Wednesday, July 29, 2015

Còn Bao Nhiêu Năm Tháng Nữa?

 

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

(trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ...ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !) 
Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.
Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.
Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Các con vô tình thì có thể sẽ tranh dành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.
Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ... Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn...

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn "được". 
Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.
Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn BẠN BÈ .nữa.. họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình... không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Sưu tầm

Khóc Cười - Đỗ Công Luận

Tuesday, July 28, 2015

Ba Tôi, Người Đánh Máy Mướn - Ðoàn Xuân Thu


Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!
Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.

Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dễ thở của các công chức bậc trung.
Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!
Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!

Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.
Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.

Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên.
Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.

Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai.
Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.
Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.

Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!

Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?

Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!
Rồi khi thi đậu Tú Tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!

Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?

Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?

Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”.
Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!
Sau nầy vào Đại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhứt Cấp ‘quèn’ mà thôi?!

****

Rồi 75 đến, nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.
Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?
Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”.

Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi!
Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.

Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?!
Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn Công An, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!

Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
  
Ðọc sử thế giới, tôi nhớ rằng Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại.
Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva.
Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!
Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau.
Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm Cộng Sản.
Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế!
Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”
****
Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy do anh Hoàng Định Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây!
Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.
Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp.
Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!
Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne                                           

Cuộc Đời - Đỗ Công Luận

30 Địa Điểm Kỳ Ảo Bạn Không Nghĩ Có Tồn Tại Trên Trái Đất


Khi nhìn vào những bức ảnh này, có thể bạn sẽ nghĩ rằng đây là những nơi không có thật, dùng photoshop hoặc ít ra là không có trên hành tinh này.
Vẻ đẹp của thiên nhiên vẫn không ngừng làm chúng ta phải thán phục. Và nhiều nơi trong số đó vẫn lạ lẫm với nhiều người. Những nơi kì ảo dưới đây dường như quá xa lạ, nhưng chúng thực sự có tồn tại trên Trái Đất, như hang phát sáng, những tạo hình đá sặc sỡ, cây với hình dạng ngoài hành tinh, và hồ nước màu hồng…
Ngắm nhìn những cảnh đẹp này làm cho ta muốn khám phá nhiều hơn sự bao la phong phú của Trái Đất.


Hang đom đóm, New Zealand (Ảnh: waitomo.com)



Thiên Tử Sơn, Trung Quốc (Ảnh: Richard Janecki)                 

Mạch nước phun Fly Geyser, Nevada, Mỹ (Ảnh: Inge Johnsson)



Pamukkale, trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nghĩa là “lâu đài bông” một địa điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng (Ảnh: Ahmet Sahin)


Băng đẹp như ngọc bích trên hồ Baikal, Nga (Ảnh: Alexey Trofimov)

Công viên địa chất quốc gia Trương Dịch Đan Hà, Cam Túc, Trung Quốc. Phải mất khoảng 25 triệu năm để sa thạch và chất khoáng lắng đọng và bị bào mòn thì mới có thể tạo ra hiệu ứng đẹp mắt này. (Ảnh: Unbelievable Info)


Núi Roraima, Venezuela. Đây là cột mốc giáp ranh giữa 3 nước Venezuela, Brazil và Guyana (Ảnh: Gustavo Alvarez)



Hang Sơn Đoòng, Việt Nam (Ảnh: National Geographic)



Giants Causeway (đường đắp khổng lồ) ở Bắc Ireland (Ảnh: Greg Sinclair)

Cây huyết rồng ở Socotra, Yemen (Ảnh: Csilla Zelko)



Bãi biển phát sáng tại Maldives (Ảnh: Will Ho)



Hồ đa sắc Grand Prismatic Spring, Wyoming, Mỹ (Ảnh: Heirun Homburg)



Hang động ở Algarve, Bồ Đào Nha (Ảnh: Bruno Carlos)
Hang pha lê ở mỏ Naica, Mexico với những cột thạch cao to hơn người nhiều lần (Ảnh: Nicole Denise)


Khe núi Antelope, Mỹ (Ảnh: Wikipedia)


“Thế giới gương” Salar De Uyuni, Cao nguyên Altiplano, Bolivia (Ảnh: Takaki Watanabe)

Bờ biển đỏ, Bàn Cẩm, Trung Quốc (Ảnh: Mjia)



Hồ Abraham, Canada (Ảnh: Emmanuel Coupe)


Núi lửa Dallol, Ethiopia (Ảnh: Victoria Rogotneva)


Những gò đất sặc sỡ, công viên quốc gia núi lửa Lassen, Mỹ (Ảnh: Lou Lu)


Sa mạc Namib, Namibia (Ảnh: Martin Bailey)



Hang băng gần núi lửa Mutnovsky, Nga (Ảnh: Denis Budko)




Hồ Retba, Senegal


 Hang băng ở Iceland (Ảnh: Julien Ratel)
Hồ đốm (Spotted Lake), Canada



Cổng địa ngục, Derweze, Turkmenistan (Ảnh: Thien Bui)



Hồ Hillier, Australia (Ảnh: Ockert Le Roux)


Hồ Natron, Tanzania



Hang băng ở Oregon, Mỹ (Ảnh: Nagest Mahadev)




Sông băng Skaftafell, Iceland (Ảnh: Martin Bailey)

Vần Thơ Mến Gửi Phương Xa - Trầm Vân

Cho người em gái bên trời Âu

Cẩn Trọng


Người xưa thường nói, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Khi đói muốn rã ruột mà bỗng nhiên có ai cho hay tìm được chút thức ăn thì bạn có thể thốt lên rằng, “Thật không có hạnh phúc nào bằng!”. Bạn sẽ ăn miếng thức ăn ấy một cách cẩn trọng, chân thành, cảm nhận rõ rệt hương vị và giá trị của nó, và chỉ có bạn và nó trong giây phút đó.

Không thể đem sự hấp dẫn của tiền bạc, quyền lực, hay tình yêu ra so sánh với cảm giác ấy được, vì mỗi thứ trên đời này chỉ có giá trị hữu dụng trong từng hoàn cảnh. Cũng như khi no bụng thì một mâm cỗ đầy ắp những món cao lương mỹ vị sẽ không mang lại ý nghĩa gì cả, nếu có, nó chỉ làm thỏa mãn các giác quan hay lòng tham, chứ nó không đem lại cái cảm giác tuyệt trần như khi đang đói thực sự. Người xưa so sánh hai cảm giác ấy ngang bằng nhau là để nhắc nhở chúng ta phải biết trân quý những điều kiện ít ỏi mà mình đang có, nhưng nếu xét về mặt hưởng thụ đúng nghĩa thì khi thiếu thốn mà có được chút ít vẫn làm cho con người hạnh phúc sâu sắc hơn là khi đủ đầy mà có thêm.

Như vậy bí quyết ăn ngon chính là để bụng đói rồi mới ăn, và đây cũng chính là bí quyết sống hạnh phúc. Thay vì tích góp thật nhiều tiện nghi theo mốt chung của xã hội “càng nhiều càng tốt” thì bạn phải luôn đặt mình vào tình trạng “thiếu thốn một chút”. Thí dụ bạn chỉ có năm bảy bộ quần áo thôi thì chắc chắn khi mặc bộ nào là bạn sẽ nâng niu bộ đó, xem quần áo như là người bạn thân thiết của mình, thay vì có tới năm bảy chục bộ mà bạn chẳng nhớ nổi mặt mũi và xuất xứ của chúng. Tình cảm cũng vậy. Nếu người kia không biết cách tiết chế cảm xúc yêu thích mà bạn cũng không đủ can đảm giới hạn sự đón nhận, thì chắc chắn sự nhàm chán và khinh lờn trong bạn sẽ xảy ra.

Bạn vẫn còn “nướng” thời gian trong những việc làm hết sức vô bổ là tại vì bạn có suy nghĩ rằng đời bạn còn dài lắm. Có lẽ là bạn tưởng mình sẽ sống tới hai ba trăm năm lận, nên giờ này bạn vẫn còn ham chơi, tha hồ tàn phá tuổi trẻ, tha hồ giận hờn, tha hồ hơn thua nhau, tha hồ đuổi theo những giấc mộng xa vời... Chắc là phải đợi đến khi bác sĩ “tuyên án” là bạn chỉ còn có vài tháng hay vài tuần nữa để sống thôi, thì may ra bạn mới chịu quay về nắm lấy sự sống. Như vậy là vẫn còn may, chứ có rất nhiều người chẳng còn kịp thở hay nhìn thấy mặt người thương trước phút từ biệt cõi này nữa kìa.

Bạn nói rằng bạn đang làm tất cả là để có được cuộc sống sung túc và an ổn? Nhìn kỹ lại xem. Có lẽ “sung túc” không bao giờ đi chung với “an ổn”, và dường như càng “sung túc” là càng mất “an ổn”. Nhưng, có được một cuộc sống sung túc thì sao, đó có phải là giá trị cao đẹp nhất của đời người không? Bạn cũng biết cái cảm giác khi sắm được món đồ yêu thích, khi mua được chiếc xe đời mới, hay khi sở hữu được căn hộ đắt tiền rồi đó: sung sướng đến rơi nước mắt, đến quên ăn bỏ ngủ. Thế mà bây giờ bạn chẳng có cảm giác gì đối với những thứ đó nữa hết. Thấy cũng bình thường. Vậy dựa vào đâu mà bạn tin rằng khi có được một cuộc sống sung túc hơn là bạn sẽ có hạnh phúc? Thực ra ý niệm về sự sung túc cũng mơ hồ lắm, cứ chạy đua theo kẻ khác mãi thì chẳng biết thế nào mới gọi là sung túc. Và khi sung túc rồi bạn có chắc là sẽ ngồi yên đó để tận hưởng không?

Bạn chỉ biết làm, chỉ có tài đem về đủ thứ tiện nghi, nhưng bạn lại không biết hưởng, không có khả năng thưởng thức những gì mình đã tạo ra. Bạn bỏ ra hai ba giờ đồng hồ để nấu một món ăn cầu kỳ, hấp dẫn, vậy mà bạn lại không thể bỏ ra nửa giờ để đem hết sự chú tâm vào việc thưởng thức món ăn. Bạn bỏ ra năm bảy năm trời để chinh phục một người, vậy mà bạn lại than không có thời gian để ăn cơm chung hay chia sẻ những niềm vui sâu sắc của người ấy. Bạn đang bị cái gì vậy? Bạn có đang thực sự sống không?

Bây giờ mà bạn vẫn chưa biết được thế nào là hạnh phúc, thì cố gắng thêm mười năm hay vài chục năm nữa cũng vậy thôi. Bạn có thể có thêm điều kiện của hạnh phúc, nhưng bạn lại không thể nhận ra và không thể tận hưởng chúng. Cho nên vấn đề là ở nơi bạn, nơi nhận thức và thái độ sống của bạn, chứ không phải là phải chờ đợi thêm cái gì nữa ở bên ngoài. Chỉ khi nào bạn tỉnh ngộ rằng, hạnh phúc là khi tâm hồn bình yên, không còn lo lắng hay bị áp lực vì sự mong cầu, chấp nhận hết những gì đang xảy ra trong hiện tại - trong bạn và xung quanh bạn, thì bạn mới có đủ năng lực và ý chí để nâng niu sự sống.

Khi nào mới chịu tỉnh ngộ, hở bạn? Hay là cứ để cho bạn thỏa mãn với bản năng ham muốn chứng tỏ này nọ của tuổi trẻ, để cho bạn nếm trải thêm những cú thăng trầm nghiệt ngã trong trường đời, để cho bạn chạm trán đôi lần với lằn ranh của còn - mất hay sống - chết, nói như cụ Nguyễn Du “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, thì tự động bạn sẽ quay về tìm lẽ sống chân thật cho đời mình? Nhưng, liệu còn kịp nữa không?

Suy ngẫm thêm đi bạn. Trước khi tìm ra được quyết định đúng đắn cho khúc quanh lớn của cuộc đời, bạn hãy thử đặt mình vào tình trạng “chỉ còn một ngày để sống” để dồn hết năng lượng vào việc nắm bắt từng phút giây của sự sống, để bạn cảm nhận thế giới mà bạn đang sống đích thực là gì khi bạn đã lấy hết những lo lắng muộn phiền của mình ra. Hoặc, bạn hãy tưởng tượng mình là du khách từ hành tinh khác đến viếng thăm xứ sở này, nên bạn sẽ nhìn mọi thứ bằng con mắt tinh khôi, khám phá, và đầy thưởng thức.

Bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt thường ngày như là khi uống trà. Bạn hãy cảm nhận lòng bàn tay và các ngón tay của bạn đang chạm vào tách trà còn nóng hổi, cảm nhận hương trà thơm lừng đang bốc lên, cảm nhận từng ngụm trà có vị vừa chát vừa ngọt đang thấm vào cổ họng, cảm nhận sự tươi tỉnh đang diễn ra trong đầu bạn. Trong khi ngồi uống trà, bạn cũng nhớ thư giãn và giữ nụ cười hàm tiếu. Lỡ thói quen gấp gáp hay lo lắng chồm dậy, hãy vỗ về nó: “Thôi mà, để cho ta tự do uống trà một chút đi”, rồi tiếp tục ghi nhận hết những gì đang diễn ra trên thân bạn và xung quanh bạn.

Còn với một người được ăn lần đầu cũng như lần cuối thì sao? Bạn có nhớ hồi nhỏ, mỗi khi ăn cà-rem, thì một tay cầm cây cà-rem còn một tay để ngửa ở phía dưới để hứng những giọt cà-rem rớt xuống. Rồi bạn liếm sạch những giọt cà-rem ngọt ngào và quý giá đó chứ không bỏ phí. Đó là một trong những giây phút tuyệt trần của sự sống mà không dễ gì tìm lại được sau này, dù bạn có ngồi ăn trong những nhà hàng sang trọng bậc nhất.

Thực ra, bạn vẫn có thể tái hiện cảnh ấy mỗi ngày bằng sự luyện tập sống chậm và sống kỹ. Như khi ngồi xuống ăn, bạn đừng nên nói chuyện. Đừng theo thói quen cố tạo ra không khí vui vẻ bằng những câu chuyện vớ vẩn, để rồi bạn và người bên cạnh vô tình dắt nhau đi về quá khứ hay tương lai mà quên mất cái hạnh phúc được ăn. Nếu có việc cần thiết phải chia sẻ thì cũng nên thực tập im lặng ít nhất trong mười lăm phút đầu. Tuy im lặng nhưng vẫn có thể nhìn nhau, mỉm cười, và thư giãn. Để sự thực tập này diễn ra tốt đẹp, bạn cần phải cho người kia biết trước và hướng dẫn qua cách thức. Tất nhiên là phải tắt ti-vi và cả điện thoại để chỉ tập trung vào mỗi việc ăn và chỉ có ăn mà thôi.

Tiếp tục nuôi dưỡng tâm tỉnh thức bằng cách để ý đến chuỗi động tác đưa tay đến gắp thức ăn, từ từ đưa thức ăn vào miệng, rồi khẽ khàng đặt đũa hay muỗng xuống. Nên nhai khoảng 40 đến 50 lần rồi mới nuốt, như vậy vừa giúp thức ăn dễ tiêu hóa vừa giúp bạn cảm nhận rõ rệt hương vị của từng món ăn đã được làm rất công phu. Trong khi nhai vẫn nhớ thả lỏng toàn thân, nếu cần, cũng nên nhắm mắt lại cho dễ tập trung vào việc nhai mà không để cho tâm suy nghĩ vu vơ hay cuốn theo ý niệm khen chê.

Bạn cũng có thể đem sự thực tập “cẩn trọng trong từng động tác” này vào những sinh hoạt khác như khi đi bộ quanh nhà hay trong văn phòng, khi mở vòi nước, khi đóng cửa, khi đặt tách cà-phê xuống, khi nhắn tin hay viết email, khi trò chuyện với bất cứ ai, khi đưa ra một quyết định dù rất nhỏ… Không khó đâu! Chỉ cần cố gắng luôn tự nhắc nhở, “Ta đang làm gì đây (hay tiếp xúc với ai đây)?” thì tự động tâm bạn sẽ quay về hiện tại và nhận biết rõ ràng trở lại. Để sự nhận biết sâu sắc hơn, bạn hãy tự hỏi thêm, “Ta đang làm việc (hay tiếp xúc với đối tượng) ấy một cách cẩn trọng hay hời hợt?”, hoặc “Việc ta đang làm (hay đối tượng ta đang tiếp xúc) như thế nào rồi?”.

Chỉ cần có sự tỉnh thức thôi, còn việc đang làm hay đối tượng đang tiếp xúc có như thế nào cũng được (nếu điều ấy thực sự cần thiết thì sẽ tính sau). Dưới ánh sáng tỉnh thức, bạn sẽ biết rõ mình đang làm gì, đang đi đâu và về đâu. Và rồi bạn sẽ tự vén lên những bức màn bí ẩn của thân phận và cuộc sống bằng chính năng lực tỉnh thức của mình.

(sưu tầm trong sách Thiền) 

Monday, July 27, 2015

You Are ABCDEF...


After 15 years of marriage the wife asked her husband to describe her.
The husband looked at her slowly and without blinking an eye, said, "ABCDEFGHIJK."

"What does that mean?" She asked.
"Adorable, Beautiful, Cute, Delightful, Elegant, Fashionable, Gorgeous and Hot!!!" he replied.
Wife Smiling asked, "So sweet of you honey. What about IJK?"
He replied, "I'm Just Kidding! 

Ngươi Còn Đó, Ta Còn Đây - Sương Lam

Yêu Thương - Trầm Vân


Cuộc Trùng Phùng - Phạm Băng Băng - Tô Hữu Bằng

Phim tình cảm có liên quan tới xã hội đen nhưng không "đen" lắm. Rất hay rất cảm động!

Đi Tìm

Lá Trường Sinh - Phạm Đình Lân


Nguồn gốc, thân thế và tên gọi
Cây trường sinh là một loại thảo mộc thích hợp với khí hậu đại dương và nhiệt đới. Nó được tìm thấy nhiều trên đảo Madagasca, đảo Reunion, các quốc gia Nam Mỹ, Đông Nam Á, trên các hải đảo trong biển Caribbean và Thái Bình Dương.

Tên khoa học của cây trường sinh hay sống đời là Kalanchoe pinnata thuộc gia đình Crassulaceae. Ngoài ra nó còn những tên khoa học khác như: Bryophyllum pinnatum, Bryophyllum calicinum, Bryophyllum germinans, Verea pinnata, Cotyledon calycina, Cotyledon calyculata, Cotyledon pinnata, Cotyledon rhizophilla, Crassula pinnata, Crassula floripendia, Sedum madagascariense.
Người Việt Nam gọi là cây trường sinh hay sống đời vì cây nầy không bao giờ chết. Thông thường lá cây rụng xuống đất thì rã mục và hòa lẫn với đất cát thành phân. Lá cây trường sinh khi rụng xuống đất thì ra rễ và ra nhiều cây trường sinh con. Đó là nguồn gốc của tên Trường Sinh của nó.

Các nhà làm vườn rất sợ sự xâm lấn đất nhanh chóng của cây trường sinh. Gió thổi, cuốn lá trường sinh từ nơi nầy sang nơi khác để có nhiều cây trường sinh con mọc lên từ các răng quanh rìa lá. Nhưng nếu nhìn sự sinh tồn của cây trường sinh bằng cái nhìn triết học y dược thì ta mới thấy được sức đề kháng dị thường của loại thảo mộc đặc biệt nầy trong môi trường sống. Tên gọi cây trường sinh dựa vào sức sống ngoan cường của chính nó. Nó còn được gọi là:
lá bỏng vì lá dùng để chữa phỏng lửa hay nước sôi rất hay.
lá cầm máu hay lá thuốc hàn vì cầm máu rất nhanh.
lá Quan Âm vì có khả năng chữa trị được nhiều thứ bịnh như Đức Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ vậy. Người Tây Ban Nha gọi là Angelica (Thiên Thần Diệp).
Người Trung Hoa gọi là:
lạc diệp sinh căn vì lá rụng thì ra rễ và sinh ra nhiều cây con.
đả bất tử có nghĩa là đánh cũng không chết. Người Trinidad gọi cây trường sinh là "Never Dead".

Ở Ấn Độ cây trường sinh mọc rất nhiều ở vùng Bengal. Tiếng Phạn (Sankrit) gọi là Parnabija có nghĩa là cây có nhiều rễ. Rễ ra nhiều từ kẽ lá chớ không phải dưới gốc cây. Chữ Parnabija cũng đồng nghĩa với dhanvantari có nghĩa là "thiêng liêng, thần diệu". Như vậy cây trường sinh là "thiên thảo" vì một lý do nào đó.
Nhân loại không hẹn nhưng lại gặp nhau trong việc đặt tên cho cây trường sinh qua hiệu năng trị liệu của nó.
Người Phi Luật Tân gọi cây trường sinh là katakata-ka tức cây kỳ diệu.

Người Nam Mỹ gọi nó là Angelica (Thiên Thần Diệp), Siempre Viva (sinh diệp), Hoja de aire (không thảo). Ở Trinidad người ta gọi cây trường sinh là Never dead (bất tử), Wonder of the world (kỳ quan thế giới). Một vài quốc gia Trung và Nam Mỹ gọi lá trường sinh là good luck leaf (lá may mắn), miracle leaf (lá thần diệu), love leaf (lá tình yêu). Ngoài ra cây trường sinh còn được gọi là Goethe’s plant (1).

Trong tiếng Anh có nhiều tên gọi dành cho cây trường sinh như air plant (không thảo, dịch từ hoja de aire), cathedral bell (vì hoa cây trường sinh giống hình cái chuông), mother of thousands (mẹ hàng ngàn con vì sự sinh sản của cây con quá nhiều), life leaf (dịch từ Siempre Viva), live forever (trường sinh, sống đời).

Nhiều tên gọi khác nhau dành cho cây trường sinh cho thấy loại thảo mộc nầy có một vị trí đặc biệt trong đời sống của các dân tộc và bộ lạc sống trong vùng khí hậu nhiệt đới và đại dương. Có 600 loại cây thân thuộc với cây trường sinh dòng Bryophyllum hay Kalanchoe thuộc gia đình Crassulaceae nhưng chỉ có Kalanchoe pinnata lá hình bầu dục, rìa có răng cưa và hoa giống như cái lồng đèn có dược tính tốt mà thôi.

Đặc điểm cây trường sinh
Cây trường sinh là một loại cây nhỏ, mình xốp và dòn, cao lối 1m. Ở Madagascar có những cây trường sinh cao đến 6m. Lá cây trường sinh dầy, màu xanh, hình bầu dục. Hai bên rìa lá có nhiều răng cưa với lằn viền màu tím nhạt. Khi lá rụng xuống đất, rễ mọc ra từ các răng cưa. Hoa trường sinh giống như cái chuông màu đò tím nhạt. Hoa kết thành chùm như những cái chuông hay bóng đèn nhỏ kết thành một lồng đèn cao 60cm – 70cm trông đẹp mắt. Hoa trường sinh rất lâu tàn.

Cây trường sinh được trồng bằng lá, hột hay chặt cây già ra làm nhiều khúc rồi đặt xuống đất trồng như trồng tre, mía hay khoai mì (sắn). Cây con sẽ mọc lên từ những mắt cây. Trường sinh không cần nhiều nước. Nếu được tưới mỗi ngày lá sẽ dầy và mộng nước. Nếu cây không có nước, lá vàng và rất chát.
Lá trường sinh thay đổi 3 vị trong ngày:
– Vị chua trước khi mặt trời mọc.
– Vị chát sau khi mặt trời mọc. Lá vàng và lá xanh trên đọt luôn luôn chát.
– Vị lợ khoảng 3 hay 4 giờ sau khi mặt trời lặn.
Lá chua dùng để uống hay dùng ngoài da để cầm máu hay trị phỏng lửa và nước sôi.

Lá chát chỉ dùng ngoài da. Uống lá chát có hại cho tim vì gây khó thở. Súc vật ăn cỏ ngoài đồng, ăn nhằm lá trường sinh chát nên khó thở. Lá vàng vì thiếu nước hay lá trên đọt của cây trường sinh mọc thiên nhiên luôn luôn chát. Khi lá vàng và chát, không thể phục hồi cho lá xanh và chua trở lại bằng cách tưới nước hay bón phân tro.
Lá trường sinh thay đổi vị 3 lần trong ngày. Hoa phù dung (Hibiscus mutabilis) thay đổi sắc 3 lần trong ngày nên được gọi là phù dung tam sắc túy.

Trường sinh diệp trị liệu
Người Ấn Độ và các bộ lạc sống dọc theo thung lũng Amazon ở Nam Mỹ đã dùng lá trường sinh để trị bịnh từ lâu. Người Âu Châu biết đến lá trường sinh qua những kinh nghiệm trị liệu cổ truyền của các dân tộc miền khí hậu nhiệt đới và đại dương, nơi có nhiều cây trường sinh. Cây trường sinh được vào danh sách thực vật học Anh vào thế kỷ 18. Nhà văn Von Goethe cũng có trồng cây trường sinh. Những tên gọi lá trường sinh, lá Quan Âm, Angelica, miracle leaf, life leaf, "katakata-ka"... không phải là tên gọi ngẫu nhiên mà căn cứ vào tính năng trị liệu bao quát của loại dược thảo đặc biệt nầy.

Người Việt Nam dùng lá trường sinh trị đau mắt, ho, cảm, phỏng lửa, phỏng nước sôi, cầm máu.
Người Trung Hoa dùng lá trường sinh trị thổ huyết, đau mắt, mũi, tai, cuống họng, cầm máu.
Ở Ấn Độ, Nam Mỹ, Phi Luật Tân lá trường sinh có công dụng rộng lớn như trị các chứng bịnh về máu như huyết tiện, xuất huyết, thổ huyết, kinh nguyệt, trĩ, huyết áp, bịnh lao, tiểu đường, sạn thận, đau răng, đau mắt, đau mũi, loét dạ dày (dùng chút muối khi dùng lá chua), ung thư, viêm, sốt, nhức đầu, viêm bàng quang, suyễn, bịnh ngoài da, cước khí, động kinh, kiết lỵ, tiêu chảy, táo bón, chống kết sạn, thông đại tiểu tiện. Lá trường sinh kích thích tử cung nên người ta khuyên phụ nữ mới sinh không được dùng.

Việc nghiên cứu lá trường sinh hiện nay được các nước Ấn Độ, Brazil, Nhật, Pháp, Trung Hoa, Phi Luật Tân, Hoa Kỳ tiến hành. Kết quả những cuộc nghiên cứu và thí nghiệm trên chuột cho thấy lá trường sinh kháng trùng, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng dị ứng, kháng histamine. Dùng lá trường sinh trị suyễn, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt Dum Dum (2) có kết quả tốt. Sốt Dum Dum (leishmaniasis) là một loại bịnh nhiệt đới gây tử vong và khó trị nhưng có thể trị khỏi bằng thuốc chế từ lá trường sinh. Khả năng cầm máu của lá trường sinh làm cho các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến dược tính và khả năng trị liệu rộng rãi của nó.

Lá trường sinh có alkaloids, triterpene glycosides, flavonoids, steroids, lipids, bufadienolides. Bufadienolides có tác dụng như digoxin  C41H64O14 và digitoxin C41H64O13 dùng để chữa bịnh nghẽn tim. Bufadienolides chống kết bướu, kháng khuẩn, ngừa ung thư. Chất nầy có trong nọc độc của con cóc (Bufo fowleri, gia đình: Bufonidae) và cây hành biển (Urginea maritima dùng làm thuốc thông phổi). Chất độc nằm trong nhựa mủ trên da sần sùi của con cóc (thiềm thừ) được gọi là thiềm tô dùng làm thuốc trị ung độc trong Đông Y.

Thân cây trường sinh có ác xít arachitic, behenic, cinnamic, coumaric, ferulic, oxalic, palmitic, protocatechuic, succinic, syringic, cafeic. Ngoài ra còn có astragolin, beta amyrin, benzenoids, bryophynol, bryotoxin C, bufadienolides, campesterol, cardenolides, clerosterol, clionasterol, codisterol, epigallocatchin, flavonoidsglutinol, friedelin, hentriacontane, isofucosterol, kaempferol, oxaloacetate, patuletin, peposterol, phosphoenol pyruvate, pyruvate, pseudotaraxasterol, quercitin, steroids, stigmasterol, taraxerol, triacontane.
Lá trường sinh chua hay chát đều cầm máu và trị phỏng rất tốt. Uống lá chua để trị các bịnh về máu khác nhau như kinh nguyệt quá đa, xuất huyết nội, huyết tiện, thổ huyết, bịnh trĩ, hạ huyết áp và cholesterol. Lá chua trị được táo bón, kiết lỵ và tiêu chảy nghĩa là có khả năng giải quyết hai chứng bịnh trái ngược nhau: táo bón và tiêu chảy, kiết lỵ, Nếu trị phỏng kịp thời bằng lá trường sinh thì người bịnh không bị đau nhức và không bị vết phỏng. Lá trường sinh hạ sốt, hạ huyết áp, nhuận tiểu, trị ho, sạn thận, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng dị ứng, kháng histamine... với kết quả khả quan. Về liều lượng không nên dùng quá 5 gram cho mỗi ký lô trọng lượng.
***
Sau đây tôi xin trình bày vài câu chuyện về lá trường sinh:
Năm 1977 tôi về quê nội. anh cả tôi định làm thịt hai con gà (một con trống và một con mái) nhốt chung trong một cái lồng làm bằng tre. Hai con gà nằm ủ rũ vì bịnh, miệng nhểu đầy nước dãi. Tôi nói anh tôi đừng giết chúng, để tôi chữa chúng bằng lá trường sinh. Tôi giã lá trường sinh, vắt nước nhỏ vào miệng hai con gà rồi dùng tay nhét xác lá giã nhuyễn vào miệng chúng. Sau trên hai tiếng đồng hồ hai con gà vẫn nằm bất động nhưng chưa chết. Trời sụp tối, tôi đạp xe về nhà và dặn anh tôi tiếp tục chữa hai con gà như tôi đã làm. Sáng hôm sau tôi đạp xe đến nhà anh tôi để xem hai con gà ra sao. Tôi vui mừng khi thấy hai con gà đứng trong hai cái lồng khác nhau. Sau khi lành bịnh, hai con gà có vẻ khác thường. Chúng thường mổ lá trường sinh để ăn. Con gà trống không buồn chạy khi trời mưa. Con gà mái đẻ 49 trứng. Có phải chăng vì lá trường sinh có khả năng kích thích sinh dục mà người Mễ Tây Cơ gọi cây trường sinh là cây tình yêu (love plant)?

Đầu năm 1978 một người bạn ấu thời của tôi đi học tập về. Anh ghé nhà thăm và trò chuyện với tôi trước khi về nhà. Anh lo lắng về bịnh suyễn của mẹ anh giữa lúc anh khốn đốn mặc dù trước kia anh từng điều khiển Chi Y Tế trong một quận trong tỉnh Bình Dương. Đó là sự lo âu tự nhiên của người học tập vừa mới được tự do khi nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với gia đình. Tôi nói sơ qua về lá trường sinh và đề nghị anh cho mẹ anh thử nhằm phá vỡ một trong những sự lo âu chồng chất của anh. Ban tôi không còn cách nào hơn là nghe theo tôi. Nhà anh chật hẹp nên anh phải trồng cây trường sinh trước sân nhà tôi rồi hái lá về cho mẹ anh dùng. Anh xác nhận việc trị liệu có kết quả.

Một hôm tôi đi thăm mộ của một người bạn ở Nhị Bình. Bà cô của bạn tôi mời tôi ở lại ăn cơm. Trời nhá nhem tối bỗng bà la thét ầm ĩ rồi nằm dãy dụa, rên siết thảm thiết dưới đất. Vì trời tối bà đụng phải nồi thịt kho đang sôi. Cả nồi thịt kho nóng bỏng đổ vào chân bà. Trong lúc mọi người bối rối chưa biết phải làm gì thì tôi hỏi con trai bà có trồng cây trường sinh nào quanh nhà không. Anh xác nhận "có" và chạy ra hái lá đem rửa vội và rồi dùng cối giã nát lấy nước phết trên vết phỏng rồi lấy vải mùng cắt nhỏ để băng xác lá trường sinh vào vết phỏng. Đêm hôm ấy bà ngủ yên. Khi mở băng, nơi bị phỏng còn vết đỏ nhưng không bị phồng lên.

Một buổi sáng năm 1982 có hai ông già đến nhà tôi. Một ông 82 tuổi và một ông 77 tuổi. Cả hai đều là bạn già quen nhau trong lúc đi lễ tại nhà thờ Bình Nhâm, xã sinh quán của Á Thánh Gẩm và gia đình Nguyễn Hiệp. Ông thứ nhất là em của một viên chức cao cấp ở Trung Việt thời Quốc Trưởng Bảo Đại và là ký giả của tờ Le Journal d' Extrême Orient ở Sài Gòn. Ông thứ hai xanh xao yếu đuối. Trông ông chao dao và mất tinh thần khi được bác sĩ cho biết ông bị bịnh ung thư. Ông lo sợ vì tuổi già, tiền hưu trí không có lại mắc phải bịnh ngặt nghèo. Trước kia ông là nhân viên thâm niên của bộ Giáo Dục và là thầy học của nhiều viên chức cao cấp trong chánh phủ Sài Gòn. Không biết tại sao ông tin lời của ông già thứ nhất để đến gặp tôi trong khi ông ra bến xe để đi xuống bệnh viện Chợ Rẫy tái khám bịnh. Ông già thứ nhất biết tôi vì tôi chữa cho ông khỏi chứng lãng tai cách đó vài tháng. Sau vài phút nói chuyện, tôi cho rằng ông bị huyết tiện (hematuria). Sau 4 ngày chữa trị tôi không thấy ông đến nên thầm nghĩ rằng việc trị liệu không có kết quả nên ông không đến. Trên một tháng rưỡi sau ông đến xin lỗi và cho biết bịnh ông đã khỏi. Ông vội vã về Thủ Thừa chở gạo nên không đến thông báo cho tôi được. Ông cho biết ông có thể chở 60 ký-lô gạo từ Thủ Thừa về Bình Nhâm bằng xe đạp.

Một buổi sáng cũng vào năm 1982 có một thanh niên xanh xao, môi đen thâm đến nhà nhờ tôi chửa bệnh tim của anh theo lời giới thiệu của bác sĩ D. tại địa phương. Anh thành thật cho tôi biết bịnh của anh ở vào thời kỳ bị "thầy chê". Tôi ở vào tâm trạng vô cùng bối rối. Ai cũng không dám chữa cho anh ấy thì tôi làm sao lại dám. Bác sĩ D. là người quen biết với tôi. Tôi có giúp cho ông một chuyện với kết quả tốt ngoài ước muốn của ông khiến ông tin tưởng tôi. Ông không chữa cho người thanh niên bị bịnh từng được bác sĩ C. ở Sài Gòn chữa trong nhiều năm qua mà lại giới thiệu cho tôi. Quả tình tôi lo ngại vì nhiều lý do khác nhau. Tôi sống trong cảnh thiếu thốn ngặt nghèo. Tôi không nhận sự báo đáp tiền bạc của người bịnh đến với tôi. Nhưng nếu có chuyện gì không may xảy ra thì họa đến với tôi trùng trùng.

Sự từ chối của tôi làm cho người thanh niên thất vọng. Anh khóc và quỳ xuống lạy tôi. Tôi kéo anh đứng dậy và tự thấy có tội làm cho người thanh niên tuyệt vọng. Tôi đứng trước bàn thờ và cầu nguyện để được phép chữa người thanh niên bị bệnh nghiêm trọng nầy. Tôi cũng cầu xin nếu chữa không lành bịnh thì cũng đừng có chuyện bất lành nào đến với tôi. Khấn nguyện xong tôi ngồi yên vài phút cho tâm hồn thật lắng đọng và bình thản trước khi bắt tay vào việc chữa trị. Một lần nữa tôi khuyên anh dùng lá trường sinh. Ngày hôm sau anh trở lại với sự tin tưởng và lạc quan. Anh cho biết lần đầu tiên anh có một giấc ngủ thật yên. Sau ba tuần lễ anh cỡi xe đạp đi Sài Gòn để nhờ bác sĩ C. xem bịnh tình của anh như thế nào. Lộ trình khứ hồi gần 50km. Để cho bác sĩ giữ tính khách quan, tôi dặn người thanh niên đừng nói gì về việc gặp tôi. Bác sĩ C. ngạc nhiên và cho rằng bịnh của anh giảm 90%. Anh mừng quá chạy thẳng đến nhà tôi để báo tin mừng.

Trong những người mà tôi kể qua bây giờ chỉ còn người thanh niên bịnh tim nầy còn sống mà thôi.
Thời gian trôi qua nhanh. Cây trường sinh vẫn trường sinh. Con người có trường thọ nhưng không trường sinh. Tôi viết bài nầy để nhớ lại:
– Anh tôi, kỹ sư Phạm Đình Trị, người đã phổ biến Cây Sống Đời lần đầu tiên trên báo Tin Sáng.
– Những người bịnh kể trên đã đem lại cho tôi những tin vui làm cho tôi tìm thấy hạnh phúc trong tâm giữa lúc lâm vào cảnh túng quẫn ngặt nghèo.
Dẫu rằng ai có nghìn vàng
Đố ai mua được một tràng mộng xuân

Tôi không mua một tràng mộng xuân. Tất cả những tin vui mà các vị kể trên mang lại đều là thật. Các vị ấy cám ơn tôi. Họ không ngờ rằng chính tôi cám ơn lại họ vì tôi đã tìm một hạnh phúc không chân dung làm cho tôi sung sướng và lạc quan để thấy được rằng có một loại hạnh phúc độc lập với danh, lợi và sự dồi dào vật chất.
– Kỷ niệm hai lần nói chuyện về Châm CứuThuốc Nam tại Lái Thiêu năm 1982. Sau buổi nói chuyện lần thứ nhất tất cả cây trường sinh trước sân nhà tôi đều bị nhổ sạch. Đó là vụ trộm thuốc trường sinh đáng yêu mà tôi được biết khi còn ở quê nhà.
 
Phạm Đình Lân, F.A.B.I.
__________________
(1) Johann Wolfgang von Goethe (1749 - 1832) là nhà văn, nhà soạn kịch và nhà vạn vật học Đức. Ông là tác giả của The Sorrows of Young Werther, Faust, Roman Eligies, Metamorphosis of Plant v.v. Ông đã trồng cây trường sinh và viết về loại thảo mộc nầy trong sách thực vật học của ông. Các nhà thực vật học Âu Châu đã biết cây trường sinh vào thế kỷ 18..
(2) Tên một thành phố ở Ấn Độ. Chứng bịnh nầy là bịnh miền nhiệt đới do nhiễm trùng Leishmania làm sưng lá lách, mất máu, da nhăn và chết. Nó được biết dưới tên y học "bịnh Kala azar" (tiếng Ấn Độ "'kala":đen, "azar":thuốc độc) hay Leishmaniasis hay Dum Dum fever.

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

Sunday, July 26, 2015

Thì Thôi - Đỗ Công Luận

Những Món Nợ Không Sao Trả Nổi - Bùi Tín

Xe tải quảng bá kỷ niệm 40 năm ngày "Giải phóng miền Nam" trên đường phố TP HCM

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày 30/4, Bộ Chính trị Đảng CSVN chủ trương tổ chức kỷ niệm trọng thể «Ngày toàn thắng», «Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước», với những diễn văn cao ngạo đầy mỹ từ sáo rỗng, cờ quạt màu mè, trống kèn ầm ỹ, duyệt binh lên gân, pháo bông lóe mắt.
Tất cả chỉ để phủ lấp tình trạng bi thảm của một đất nước lạc hậu về mọi mặt: giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, khoa học kỹ thuật chậm tiến, xã hội đầy bất công, đảng cầm quyền đầy sai lầm và tội lỗi trước dân tộc và nhân dân, với cả một lớp cường hào CS ngang nhiên ăn cắp tài sản quốc gia để trở thành tầng lớp địa chủ CS, tư sản mại bản CS vượt rất xa các đại điền chủ - tư bản lớn nhất thời Pháp thuộc.

Tình hình bi thảm của đất nước chứng minh Đảng CSVN không còn có một lý do chính đáng nào để tiếp tục cầm quyền, tiếp tục tàn phá đất nước. Bảy mươi năm trước, nhân lúc đất nước bị bỏ trống - thực dân Pháp bị phát xít Nhật đảo chính, rồi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh - Đảng CSVN đã nổi dậy cướp chính quyền, từ đó giữ chặt quyền lực cai trị cho riêng mình, không qua một lá phiếu tín nhiệm nào của công dân. Chữ «cướp chính quyền» do chính đảng CS dùng không biết bao nhiêu lần trong các văn kiện chính thức đã nói lên tính chất «cướp», không đàng hoàng, không hợp chính nghĩa của họ từ hồi đó.

Nếp cai trị độc đoán của Đảng CSVN là dùng Cương lĩnh chính trị cùng các Nghị quyết của đảng qua các cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị để cai trị đất nước. Hiến pháp chỉ là văn kiện thứ yếu phụ thuộc Cương lĩnh của đảng, Quốc hội chỉ là công cụ dân chủ giả hiệu của đảng với 90 % đại biểu là đảng viên. Đây là một chế độ đảng trị lỗi thời, lạc lõng lẻ loi ở thế kỷ thứ XXI khi thế giới đã bước vào kỷ nguyên Dân chủ từ thế kỷ XVIII.
Nhân dân VN ngày càng hiểu rõ tình trạng thật sự của đất nước, đòi phải thay đổi hẳn hệ thống cai trị hiện tại, nhân dân phải được quyền tự do đầy đủ của công dân, quyền tự do bầu cử, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do lập hội đã được ghi trong Hiến pháp. Các quyền này đã bị hạn chế, cắt xén, phủ định bởi đảng cầm quyền.

Hiến pháp là luật gốc, không một đạo luật hay quyết định nào được đi ngược lại bất cứ điều khoản nào đã được ghi rõ trong Hiến pháp. Nhiều nước lập ra Viện Bảo hiến, hay Hội đồng Bảo hiến để bảo vệ triệt để Hiến pháp. Một món nợ lớn của Bộ Chính trị với dân ta là đã dùng nội dung hướng dẫn thi hành luật để phủ định nhiều điều Hiến pháp đã cho phép. Như Hiến pháp công nhận quyền biểu tình, vậy mà một Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lại tự cho mình quyền cấm nhân dân biểu tình bảo vệ cây xanh của thành phố. Đây là một quyết định vi hiến, phải bị coi là vô giá trị. Món nợ dân chủ - nhân quyền của Đảng CSVN với toàn dân ta là món nợ lớn nhất, cấp bách nhất.

Nếu nói đến những món nợ của Đảng CSVN với nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua thì thật sự không sao kể ra hết được. Nợ thì phải trả. Đó là lẽ công bằng của cuộc sống. Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 chỉ xin kể thêm những món nợ cơ bản nhất.
Với hàng mấy triệu lượt chiến sỹ QĐND được đảng kêu gọi nhập ngũ để vào Nam chiến đấu, với hứa hẹn của đảng là hy sinh mạng quý của mỗi người là xứng đáng để tổ quốc hoàn toàn độc lập, xã hội sẽ ấm no, hạnh phúc. Với hy vọng ấy hàng triệu thanh niên đã lao vào khói lửa, sẵn sàng sinh Bắc tử Nam, để đến nay xã hội lạc hậu, nhân dân nghèo khổ so với các nước xung quanh đến thế này ư? Để bọn bành trướng lấn lướt láo xược đến thế này ư? Bộ Chính trị làm sao trả được món nợ cực lớn này khi vong linh của hàng triệu liệt sỹ hiện về chất vấn. Họ thường thắp hương trước đài liệt sỹ mà không hề cảm thấy có tội lỗi với hương hồn các liệt sỹ đã bị họ lừa dối.

Với nhân dân miền Nam nước ta, món nợ lớn của Đảng CSVN là ở điểm then chốt như sau. Trong Hiệp định Geneve (tháng 7-1954) và Hiệp định Paris (tháng 1-1973) chính quyền CS Hà Nội đã cùng các bên long trọng cam kết «tôn trọng quyền dân tộc tự quyết» được ghi rõ trong Hiến chương của Liên Hiệp Quốc, cam kết «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam», bảo đảm «nhân dân mỗi miền có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị không có sự can thiệp của bên ngoài», cam kết «không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực». Hiệp định Paris còn quy định «ngừng bắn tại chỗ», «các bên không nhập thêm vũ khí vào vùng đóng quân của mỗi bên», «thay thế vũ khí hư hỏng có kiểm soát quốc tế, theo tỷ lệ một đổi một». Cam kết trên đây không những là cam kết với nhân dân miền Nam, mà còn với nhân dân cả nước, và là cam kết chung với cả cộng đồng quốc tế. Nhưng họ đã chủ trương vi phạm ngay từ trước khi ký kết.

Đảng CSVN đã phản bội lời cam kết này trước hết và và nghiêm trọng hơn hết là với nhân dân sống ở miền Nam, kể cả hàng triệu nhân dân miền bắc đã di cư vào Nam, bỏ phiếu bằng đôi chân 20 năm trước, rồi tiếp đó lại phải lao ra biển thành «thuyền nhân». Món nợ này đối với đồng bào ta ở miền Nam là rất lớn, vì đây là nạn nhân trực tiếp của cuộc xâm lăng phi pháp, là nạn nhân bi thảm của sự cam kết giả dối tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, rồi cam kết hão về hòa hợp, hòa giải dân tộc, lại còn hứa hươu hứa vượn về thành lập Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc với 3 thành phần ngang nhau ở miền Nam, và cam kết quan hệ 2 miền Bắc - Nam sẽ «không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào». Thảm kịch «tù cải tạo» là một món nợ cực lớn nữa đối với đồng bào ở miền Nam nước ta.

Ngay trước mắt, đối với toàn dân là món nợ của Bộ Chính trị về chống tham nhũng quyết liệt, về thảo ra Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu Dân ý, Luật về lập Hội, rồi cải cách thể chế chính trị và kinh tế, sửa đổi các điều khoản mơ hồ trong bộ Luật hình sự như đã hứa hẹn với trong nước và thế giới.

Xem ra Bộ Chính trị vẫn đủng đỉnh, bình thản, mặc cho tình thế rất khẩn trương, quan hệ trong đảng rất căng thẳng, nhất là đối với đảng viên trí thức mà khá đông có tâm và có tầm hơn hẳn các ủy viên Bộ Chính trị, mặc cho tâm lý xã hội đang chuyển biến theo hướng tự do dân chủ, với hàng loạt biểu hiện mới: «Tôi không thích đảng CS!», «Tôi muốn biết sự thật», «Chúng ta là Một».
Họ thản nhiên vì với thời gian cầm quyền họ tha hồ đục khoét thêm cho các phe nhóm lợi ích riêng tư. Họ thản nhiên vì ỷ lại vào sự chống lưng của của Thiên triều Bành trướng TQ giàu tiền của, chỗ dựa tinh thần vật chất mà họ mù quáng tin vào sự vững mạnh trường cửu.

Ngày 30 tháng 4 năm nay phải là ngày tính sổ nợ lưu cữu của Đảng CSVN với toàn dân, với nhân dân cả 2 miền Nam - Bắc, đều là nạn nhân của đường lối cai trị toàn trị thâm hiểm đầy bạo lực và sai lầm của đảng.

Vui vẻ gì, tự hào gì, vẻ vang gì cho Đảng CSVN khi tội lỗi chất chồng như thế, những món nợ kinh hoàng đến thế để mà bày vẽ duyệt binh với pháo hoa. Nếu là một tổ chức chính trị lương thiện, Đảng CSVN ắt phải tủi hổ sâu sắc để tạ tội với toàn dân về những tội lỗi nặng nề kéo dài lê thê trong 70 năm qua.

Bùi Tín