Vào những năm 1990, nếu bạn bay ghế hạng nhất từ Hồng Kông đến New York, có thể bạn đã đi ngang qua một người đàn ông áo nhăn nhúm ngồi ở khoang hạng phổ thông.
Áo sơ mi nhăn nhúm. Đồng hồ
nhựa. Giấy tờ nhét trong túi đựng hàng tạp hóa.
Bạn sẽ không thể ngờ ông ta
trị giá hàng tỷ đô la.
Bạn càng không thể ngờ rằng
ông đã cho đi gần như tất cả số tiền ấy.
Chuck Feeney kiếm được tài sản khổng lồ bằng cách bán thứ mà người giàu khao khát nhất: địa vị mà không phải nộp thuế.
Năm 1960, ông và người bạn
Cornell Robert Miller mở cửa hàng Duty Free Shoppers đầu tiên tại Honolulu.
Ý tưởng rất đơn giản: bán hàng xa xỉ tại sân bay và cảng biển, nơi du khách không phải trả thuế nhập khẩu.
Whisky. Nước hoa. Túi xách
hàng hiệu. Tất cả đều miễn thuế.
Khi Nhật Bản nới lỏng hạn chế du lịch năm 1966, mọi thứ thay đổi chỉ sau một đêm.
Hàng triệu du khách Nhật Bản
mới giàu có muốn mua hàng xa xỉ phương Tây. DFS nằm đúng vị trí.
Chuck học tiếng Nhật. Ông
thuê phiên dịch. Ông ký hợp đồng với mọi công ty du lịch chịu nghe.
Đến những năm 1980, Duty Free
Shoppers thống trị lĩnh vực bán lẻ xa xỉ toàn cầu.
Chuck Feeney trở thành tỷ phú
nhiều lần.
Và không ai hiểu tại sao ông
lại sống như một người nghèo.
Các đối tác kinh doanh bắt đầu
lo lắng.
Chuck vẫn mặc chiếc áo len
rách cũ kỹ. Ông chỉ sở hữu đúng một chiếc áo vest – không bao giờ có tuxedo.
Khi các lãnh đạo DFS đi công
tác, họ ở khách sạn năm sao. Chuck ở motel bình dân.
Họ bay hạng thương gia. Chuck bay hạng phổ thông – thường là vé rẻ nhất có thể, đôi khi phải transit ba lần thay vì một.
Một đồng nghiệp đề nghị nâng
hạng cho ông. Chuck từ chối.
“Tại sao tôi phải trả nhiều
tiền hơn để đến cùng một nơi?”
Ông không sở hữu nhà. Ông thuê nhà. Không xe hơi – ông đi taxi hoặc xe buýt.
Khi thực sự cần xe, ông thuê
loại rẻ nhất. Thường là một chiếc Volvo cũ kỹ.
Chiếc đồng hồ của ông giá 15
đô la. Casio nhựa mua ở hiệu thuốc.
Một số đối tác nghĩ ông bị
điên. Số khác thì thì thầm rằng ông chắc hẳn mắc nợ cờ bạc hoặc có gia đình bí
mật đang rút cạn tài khoản.
Sự thật còn lạ lùng hơn nhiều.
Năm 1982, Chuck thành lập tổ
chức mang tên The Atlantic Philanthropies.
Tổ chức được đăng ký tại
Bermuda. Hồ sơ giấy tờ dày đặc và cố tình mơ hồ.
Năm 1984, ông chuyển toàn bộ cổ phần trong DFS – trị giá hơn 500 triệu đô la – vào quỹ.
Ông giữ lại chưa đến 5 triệu
đô la cho bản thân.
Sau đó ông bắt đầu cho đi số
tiền ấy.
Bệnh viện. Đại học. Tổ chức
nhân quyền. Nghiên cứu y khoa.
Hàng triệu đô la chảy ra mỗi
tháng.
Nhưng có một chi tiết đặc biệt:
không ai biết tiền đến từ đâu.
Đại học Cornell đột nhiên nhận
được những khoản quyên góp khổng lồ ẩn danh. Ban quản trị không biết ân nhân bí
ẩn là ai.
Các trường đại học ở Ireland
cũng nhận được số tiền tương tự. Bệnh viện ở Nam Phi, phòng khám AIDS, trung
tâm nghiên cứu ở Việt Nam cũng vậy.
Những người nhận hỏi: “Ai đang tài trợ vậy?”
Atlantic Philanthropies trả lời:
“Chúng tôi muốn giữ bí mật.”
Chuck đã trở thành một bóng
ma từ thiện.
Tại sao phải giữ bí mật?
Chuck có hai lý do, đều rất thực tế.
Thứ nhất: “Khi mọi người biết
bạn có tiền để cho đi, họ sẽ không bao giờ để bạn yên.”
Ông đã chứng kiến điều đó xảy
ra với những nhà từ thiện khác. Mọi tổ chức từ thiện trên thế giới gửi đề xuất.
Mọi người gây quỹ gọi điện. Mọi buổi gala đòi ông tham dự.
Chuck không muốn dành cả đời
để nói “không”.
Thứ hai: Ông tin rằng sự ẩn
danh sẽ giúp tập trung vào công việc, chứ không phải vào người cho.
“Không phải về tôi,” ông nói,
“mà là về những gì được thực hiện.”
Vì vậy Atlantic Philanthropies hoạt động như một cơ quan tình báo.
Các khoản tài trợ được chuyển
qua trung gian. Hợp đồng có điều khoản bảo mật. Thậm chí một số con cái của
Chuck cũng không biết hết những gì ông đang làm.
Vợ cũ của ông chỉ biết được trong quá trình ly hôn. Bà ấy đã sững sờ.
Trong 15 năm, Chuck điều hành
hoạt động từ thiện tư nhân lớn nhất thế giới – mà hầu như không ai biết tên
ông.
Bí mật bị tiết lộ năm 1996.
Tập đoàn xa xỉ Pháp LVMH mua DFS với giá 1,63 tỷ đô la tiền mặt.
Việc bán đòi hỏi công bố công
khai. Tên Chuck xuất hiện trong hồ sơ.
Các nhà báo bắt đầu nối các dấu chấm.
Một phóng viên kinh doanh của
New York Times tên Judith Miller bắt đầu điều tra.
Chờ đã – người đàn ông ăn mặc
như sinh viên này sở hữu một nửa Duty Free Shoppers?
Và ông đã cho đi tất cả?
Cách đây 15 năm?
Bài báo đăng tháng 1 năm
1997, nằm ở trang D4: “Ông ấy đã cho đi 600 triệu đô la mà không ai hay biết.”
Nhưng con số đã sai. Chuck đã
cho đi nhiều hơn rất nhiều so với 600 triệu đô la.
Ông chỉ chưa từng kể với ai.
Khi bí mật bị phơi bày, Chuck hầu như không thay đổi.
Ông vẫn bay hạng phổ thông. Vẫn
đeo chiếc đồng hồ 15 đô la. Vẫn mang giấy tờ trong túi nhựa.
Nhưng giờ mọi người đã hiểu.
Ông không điên. Ông cũng không nghèo.
Ông đã đưa ra một lựa chọn.
Ông quyết định rằng nhìn đồng
tiền của mình làm việc thiện còn tốt hơn là nhìn nó nằm yên trong ngân hàng.
Warren Buffett gọi ông là “anh hùng của tôi”.
Bill Gates nghiên cứu phương
pháp của ông.
Năm 2011, khi Buffett và Gates khởi xướng Giving Pledge – kêu gọi các tỷ phú cam kết cho đi ít nhất một nửa tài sản – Chuck là một trong những người đầu tiên ký tên.
Ngoại trừ việc ông đã cho đi
99% tài sản của mình từ 30 năm trước.
“Chuck đã chỉ đường cho chúng tôi,” Buffett nói, “từ rất lâu trước khi chúng tôi biết mình cần một người dẫn đường.”
Từ năm 1982 đến 2020, Chuck
đã cho đi 8 tỷ đô la.
Hãy để con số ấy ngấm vào.
Tám. Tỷ. Đô la.
Gần một tỷ chỉ riêng cho
Cornell. Trường đã đặt tên một con đường là “Feeney Way” để vinh danh ông. Hiệu
trưởng Frank Rhodes gọi ông là “người sáng lập thứ ba” của Cornell – quan trọng
ngang với Ezra Cornell.
Nhưng việc cho đi của Chuck không phân tán. Nó rất chiến lược.
Ông tập trung vào bốn lĩnh vực: người cao tuổi, trẻ em và thanh niên, sức khỏe cộng đồng, và nhân quyền.
Ông tài trợ cho chiến dịch xóa bỏ án tử hình. Ông ủng hộ nỗ lực cơ sở để thông qua Đạo luật Chăm sóc Giá cả Phải chăng.
Ông chi trả điều trị AIDS ở Nam Phi khi chính phủ không làm.
Ông xây bệnh viện ở Việt Nam.
Ông hỗ trợ đàm phán hòa bình ở Bắc Ireland – nỗ lực của ông góp phần tạo nên Hiệp
định Good Friday chấm dứt “The Troubles”.
Ông không chỉ viết séc. Ông tham gia sâu. Ông thúc đẩy. Ông lập kế hoạch.
“Cho đi không phải là thụ động,”
ông nói. “Bạn phải làm cho mọi thứ xảy ra.”
Đến năm 2019, Chuck 88 tuổi
và sức khỏe suy giảm.
Quỹ chỉ còn một sứ mệnh: chi tiêu hết từng đồng cuối cùng.
Không giữ lại. Không tạo quỹ
vĩnh cửu. Chi hết.
“Người chết không cho tiền,”
Chuck thường nói. “Người sống mới cho.”
Ngày 14 tháng 9 năm 2020,
Chuck tham gia cuộc gọi Zoom từ căn hộ thuê nhỏ bé ở San Francisco.
Vợ ông ngồi bên cạnh. Các
thành viên hội đồng quỹ hiện đầy màn hình.
Chuck ký vào giấy tờ.
Atlantic Philanthropies chính
thức còn lại zero đô la.
Sứ mệnh hoàn thành.
“Chúng tôi đã học được rất nhiều,” Chuck nói. “Có một số việc chúng tôi sẽ làm khác đi. Nhưng tôi rất hài lòng.”
Ông dừng lại, mỉm cười nhẹ.
“Với những ai đang thắc mắc về ‘Giving While Living’: Hãy thử đi. Bạn sẽ thích.”
Chuck Feeney qua đời ngày 9 tháng 10 năm 2023, ở tuổi 92.
Ông ra đi theo cách ông đã sống trong 40 năm qua: gần như không còn đồng nào mang tên mình.
Di sản của ông rất khiêm tốn. Không có biệt thự để chia cho con cháu. Không có kho tài sản. Không có gia tài để tranh giành.
Chỉ còn lại sự mãn nguyện khi biết rằng 8 tỷ đô la đã hoàn thành sứ mệnh.
Xây bệnh viện. Giáo dục sinh
viên. Bảo vệ quyền con người. Cứu sống con người.
Điều khiến câu chuyện của Chuck Feeney khác biệt so với mọi câu chuyện tỷ phú khác là:
Ông không chờ đến khi chết mới
cho đi tài sản.
Ông không tạo quỹ chỉ chi 5%
mỗi năm trong khi vốn gốc tiếp tục sinh lời.
Ông không khắc tên mình lên
các tòa nhà hay đòi hỏi lòng biết ơn.
Ông chi hết. Nhanh chóng.
Trong khi còn có thể nhìn thấy kết quả.
Và ông làm điều đó một cách lặng lẽ đến mức trong 15 năm, giới báo chí kinh doanh thế giới tưởng ông có thể đã phá sản.
Đối tác kinh doanh tưởng ông
phá sản.
Chính con cái ông cũng không
biết cho đến khi trưởng thành.
Trong 15 năm, Chuck Feeney đã điều hành chiến dịch bí mật thành công nhất thế giới.
Và thứ duy nhất ông buôn lậu
chính là lòng nhân ái.
Tám tỷ đô la.
Tất cả đã đi.
Và tất cả đều đúng nơi ông muốn
chúng ở.
Kim Duncan chuyển

No comments:
Post a Comment