bé không? Tôi không mách bà xã cậu đâu. Đừng lo.

– Cậu đoán đúng mới có một nửa. Đúng, tôi vừa đi thăm viếng một người đàn bà.

– Ai thế ? Tôi có biết người đó không ?

– Có thể cậu biết. Bà mẹ tôi ấy mà.

– Cậu không đùa đấy chứ. Mẹ cậu đã mất ở Việt Nam. Tôi cùng bạn bè đã gửi lời chia buồn từ ngày nảo ngày nào rồi. Hay là mẹ của mẹ bầy trẻ? Nhưng mà bà xã của cậu mồ côi mẹ mà!

– Không, bà mẹ nuôi, bà Steinberg mà tôi đã có lần nói với cậu khi mới tới thành phố này đó. Nhớ không? Đây là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ. Tôi ở bên bà suốt buổi sáng nay rồi đi ăn trưa với lão luật sư già của bả.

– Nhớ, nhưng tôi chưa hề nghe nói cậu là con nuôi của bà triệu phú từ tâm này. Ê, đừng thấy sang bắt quàng làm họ nhé. Khi cậu rời khỏi nơi đây thì bả cũng đã qua đời. Tôi nhớ rất rõ.

– Hồi đó tụi mình chưa an cư nên tuy ở gần mà như nghìn trùng xa cách, chả mấy khi được ngồi tâm sự như bây giờ nên cậu không biết. Chuyện dài lắm, tôi sẽ kể cho cậu nghe. Bây giờ tụi mình đi kiếm cái gì lót dạ đã.

Buổi tối hôm đó, đôi bạn tri kỷ đối ẩm, nói chuyện “cổ tích”.

*
Năm tôi đến đất nước này, chu kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu. Việc làm hiếm hoi, nhưng chính phủ vẫn mở rộng vòng tay nhân ái tiếp nhận người tị nạn. Cậu có bà xã giỏi giang, đi làm nuôi chồng con. Cậu chỉ lo nội trợ, đưa đón con cái đi học, có thì giờ rộng rãi dồi mài kinh sử. Còn tôi, độc thân tại chỗ, vợ con còn kẹt lại Việt Nam, một cảnh hai quê. Vừa mong mau chóng ổn định cuộc sống vừa mong đủ điều kiện tài chánh bảo lãnh gia đình.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày phải đi ăn mày chính phủ Gia Nã Đại. Mỗi tuần sắp hàng ngửa tay nhận chi phiếu bảy chục đô la, rồi còn bị cô thư ký người Việt nói xỏ xiên, thúc giục tìm việc. Tôi đã cảm nhận tất cả ê chề nhục nhã của kiếp tha hương.

Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học Việt Nam. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa Dược.

Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn.

Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng… Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, “J.D. Steinberg” được vinh danh trên bảng đồng.

Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi…v…v… Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái “donut” ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không?

Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa.

Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này.

Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm.

Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu.

Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở Việt Nam và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác Sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội.

Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi.

Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và Bác Sĩ John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quý.

*
Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, xem Bác Sĩ Albert Schweitzer là thần tượng. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi Châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

Sau khi tốt nghiệp Y Khoa McGill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại Bệnh Viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y Sĩ Đại Úy John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

*
Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá Việt Nam tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, Y Tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh “Công Ngủ” thành “Công Không Ngủ”.

Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại “Công Không Ngủ”. Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc Tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

*
Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác Sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên “Công Không Ngủ” nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi.

Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến “Công Không Ngủ”, hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của Bác Sĩ Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs. Steinberg…

Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái “donut” mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó.

Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà.

Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời…, mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi…. Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về…. Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ…. Mẹ nhớ…Mẹ nhớ…. Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học…. Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con… đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con.

Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, “THẰNG TẦU CON CỦA MẸ”. Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ!

Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức…Mẹ, Mẹ… rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu Châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp.

Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

*
Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật.

Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư.

Di chúc chính thức quy định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. “Định mệnh đã an bài”, không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.

*
– Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

– Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền…lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến.

Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

– Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ ĐẦM… có con là “thằng Tầu con”.

Nguyễn Cát Thịnh

Hoài Mong - Hàn Thiên Lương

Tuesday, March 1, 2022

Tâm Lý Cuồng Nga - Dương Quốc Chính


Người Việt chúng ta, từng bao gồm cả mình, đặc biệt là dân miền Bắc, hầu hết đều có 1 tình yêu nồng nàn với nước Nga và LX. Như thế hệ 7x bọn mình chẳng hạn, từ thời học sinh đã mơ ước được tới LX, được du học ở Nga...Với dân Việt Nam hồi 198x về trước thì LX chính là thiên đường. Học sinh toàn lấy họa báo LX để bọc vở. Hồi đó họ đã in đẹp ngang tạp chí Thời trang bây giờ, toàn những hình ảnh ở thiên đường XHCN.

Trí thức miền Bắc hồi đó, trừ số ít người do Pháp đào tạo, thì 100% là du học ở LX hoặc Đông Âu về, mà Đông Âu lúc đó cũng là cái bóng của Nga, nên sự ảnh hưởng bởi văn hóa Nga là rất khủng khiếp. Những tiểu thuyết đầu tiên của mình đọc cũng đều là tiểu thuyết kinh điển của LX thời đó như: 17 khoảnh khắc mùa xuân, Và nơi đây bình minh yên tĩnh - Tên anh chưa có trong danh sách, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, Chiến tranh và Hòa bình, Thép đã tôi thế đấy...Và còn nhiều, rất nhiều.

Giai đoạn 8x, LX thay thế Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam từ cái kim sợi chỉ, nên hồi đó người ta luận chữ viết tắt LX bằng tiếng Nga CCCP là các chú cứ phá, tội vạ đâu LX chịu! Đấy là chưa kể LX sát cánh cùng Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. 

Vì thế, trong sâu thẳm của con người XHCN miền Bắc thì LX là người cha, người anh cả, sẵn sàng xả thân vì em dại, hi sinh tất cả vì đàn em XHCN. Việt Nam có 2 đồng minh TUYỆT ĐỐI tin cậy lúc đó là LX và Cuba. Trung Quốc giai đoạn 8x thì biến thành kẻ thù rồi chứ nếu giai đoạn 5x-7x, nhất là thời CT HCM còn sống thì Trung Quốc còn có vai trò hơn cả LX.

Đến năm 1989, Đông Âu sụp đổ, rồi năm 91 cụ LX đi gặp Lenin, người Việt Nam bị sốc, trở nên bơ vơ không nơi nương tựa, nhất là trước đó bị Gorbachev hờ hững, cắt giảm viện trợ cũng chả khác gì Mỹ cắt viện trợ cho VNCH. 

Qua hệ thống tuyên truyền, đa số dân Việt Nam, có lẽ bây giờ cũng phải 70% dân Việt Nam, tin rằng LX sụp đổ là tại thằng Gorbachev nó nghịch dại, nó làm tay sai cho Mỹ phá hoại hệ thống XHCN. Họ đâu biết được rằng LX lúc đó là 1 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, Gorbachev đem mổ banh ra mà xạ trị, nên chết nhanh hơn chút thôi. Tại sao LX lại bị ung thư thì đảm bảo 90% dân Việt Nam bây giờ vẫn không biết!

Chính vì người ta nghĩ là LX chết oan và với tình cảm sâu nặng như đã viết bên trên, nên tỷ lệ dân Việt Nam còn hoài niệm về LX là rất, rất cao. Mình cho là hầu hết thế hệ sinh những năm 5x-7x ở miền Bắc đều có hoài niệm ít nhiều. Tiếp đó là con cháu họ, nhất là những cháu được ăn lộc triều đình, nói chung là tâm lý chịu ơn. Có LX thì mới có chúng ta ngày nay. 

Trong QĐ, CA thì bất chấp tuổi tác, mình nghĩ cũng phải 99% là cuồng LX, vì vũ khí, khí tài của họ hầu hết là của LX và sau này là Nga.

Sau khi LX sụp đổ, nước Nga được quyền kế tục các quyền lợi và trách nhiệm của LX, nhưng họ mất hàng chục năm hỗn loạn dưới thời Yeltsin, 1 người thân phương Tây. Người Việt lại tiếp tục chìm trong thất vọng. Đến khi Putin lên thay Yeltsin, 1 phần vì giá dầu tăng cao gấp nhiều lần (5 lần gì đó), Putin đã vực dậy nước Nga với bàn tay sắt. Nước Nga dưới sự lãnh đạo của Putin dường như đã lấy lại được phần nào hào quang thời LX, hoàn toàn tương phản với thời Yeltsin. Người dân Việt Nam trở nên hồ hởi, vui mừng cho nước Nga. Bởi họ coi rằng Nga chính là hậu thân của Liên bang Xô viết. Vinh quang của nước Nga chính là sự hiện hồn của LX! Thế là họ (nhóm người kể trên) cắm đầu cuồng Nga. Họ bênh vực nước Nga vô điều kiện, giống như bênh vực tổ tiên mình vậy. Cũng là điều dễ hiểu và có thể thông cảm. Tẩy não không bao giờ là điều đơn giản.

Tại sao lại có người tẩy não được?

Lấy mình làm ví dụ thôi. Rõ ràng mình cũng có nền tảng của trí thức XHCN ở miền Bắc, mình cũng bị nhồi sọ y như các đồng chí khác. Có điều khác là mình chịu khó hóng đài địch, đọc sách báo đa chiều thôi. Đầu tiên là giai đoạn nghe đài địch, mình biết LX không phải là 1 đàn anh không tì vết. Chế độ CS đã có rất nhiều sai lầm, Stalin đã ra lệnh tấn công Phần Lan, nhưng không chiếm được, ngay trước khi Đức tấn công LX. LX và Đức ký hiệp định bất tương xâm để xẻ thịt Ba Lan, sau đó Stalin đã đạo diễn vụ thảm sát Katyn để tiêu diệt giới tinh hoa Ba Lan...

Stalin cũng gây nên nạn đói do ép buộc nông dân vào nông trang tập thể làm chết 5 triệu người, trong đó có 4 triệu dân Ukraine, gọi là Holodomor (diệt chủng bằng nạn đói). Stalin đã dùng cách đó để triệt hạ phong trào dân tộc của người Ukraine, cũng là cách để đưa dân Nga tới Ukraine sống (nhiều như ngày nay).

 -----------

 "Tại Ukraina, một loạt các chỉ thị trấn áp đã gây ra « nạn đói trong nạn đói, một thảm họa dành riêng cho người Ukraina ». Đó là danh sách đen các làng và nông trang cần phải trừng phạt vì không đạt chỉ tiêu về ngũ cốc, tịch thu tất cả những thứ gì có thể ăn được, kiểm soát biên giới không cho những người nông dân đói khổ ra khỏi làng…

Song song đó, là một chiến dịch đàn áp trí thức Ukraina : giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ, linh mục bị vu khống, đày ải, tàn sát, nhằm hủy hoại từ gốc rễ mọi ý định dân tộc vừa chớm nở - bị coi là thách thức cho sự « đoàn kết » của Liên bang Xô viết, được Stalin tưởng tượng ra.

« Diệt chủng bằng nạn đói » hoàn toàn bị che giấu trong thời Liên Xô cũ : về mặt chính thức, thì không hề có nạn đói. Các tài liệu lưu trữ bị hủy một cách có phương pháp, gây khó khăn cho mọi nghiên cứu về chủ đề này, ngoài những nhân chứng còn sống sót. Sau khi Liên Xô sụp đổ, người dân bắt đầu lên tiếng và các bằng chứng xuất hiện."

(trích từ RFI)


Đó là lý do tại sao người Ba Lan và Tây Ukraine đã theo Đức Quốc xã để tấn công LX. Nó bắt nguồn từ mối thù sâu sắc như vậy mà đảm bảo đa số người Việt XHCN không được biết. Người ta chỉ thấy LX và sau này là Nga với trang sử long lanh, sạch sẽ, hào hùng. 

Có thể nhiều người cho rằng LX không phải là Nga, nhưng mọi người cần nhớ rằng LX chưa bao giờ là 1 liên bang đúng nghĩa, khi các nước được bình đẳng như USA, LX bản chất là 1 đế quốc với sự thống trị của người Nga, văn hóa Nga, cho dù TBT đảng CS LX có là người nước nào cũng vậy.

Kể cả giai đoạn Khrushchev (người Ukraine) nắm quyền, dù ông ta có cắt đất Crimea từ Nga về Ukraine, thì ông ta vẫn hành động dựa trên quyền lợi của LX, chứ chả nhằm mục đích ưu ái Ukraine gì hết. Tương tự vậy với Stalin, 1 người gốc Gruzia, ông ta hành động vì sự chuyên chế của LX, vì quyền lợi chung mà nước Nga chiếm đa số, chứ không phải vì quê hương ông ta. Nhiều người có thể khó hiểu chỗ này, cần biết rằng dưới chế độ CS thời đó thì tính giai cấp nó đè bẹp tính dân tộc.

Đến thời nay, Putin lại giương cao ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa, ông ta đang dùng chiêu bài của Hitler, đó là lợi dụng sự bất mãn của người Nga sau khi LX sụp đổ, để thổi phồng tinh thần Đại Nga, muốn khôi phục lại vinh quang thời Sa hoàng Piotr đại đế. Hitler cũng dùng bài tương tự để nắm quyền khi dân Đức bất mãn do thua trận thế chiến 1, phải bồi thường chiến phí nặng nề, bị phe thắng trận hạ nhục. Putin đang cho là Ukraine là phát xít mới nhưng thực ra chính ông ta mới đang biến Nga thành phát xít mới với triệu chứng y chang Đức quốc xã trước thềm thế chiến 2. 

Nếu phương Tây không có những đáp trả đích đáng thì Putin dám leo thang chiến tranh, có thể chiếm luôn Ukraine và Ba Lan, 3 nước Baltic, thậm chí là Phần Lan cũng sẽ vào tầm ngắm, vì họ cũng có thời gian dài thuộc về Nga và/hoặc LX.

Tóm lại, người Việt Nam XHCN, CP Việt Nam luôn xác định Nga chính là LX, chịu ơn LX là chịu ơn Nga. Hơn nữa, CP Ukraine hiện tại hình thành nhờ CM màu, đó là điều mà Việt Nam và Trung Quốc không thể chấp nhận, vì thế nên Việt Nam không coi CP Ukraine là đồng minh tin cậy được, dù rằng Ukraine cũng chính là người anh thứ 2 chỉ sau Nga trong đế chế LX trước đây. Có lẽ Việt Nam đang coi người anh Ukraine đã chết rồi, thay bởi thằng lạc loài hiện nay, nên không cần chịu ơn nữa! 

Mình cho rằng hầu hết anh em cuồng Nga ủng hộ Putin xâm lược Ukraine đều có diễn biến tâm lý như trên, đại khái là tâm lý chịu ơn dưới não trạng bị nhồi sọ lâu năm, chỉ thấy hào quang mà không thấy mặt tối, thế nên mới sinh cuồng, mất hết cả lý trí. Với anh em này, nếu hỏi CS sai chỗ nào, LX tại sao mà sụp đổ, đảm bảo là ngọng cả chủ lẫn tớ. Với tâm lý cuồng Nga đó, họ quên tịt mất rằng Việt Nam ta cũng có vai trò giống như Ukraine. Thân phận nhược tiểu dễ bị hấp diêm lại đi bênh vực kẻ thủ ác đang hấp diêm kẻ như mình. Kể ra bênh Nga mà Nga bán rẻ dầu cho thì còn chấp nhận được. Đây đến vaccine Sputnik đểu mà nó thí cho có 1 tý, thua xa thằng Mỹ.

Thật là éo le cho não trạng anh em. Gọi là...à, mà thôi, thì lại tự ái.

 

Dương Quốc Chính

Tháng Ba Về Đến - Đỗ Công Luận

Mười Thứ Dù Có Gia Tài Bạc Triệu Cũng Không Mua Được


Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

    Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

    1. KHOẺ MẠNH
    Đạt Lai Lạt Ma:
    Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

    2. TÌNH THƯƠNG 
    Tagore:
    Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

    3. NIỀM VUI
    Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:
    Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

    4. CHÍNH TRỰC
    Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
    Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

    5. TÔN TRỌNG
    Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
    Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu.
    Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

    6. NỘI TÂM THANH TĨNH
    Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
    Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

    7. ĐẠO ĐỨC
    Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
    Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

    8. GIÁO DỤC
    Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
    Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

    9. TRÍ TUỆ
    Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
    Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

    10. GIÁC NGỘ TÂM LINH
    Người vô danh:
    Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
  
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

Nguồn: http://www.memaria.org/