Sunday, November 2, 2025

Nghề Bẻ Cổ Thiên Hạ - Đào Văn Bình


 

Đại Quan họ Đỗ, quê cha đất tổ ở Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình, một vùng núi non hùng vĩ, sơn thủy hữu tình nhưng nghèo. Ninh Bình là vùng đất hẹp, người đông cho nên đất đai quý hơn vàng. Tổ tiên bao đời sống bằng nghề nông, đổ mồ hôi nước mắt trên vài mẫu ruộng, sống chết với ruộng đồng nhưng cuộc đời vẫn không khá. Đấy là nói về hàng trung nông, còn bần nông thì đời sống còn cơ cực gấp bội; Đã thế lại còn sai dịch, sưu thuế, đóng góp với làng nước nữa. Chỉ có tầng lớp quan lại là giàu sang, phú quý. Các quan bóc lột, bẻ đầu bẻ cổ dân ghê quá. Tới cụ cố tổ đời thứ tư, nhân có Cụ Tả Ao là bậc thánh tổ địa lý, có thể cải số Trời cho nên mới nảy ra ý định thỉnh cụ về nhà để nhờ cụ để mồ để mả cho, may đâu con cháu sau này sẽ khấm khá hơn.

 Ba tháng trời sống cung phụng  “cơm gà, cá gỡ”, Cụ Tả Ao sáng xách gậy trúc đi thăm thú khắp vùng để “tầm long, tróc mạch”, chiều tối mới về. Một ngày kia cụ ngồi giữa phòng khách, nghiêm trang hỏi gia chủ:

- Thế ông bà muốn cái gì?”

Ông bà cố tổ chắp tay, khép nép đứng bên cạnh, trong thâm tâm thì muốn nói xin cụ để mồ để mả cho con cháu sau này làm quan, nhưng nói ra thì sỗ sàng quá cho nên bẽn lẽn thưa:

- Xin cụ để sao cho con cháu sau này có thể bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ.

 Dường như hiểu thâm ý chủ nhà và cũng là để đền ơn, Cụ Tả Ao nói:

- Tôi đã tìm được một mảnh đất tốt, con cháu sau này sẽ bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ, tuy nhiên...

 Tới đây cụ dừng lại rồi nói tiếp, “Phúc phần đều do Trời định, kết phát hay không còn tùy thuộc vào âm phần phước trạch nữa.”

Nghe nói thế ông bà cố tổ mừng quá, run run nói: 

- Cảm ơn cụ. Thật phúc đức quá. Cụ dạy thế nào thì chúng con theo vậy.

Sau khi chọn được ngày giờ tốt, ngôi mộ của cụ cố tổ đời thứ năm, tức là thân phụ của ông tổ đời thứ tư được bốc lên rồi cải táng trên một gò đất cao, hai bên có hai hàng cây chạy dài xuống mà Cụ Tả Ao nói rằng đó là Tả Phù, Hữu Bật khiến nghề nghiệp của cháu con sau này rất bền vững cho dù thời thế có đổi thay thế nào đi nữa.

Cải táng xong và tin tưởng vào tài năng xoay chuyển quyền Tạo Hóa của Cụ Tả Ao, trong lòng đầy phấn chấn, ông bà cố tổ cho bán bớt đi hai sào ruộng để cho cậu con trai theo học một cụ Cử nổi tiếng hay chữ ở Nam Định với hy vọng con mình đỗ đạt ra làm quan. Thế nhưng sau sáu năm dùi mài kinh sử, hai lần thi Hương không đậu, ông con phẫn chí trở về quê ngậm ngùi nối nghiệp cha ông khi cụ cố tổ qua đời.

Cụ cố tổ đời thứ ba mà Đại Quan gọi là cụ, lớn lên trong một giai đọan mà đất nước đầy biến động...từ việc Vua Gia Long dẹp yên nhà Tây Sơn rồi tới Quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất cho nên bút nghiên, thi cử là điều không tưởng. Khi ông tổ đời thứ hai mà Đại Quan gọi là ông nội ra đời thì Thực Dân Pháp đã áp đặt được một nền cai trị vững vàng trên đất nước An Nam. Muốn ra làm quan lúc bấy giờ phải học Trường Hậu Bổ hoặc Trường Thông Ngôn. Nhiều nhân vật tốt nghiệp Trường Thông Ngôn đã trở thành Phụ Chính Đại Thần hoặc Thượng Thư cũng chỉ nhờ khả năng thông dịch tiếng Pháp cho quan lại Thực Dân. Cụ cũng muốn cho con lên Hà Nội theo học trường này, vì một khi tốt nghiệp, dù học thức chỉ là một anh thông dịch viên tầm thường nhưng chuyện làm quan Tổng Đốc là chuyện dễ dàng khi được quan Tây cất nhắc. Khi đó thì tha hồ bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ. Thế nhưng muốn được tuyển vào học phải có sự tín cẩn và giới thiệu của các quan Thực Dân hoặc quan lại An Nam thân Tây cho nên cụ đành bỏ cuộc.

Ông nội của Đại Quan sinh được hai người con trai. Người con đầu lòng chính là thân phụ của Đại Quan, ở lại làng quê để nối nghiệp tổ tiên. Theo đuổi giấc mơ con cháu làm nghề “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ” cho nên ông đã cho người con thứ- tức chú của Đại Quan lên Hà Nội để theo đuổi việc bút nghiên vì ông này lúc bé rất thông minh. Thế nhưng dù cố gắng hết mình, ông chú cũng chỉ đậu nổi bằng Thành Chung rồi làm thư ký cho một hãng buôn mà thôi. Nghe bố kể lại chuyện để mồ để mả năm xưa, khi Đại Quan chào đời, ông thân sinh ra Đại Quan vừa tức, vừa cay cú cho nên nhất quyết đặt cho đứa con trai một cái tên để thể hiện giấc mơ của giòng họ. Mới đầu ông định chọn cái tên Đỗ Quan Lớn nhưng sợ làng xóm chê cười - nghèo mà ham, cho nên đổi thành Đỗ Đại Quan. Đại Quan cũng là Quan Lớn, nhưng nho nhã và kín đáo hơn. Như vậy cái tên Đại Quan là cả một giấc mơ mà giòng họ đã ấp ủ bao đời nay.

Khi Đỗ Đại Quan được ba tuổi thì Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra, rồi Nhật chiếm Đông Dương, rồi Nhật đầu hàng, rồi Việt Minh cướp chính quyền, quân Lư Hán tràn vào, rồi Pháp trở lại. Việt Nam giống như một thân thể bầm nát bị đủ thứ loại ngoại bang giày xéo. Trong bối cảnh đất nước tràn đầy binh đao, khói lửa, đói kém, đủ thứ quan quyền đè đầu và bóc lột người dân thì một thị trấn nhỏ như Nho Quan, trẻ con được ê a hai chữ i, tờ đã là khá lắm rồi.

Vào năm 1953 chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh trở nên khốc liệt. Nho Quan là vùng trái độn. Nếu Pháp bình định được Nho Quan thì Liên Khu Tư của Việt Minh lâm nguy. Ngược lại nếu mất Nho Quan thì Pháp không sao giữ được Ninh Bình. Khi Ninh Bình không giữ được thì Nam Định sẽ rơi vào tay Việt Minh và cả vùng đồng bằng Bắc Bộ sẽ mất. Chính vì thế mà Pháp quyết đánh chiếm Nho Quan còn Việt Minh thì quyết tử thủ tại Nho Quan. Do đó có thể nói Nho Quan là nơi hứng chịu nhiều bom đạn nhất trong cuộc chiến tranh Pháp-Việt Minh. Người dân ở đây một cổ hai tròng. Thanh niên lớn lên nếu không theo Việt Minh thì cũng bị Pháp bố ráp để bắt lính. Trong một gia đình, có khi người anh đi bộ đội trong khi người em lại đi lính cho Pháp và cũng là lúc Đại Quan mười bảy tuổi. Trước tình thế nguy ngập đó, ông cụ thân sinh không còn cách nào khác là cho Đại Quan lên tá túc tại nhà người em ở Hà Nội.

Nhận nuôi Đại Quan, ông chú không biết tính sao khi nhìn cháu mình đã lớn mà không nghề nghiệp, không chữ nghĩa giữa tình thế khó khăn của Hà Nội trong thời chinh chiến. Hơn thế nữa cũng không thể để Đại Quan lêu nghêu mãi. Một ngày kia ông nghiêm trang nói với Đại Quan:

-Không phải chú thím không thương cháu nhưng cháu đã lớn tuổi. Một là đi học, hai là đi làm. Đi học thì trễ quá. Làm sao cháu có thể vào trung học trong khi chưa xong bậc tiểu học? Vả lại cháu cũng không thể sống không nghề nghiệp như thế này và có thể bị Tây bắt lính bất cứ lúc nào.

Ông chú dừng lại rồi sau giây phút trầm ngâm, ông  nói tiếp:

-Chú khuyên cháu là nên đi làm. Chú có quen biết một ông chủ hiệu hớt tóc. Cháu có thể học nghề tại đó một thời gian rồi sau này chú sẽ tính kế khác.

Là một câu trai quê mới lớn, ngơ ngác giữa lòng đô thị, lại mang thân phận ăn nhờ ở đậu, Đại Quan không còn lựa chọn nào khác hơn là nghe lời ông chú. Vả lại học nghề hớt tóc cũng có cái lạ, ít ra là bớt khổ cực hơn những ngày cày sâu cuốc bẫm ở làng quê.

 Sau hai tuần lễ học cầm tông-đơ, dao, kéo tương đối đã thành thạo, ông chú bỏ tiền mua cho Đại Quan một chiếc xe đạp, một bộ đồ hớt tóc, một chiếc ghế xếp để Đại Quan vừa thực tập mà cũng vừa hành nghề hớt tóc dạo cho trẻ em ở các ngõ hẻm hoặc ở vùng ngọai ô. Dĩ nhiên trẻ em là “địa bàn” lý tưởng để các ông thợ cúp mới ra nghề thực tập. Trẻ em, nhất là bọn trẻ con nhà nghèo thì đầu tóc quá lắm chí hớt trọc hoặc húi court (1) chứ đâu có kiểu cọ như mấy công tử Hà Nội cho nên mấy ông thợ tập sự tha hồ tung hoành. Chắc chắn đã có khá nhiều chú nhóc là nạn nhân của ông thợ Đại Quan này, nhưng đó là chuyện nhỏ, nhằm nhò gì. Rủi chú nhóc nào bị cạo béng đi một mảng tóc thì chỉ biết nếu máo chứ ăn vạ ai bây giờ?

Sau ít tháng, thấy nghề nghiệp của Đại Quan tương đối thành thạo, ông chú năn nỉ một chủ nhà ở Phố Hàng Thiếc để cho phép Đại Quan đặt một chiếc ghế hớt tóc ở ngòai bờ tường, bên dưới một tàng cây hoa đại. Thế là anh chàng Đại Quan nhà ta đã có một “cơ ngơi” để hớt tóc cho thanh niên, người lớn, ông già chứ không còn là trẻ em như mấy tháng trước nữa. Kể từ giờ phút này Đại Quan rủng rỉnh đồng ra đồng vào, không còn phải xin tiền chú thím như trước.

Trong lúc lo âu, vội vã tìm cách ổn định đời sống cho Đại Quan, ông chú không để ý chi cả, thế nhưng một hôm tình cờ ghé ngang chỗ “hành nghề” của cháu mình, nhìn Đại Quan nắn đầu, bẻ cổ khách hàng trong khi hớt tóc, cạo râu, nhớ tới việc để mả năm xưa ông giật mình, mồ hôi ông vã ra. Tối hôm đó, sau bữa cơm, ông thận trọng kể lại từng chi tiết về cuộc cải táng mộ cụ tổ bốn đời cho Đại Quan nghe. Kể xong ông nói với giọng lo lắng:

-Theo lời truyền tụng, được Cụ Tả Ao để mả cho, chậm lắm là hai đời sẽ kết phát. Cũng có khi “phát dã như lôi” tức là kết phát ngay đời thứ nhất. Thế nhưng chú không hiểu sao tới đời thứ ba vẫn chưa kết phát…và tới đời thứ tư tức đời cháu thì…cháu lại làm cái nghề …bẻ hầu bẻ cổ thiên hạ như thế này! Hay dòng họ ta phúc bạc? Hoặc cũng có thể ông bà cố tổ làm Cụ Tả Ao phật ý điều gì cho nên cụ mới chơi sỏ, hoặc Cụ Tả Ao chọn lầm đất chăng? Thật tình chú không hiểu nổi.

Nghe ông chú kể lại như thế, là một thanh niên sinh ra ở thập niên 1940, Đại Quan cũng tỏ vẻ buồn nhưng không tin tưởng lắm vào việc để mồ để mả như các thế hệ trước cho nên chàng ta nói cứng:

-Việc để mồ để mả có khi chỉ là truyền thuyết, tuy nhiên cháu chỉ làm cái nghề này một thời gian rồi chuyển qua nghề khác - vừa để cải số vừa để cho vong linh các cụ khỏi tủi thân vì có thằng chắt bốn đời phải làm nghề hớt tóc.

Nghe Đại Quan nói thế ông chú dù trong lòng vẫn còn rầu rĩ, nhưng cũng yên tâm phần nào.

Thấm thoắt thời gian qua đi rất nhanh. Chiến sự chẳng những không lắng yên mà mỗi lúc mỗi trở nên ác liệt. Rồi đùng một cái Điện Biên Phủ thất thủ, Hội Nghị Genève ra đời và đất nước chia đôi. Phân nửa người dân Hà Nội bỏ nhà bỏ cửa lên máy bay hoặc xuống Hải Phòng đáp tàu xuôi Nam. Trong tình thế hoang mang tột cùng như thế, ông chú không còn chọn lựa nào khác khi hãng buôn cũng di chuyển vào Nam. Khi gia đình chuẩn bi bán đổ bán tháo đồ đạc, giường tủ, ông chú hỏi Đại Quan là có muốn theo gia đình vào Nam hay trở về quê. Là một thanh niên mới lớn sẵn máu phiêu lưu mạo hiểm, ngòai ra cũng muốn thay đổi mệnh số, sau khi gửi thư về cho bố mẹ mà không thấy bố mẹ phản đối gì, Đại Quan quyết định vào Nam với ông chú. Để bày tỏ quyết tâm cải số, trước ngày lên máy bay, Đại Quan đem cả thùng đồ nghề hớt tóc ném xuống Hồ Tây, thề độc là sẽ không bao giờ cầm lại cái dụng cụ để  bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ” nữa.

Theo gia đình chú di cư vào Nam, tá túc ở Khu Bàn Cờ, Đại Quan choáng ngợp bởi Sài Gòn - Hòn Ngọc Của Viễn Đông. Trong lúc rảnh rỗi, chưa công ăn việc làm, Đại Quan lang thang ở các khu Chợ Vườn Chuối, Phan Đình Phùng, Trần Quý Cáp, Lê Văn Duyệt để tìm hiểu cuộc sống mới và do méo mó nghề nghiệp, chàng la cà tới mấy ông thợ hớt tóc để làm quen. Đại Quan thấy Miền Nam sao dễ thương chi lạ. Của cải thì phong phú, đời sống thì dễ dãi, tác phong thì bình dị. Khách hớt tóc không trả gía, kỳ kèo như ngòai Bắc mà còn cho tiền pour bois.(2) Buổi trưa các ông thợ cũng như các ông đạp xích-lô, tác phong như Tây, gác chân lên đọc báo nghỉ ngơi chẳng thèm làm.  Một ông thợ hớt tóc, dù tá túc ở dưới hàng hiên, một ngày kiếm năm mươi đồng dễ như chơi.

Với hy vọng tràn trề là xã hội mới, hòan cảnh mới sẽ đưa tới cuộc đời mới, từ đó giã từ cái nghề oan nghiệt “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ”. Thế nhưng mang thân phận của một kẻ di cư xa lạ, tìm kiếm một việc làm thích hợp không phải chuyện dễ dàng. Đạp xích-lô hay lái taxi thì đường xá phải thuộc làu. Phu khuân vác bến tàu thì đòi hỏi sức khỏe và vô cùng cực nhọc. Xin làm thư ký thì không đủ khả năng. Buôn bán thì phải có vốn và dù có vốn rồi nhưng biết buôn bán gì đây? Còn đi học thì lớn tuổi quá. Dù đã cố gắng hết mình và cả với sự trợ giúp của ông chú, Đại Quan cũng sao tìm ra được một nghề để mưu sinh. Thấm thoắt thế mà ba tháng đã qua. Số tiền dành dụm nhỏ nhoi nhờ làm nghề hớt tóc ở Hà Nội cũng đã cạn. Nhiều đêm trằn trọc, nghĩ tới việc kiếm tiền thỏai mái của mấy ông thợ hớt tóc, nghĩ tới lời thề độc năm xưa khi quẳng thùng tông-đơ, dao, kéo xuống Hồ Tây, mồ hôi trong người Đại Quan rịn ra. Tự ái, lo âu và bực tức giằng co dữ dội trong tâm trí khiến Đại Quan muốn phát bệnh cho đến một ngày nọ, có thể Đại Quan cũng đã muốn buông xuôi theo dòng định mệnh, cho nên rầu rĩ nói với ông chú:

-Thưa chú, thực tình cháu không muốn làm lại cái nghề “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ” nữa …nhưng có lẽ cũng chẳng còn con đường nào khác. Chú có nghĩ rằng mồ mả đã kết phát như thế thì cũng chẳng thể cải số được chăng?

Tới mức này thì chính ông chú cũng bực bội với Cụ Tả Ao, với chuyện để mồ để mả năm xưa của tổ tiên. Nhưng trước thực tế khó khăn của người cháu, chính ông cũng vô kế khả thi cho nên ông đành lên tiếng an ủi Đại Quan:

-Thôi thì cháu cứ tạm quay lại với nó một thời gian rồi chú cháu mình tính sau.

Bằng sự giúp đỡ của người chú, Đại Quan một lần nữa lại đi mua sắm tông-đơ, dao cạo râu, kéo, gương, lược rồi mướn một cái chái của một căn nhà lụp xụp ở Đường Trần Quý Cáp để hành nghề. Thế rồi do chăm chỉ, cần mẫn, khéo tay, công việc làm ăn của Đại Quan mỗi lúc mỗi trở nên khấm khá và chỉ hai năm sau đã mướn được ngay căn nhà bên cạnh để mở một tiệm hớt tóc đàng hòang với cái tên rất Tây: Coiffure Đại Quan với sự phụ tá của hai người thợ. Rồi công việc mỗi ngày mỗi thịnh vượng, Đại Quan mua lại được chính căn nhà đó và năm sau thì cưới vợ, một cô gái Nam đang làm thợ dệt cho Hãng Vinatexco.

Trên đời này người ta thường hay đổ thừa cho định mệnh hay mệnh số khi một biến cố xảy đến cho đời mình. Thế nhưng thật ra tất cả đều do quyết định của chính con người. Không một chuyện gì trên đời này mà không có quyết định của con người. Và cả anh chàng Đại Quan nhà ta cũng thế. Theo dòng thời gian, mặc dù đã là chủ một tiệm hớt tóc, đời sống dễ chịu nhưng trong thâm tâm Đại Quan lúc nào cũng mặc cảm với cái nghề đang nuôi sống mình và luôn thắc mắc về bí mật của cuộc để mồ để mả năm xưa. Trong vài năm đầu, Miền Nam tương đối thanh bình nhưng sau đó chiến tranh lan rộng và mỗi lúc mỗi trở nên khốc liệt. Vào năm 1968 khỏang 500,000 quân Mỹ đã phải đổ vào để cứu nguy sự xụp đổ của Miền Nam. Sài Gòn thì truất phế, lật đổ, đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng, giới nghiêm liên miên khiến người dân sống trong không khí ngột ngạt. Thanh niên sinh viên lớn lên không nhìn thấy tương lai - ngọai trừ tương lai động viên và nhập ngũ và không còn thứ giải trí nào khác hơn là chui đầu vào các rạp cinê hoặc các phòng trà nghe nhạc tình, nhạc ủy mị, nhạc Trịnh Công Sơn do đó phòng trà, các quán cà phê mọc lên khắp nơi. Nhìn thấy thời cơ tốt, vả lại cũng là dịp để thay đổi số mệnh, ngòai ra làm chủ một quán cà-phê nhạc trông có vẻ “nghệ sĩ” và “oai” hơn là tiệm hớt tóc cho nên Đại Quan dẹp tiệm, mở quán Café Quan. Giống như lần ở Hà Nội, chàng đem tông-đơ, dao kéo ném xuống sông Sài Gòn rồi tới Lăng Ông ở Bà Chiểu thề độc là sẽ không bao giờ cầm lại mớ dụng cụ “oan nghiệt” này nữa.

Trong khi hiu hiu ngồi nghe nhạc, ung dung với lợi tức vừa đủ của quán cà-phê,  Đại Quan có lúc mơ về tương lai. Chàng thấy trên cái cuộc đời kỳ lạ này, chẳng phải văn hay chữ tốt, bằng cấp đầy mình mới có thể làm quan. Nhỏ không học lớn lên cũng làm quan. Một ông chuyên dạy lái ô-tô cũng trở thành nghị viên Đô Thành, một bà bán hàng ở Chợ Bến Thành cũng trở thành dân biểu Quốc Hội. Rồi một ông nghĩa quân ở Gia Định cũng trở thành nghị viên Hội Đồng Tỉnh, vậy thì có gì lạ khi một ông chủ quán cà-phê trở thành một nghị viên, rồi dân biểu ? Những vị này không là quan thì là cái gì nữa? Để thực hiện giấc mơ làm quan, chàng bắt đầu tham gia vào các sinh họat của Phường, Khóm, các đám giỗ, tiệc cưới, các hội ái hữu, đăng báo phân ưu, mừng đám cưới trên các báo…để thiên hạ biết tên tuổi mình. Giấc mơ đó cứ lớn dần, sáng dần cho đến khi…đột nhiên Miền Nam xụp đổ và “Cách Mạng” tràn vào.

Hình như Sài Gòn cái gì cũng xa lạ và lạc lõng với đoàn quân dép râu, nón cối, mũ tai bèo và xe đạp thồ tràn ngập đường phố. Có lẽ đòan quân đó lạc hậu với thành phố này tới nửa thế kỷ. Vì đây là cuộc “Cách Mạng” triệt để cho nên từng núi sách vở, báo chí, băng nhạc được đem ra đốt. Phòng trà, ca nhạc, vũ trường là sản phẩm văn hóa độc hại, đồi trụy cần phải cho đi học tập cải tạo. Chính vì thế mà Đại Quan hốt hoảng đóng cửa ngay quán nhạc, phá bỏ lớp kính màu, chạy vội lên Chợ Cũ mua ngay tông-đơ, dao, kéo để mở lại tiệm hớt tóc…nhưng không dám lấy tên cũ Coiffure Đại Quan vì cái tên này nghe Tây quá. Mà giống Tây thì có vẻ “phản động” cho nên dựng một cái bảng mới: Hớt Tóc Quan.

Đối với “Cách Mạng” dù làm chủ một tiệm hớt tóc, giai cấp tiểu tư sản nhưng nó có vẻ thuộc giai cấp công nhân và gần gũi với “Cách Mạng” hơn. Nhìn thấy cả triệu viên chức chế độ cũ phải đi tù cải tạo, Đại Quan hú hồn hú vía, thầm cám ơn cụ cố tổ đã để mồ để mả cho làm nghề hớt tóc. Chứ nếu làm nghề “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ” thì giờ này đã đi tù “Mút Mùa Lệ Thủy”.

Mặc dù không bị đi tù về tội làm chủ một quán cà-phê nhưng chịu chung số phận với hằng triệu dân chúng Miền Nam: Ăn độn, làm thủy lợi, vùng kinh tế mới, họp phường, họp khóm, họp tổ…và đói giã họng ra mà kêu trời không thấu. Nhắm không thể sống nổi dưới chế độ này, năm 1979 lợi dụng nhà nước cho phép đi bán chính thức, Đại Quan trà trộn vào đám thương gia Chợ Lớn và chuyến vượt biên bình yên, tàu cặp bến Bi Đông, Mã Lai.

Khi đặt chân lên đảo tỵ nạn, thóat khỏi Việt Nam đầy ác mộng, Đại Quan thầm cám ơn tổ tiên, Trời, Phật và nghĩ rằng từ đây cho đến ngày nhắm mắt lìa đời sẽ không bao giờ phải làm lại cái nghề hớt tóc và bao mộng đẹp khi định cư vào Mỹ hình thành.

Thế nhưng giữa mộng và thực luôn luôn là một khỏang cách xa vời và có khi đối nghịch hẳn nhau. Vì chỉ là thường dân buôn bán, không thuộc diện con lai, làm sở Mỹ, cựu quân nhân, công chức, tù cải tạo cho nên Đại Quan và gia đình không đủ điều kiện đi Mỹ. Nói khác đi Đại Quan thuộc thành phần “ở mục đảo”. Ba tháng qua đi rất nhanh, nhìn những gia đình tới đảo sau mình đã có “danh sách rời trại” Đại Quan nóng cả ruột. Vì thời giờ quá rảnh rỗi, chàng lang thang trên đảo để tìm hiểu cuộc sống của đồng bào tỵ nạn. Người Việt mình quả là một sắc dân có sức sống mãnh liệt. Thôi thì đủ thứ sinh họat phồn tạp diễn ra trên đảo. Người thì trồng bầu trồng bí, người làm nghề thợ may, đồ thủ công, hàng lưu niệm, chụp hình, mở quán cà-phê nhạc Việt nhạc Mỹ xập xình và dĩ nhiên có cả nghề hớt tóc. Chợ “chồm hổm”mỗi buổi sáng trao đổi củi, cá, thuốc lá, mì gói, bầu bí v.v.. nhộn nhịp như một khu chợ nhỏ ở một quận lỵ nào đó ở Việt Nam. Vàng lận theo người bán đi để sinh sống đã cạn. Mỗi lần đi hớt tóc phải trả hai Mã Kim tức khoảng một đô-la Mỹ, Đại Quan thấy “đau hơn họan”. Thế rồi sáu tháng qua đi rất nhanh, vợ lại mang thai, cuộc sống tù túng trên đảo mỗi lúc mỗi trở nên khó khăn, tương lại định cư thì mù mịt. Sau một đêm suy nghĩ mà đầu muốn bạc như Ngũ Tử Tư năm xưa,  Đại Quan cắn răng quên lời thề độc, bán đi chiếc nhẫn cưới của vợ để nhờ giám thị Mã Lai mua cho một bộ đồ hớt tóc. Hôm nhận hộp đồ nghề “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ”, nước mắt Đại Quan trào ra.

Thế nhưng có lẽ do “tổ đãi” hoặc do mồ mả kết phát, giống như ở Sài Gòn, Đại Quan bắt đầu sống thoải mái, có tiền để mua thêm đồ ăn, sắm quần áo mới, giầy dép mới, máy Cassett Radio để nghe nhạc và mua được cả vàng do dân tỵ nạn mới đến đảo bán đi để sinh sống. Cuộc sống trong khắc khỏai, lo âu vì chờ đợi nhưng thỏai mái về tài chánh so với dân tỵ nạn khác cứ như thế kéo dài ba năm.

Chính phủ Mỹ quả là một chính phủ nhân đạo. Đối với những người “ở mục đảo”, tức không đủ điều kiện đi Mỹ, cứ một hai năm họ cho mở lại hồ sơ để cứu vớt một số, đặc biệt là các gia đình có con nhỏ. Dân tỵ nạn gọi hành vi nhân đạo này một cách nôm na bằng danh từ “hốt rác”. Thế là vợ chồng Đại Quan cùng hai con nhỏ được phái đòan Mỹ “hốt rác” và cho chuyển qua Trại Sungei Besi cũng thuộc Mã Lai rồi Trại Bataan, Phi Luật Tân học Anh Văn sáu tháng để định cư.

Thật mâu thuẫn, giống như những lần ở Hà Nội và Sài Gòn trước đây, dù nghề hớt tóc đã là cái phao giúp Đại Quan vượt qua những giờ phút ngặt nghèo nhưng lúc nào Đại Quan cũng căm hận cái nghề oan trái này. Hôm rời Đảo Bi Đông, Đại Quan ra cầu tàu, quăng  bộ đồ hớt tóc xuống biển cùng với lời thề độc giống như năm xưa.

Thấm thoắt thời gian sáu tháng ở Trại Chuyển Tiếp Bataan - Phi Luật Tân qua nhanh. Ngày rời Phi định cư vào Mỹ là cả nỗi hân hoan cho gia đình và tương lai rộng mở. Do không có thân nhân ở Mỹ, Đại Quan được một hội thiện nguyện bảo lãnh. Thế rồi cũng do sự giúp đỡ của hội thiện nguyện, gia đình Đại Quan xin được welfare, food stamps rồi xin được housing tức trợ cấp nhà ở. Thời điểm bấy giờ là năm 1982, kinh tế Mỹ phồn thịnh cho nên chính phủ cho các gia đình có con nhỏ ăn welfare “mút chỉ” tới 18 tuổi mới thôi. Nếu tiếp tục sinh con đẻ cái thì lại ăn welfare tiếp…tức là có thể ăn welfare mãn đời.

Không phải loại người làm biếng chủ trương sống bám vào welfare, nhiều lần vợ chồng tính nạp đơn xin làm assembler tức thợ lắp ráp điện tử, thế nhưng được một số vị khôn ngoan đến Mỹ trước, khuyên: “Xứ Mỹ này rất kỳ lạ; Một là thật giàu, hai là thật nghèo. Vô sản thì chính phủ lo hết. Trung trung đứng ở giữa, đi làm đóng thuế sặc máu, về già lại không có MediCal. Trên đời này không có gì sướng bằng ăn welfare, ở nhà housing và đi làm chui lãnh tiền mặt. Nhiều người có tiền, nhờ thân nhân, con cháu đứng tên mua nhà cho thuê sống sung sướng lắm ông bà ơi!”

Trong những lúc rảnh rỗi chạy qua hàng xóm láng giềng tán dóc, hoặc la cà vào các khu thương mại người Việt dò hỏi, đâu đâu người ta cũng nói như vậy. Khi được biết Đại Quan đã có thời làm thợ hớt tóc ở Việt Nam, một số bạo miệng khuyên, “Sao ông không mua bộ đồ hớt tóc về nhà làm chui? Chẳng thuế má gì cả mà cũng chẳng ảnh hưởng tới welfare. Tiền không đấy ông ơi!”

Nghe nói tới việc trở lại làm nghề hớt tóc Đại Quan choáng váng cả mặt mày. Thế nhưng nếu đi làm thì welfar, housing bị cúp, lúc đó lại phải đi thuê nhà mỗi tháng cả ngàn đô-la, về già lại không có MediCal. Còn nếu cứ ở không như thế này thì thật uổng phí. Không giống như Việt Nam, ở Mỹ “lao động là vinh quang” có làm là có ăn, thời giờ là tiền bạc.  Thế là tâm trí Đại Quan một lần nữa lại giằng co dữ dội, dữ dội hơn cả những lần còn ở Việt Nam. Thế nhưng cuối cùng tiền bạc đã thắng. Tiền bạc như một thần lực, nó thắng luôn cả tự ái lẫn những lời thề độc năm xưa. Đại Quan một lần nữa lại đi mua sắm tông-đơ, dao, kéo, gương, lược để trở lại nghề hớt tóc ngay tại nhà mình.

Giống như được “cô độ”, công việc của Đại Quan lại trở nên phát đạt. Các ông bạn hàng xóm tới với Đại Quan vừa để ủng hộ đồng hương vừa là dịp uống trà, tán dóc. Hơn thế nữa, theo phong tục không biết có từ đời nào, hớt tóc ở Mỹ không có cạo mặt, không cạo râu, không lấy ráy tai mà phải trả 10 đô-la. Tới Đại Quan chỉ phải trả 8 đô-la thôi, vừa kỹ lưỡng, lại có đủ thứ và “báo chợ” đọc chơi. Mỗi buổi sáng Đại Quan rảo qua văn phòng các bác sĩ, nha sĩ nhặt báo đem về cho bạn bè và khách hàng. Nhà của Đại Quan giống như một “business” nho nhỏ và vui vui. Thế là Đại Quan một lần nữa tiền bạc rủng rỉnh, mỗi tháng kiếm hai, ba trăm đô-la dễ như chơi và  bắt đầu có dư để gửi về Việt Nam biếu gia đình bố mẹ ở Ninh Bình và ông chú ở Sài Gòn.

* * *

Với cuộc sống tương đối ổn định, trông lên thì chẳng bằng ai nhưng trông xuống thì chẳng ai ung dung bằng mình. Trong những lúc vắng lặng, Đại Quan suy nghĩ vẩn vơ. Xã hội Mỹ trông bề ngòai phồn vinh như thế nhưng đầy rẫy bấp bênh và đổi thay như chong chóng. Có những ông, nhà cửa đáng giá bạc triệu, đi xe Mercedes, tiền để ngân hàng, chơi stock bỗng nhiên ra homeless (3) sau khi ly dị vợ. Còn kỹ sư điện tử thất nghiệp, không sao tìm được việc phải đi bỏ pizza hoặc làm bồi cho nhà hàng. Nhìn thằng con đầu lòng sinh ở Sài Gòn giờ đã lên đại học, nghĩ tới việc để mồ để mả của tổ tiên, nhìn lại đời mình Đại Quan thấy có thể Cụ Tả Ao năm xưa đã chọn lầm đất khiến con cháu thay vì  ra làm quan lại đi làm nghề hớt tóc. Định mệnh đó theo đuổi mãi dù đã chạy qua tới đất Mỹ. Liên tưởng tới ngày thằng con trai mình ra trường đậu bằng kỹ sư, lấy vợ, rồi vợ chồng bất hòa ly dị, rồi trắng tay biết đâu nó chẳng phải làm nghề hớt tóc như bố nó ngày hôm nay?  Đại Quan rầu rĩ chia xẻ ý nghĩ này với vợ:

-Bà à, sao tôi lo quá. Tôi sợ rồi đây việc để mồ để mả linh thiêng của Cụ Tả Ao sẽ lại ứng nghiệm. Biết đâu đến đời thằng con mình nó cũng lại làm cái nghề “bẻ đầu bẻ cổ thiên hạ” như tôi?

Nghe nói thế, bà vợ thay vì lên tiếng an ủi, bà “xì” một cái rồi nói:

-Trời đất ơi! Ông ở Mỹ mà cứ như còn ở Việt Nam. Cụ Tả Ao là bậc thánh tổ địa lý. Cụ thương dòng họ mình và biết  chắc rằng thằng chắt năm đời sẽ lưu lạc qua đất Mỹ cho nên cụ mới để mả cho nó làm nghề hớt tóc. Nếu như cụ để mả cho anh làm quan thì năm 1975 đã đi tù “mút mùa lệ thủy” rồi, qua đây làm nghề gì để sinh sống? Bộ anh tưởng một tháng kiếm hai, ba trăm đô-la “tiền tươi” (4) dễ lắm hả? Ở Mỹ này có tiền mua tiên cũng được. Thằng con mình nó giỏi tiếng Anh, nếu nó có theo “nghiệp tổ” thì nó sẽ phát triển thành năm, ba tiệm. Khi có tiền rồi thì nó làm gì mà chẳng được. Ông không thấy một ông Việt Nam làm nghề thầu rác vừa được tổng thống bổ nhiệm làm Phụ Tá Giáo Dục Tòa Bạch Ốc sao? Có tiền đóng góp cho mấy ông ứng cử viên tổng thống. Đắc cử rồi thì ông ấy cho mình làm quan. Ở Mỹ có tiền mua tiên cũng được ông ơi!

Nghe bà vợ nói thế mặt Đại Quan xụ xuống. Sau một hồi ngồi như kẻ mất hồn, chàng ta lẩm bẩm một mình:

-Ử, con mẹ trông nhà quê thế mà nói cũng có lý. Biết đâu thằng con trai mình sau này làm nghề hớt tóc phát đạt, góp tiền tranh cử cho các ứng cử viên thống đốc, tổng thống rồi sau đó được các ông ấy bổ nhiệm làm quan, tha hồ “bẻ đầu bẻ cổ” thiên hạ. Mình lẩm cẩm quá!


Đào Văn Bình

(Trích tuyển tập truyện ngắn Mê Cung, Ananda Viet Foundation xb năm 2019, Amazon phát hành)

(1) cắt tóc ngắn

(2) tiền típ, tiền trà nước

(3 ) lang thang không cửa không nhà như gã ăn mày

(4) tiền mặt và không phải đóng thuế

Biển Tình - Nguyễn Duy Phước

Tiếng Vọng Của Chiếc Ghế Mây ! - Sỏi Ngọc


Mỗi lần tôi ngồi vào bàn học là tiếng dập dình của chiếc ghế đong đưa ở tầng trên lầu, vang lên đều đặn, tôi thấy thật khó tập trung. Hình như giờ tôi học bài trùng với giờ ông Steve xem TV hay sao đó, mà cứ mỗi lần tôi học bài là y như rằng tiếng ghế lại kẽo kẹt, còn trước đó thì không nghe gì cả!


Nhà ba mẹ tôi ở tầng dưới, cho thuê tầng trên lầu, gần khu Phước Lộc Thọ, thành phố Westminster, thuộc quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ, nơi đây là mạch sống, là trái tim của Little Saigon nên rất đắc địa, ai mà bỏ đi là có người vô thuê ngay, nên ba mẹ tôi chọn lựa khách theo ý mình một cách dễ dàng.

Nghe mẹ kể là hôm đó ông David đến gặp mẹ mướn nhà và ký bail, ông này cao ráo, to con, khoảng 60 tuổi, làm cho chính phủ, ông đưa cho mẹ xem giấy tờ ông đi làm ở đâu, lương hướng, hồi trước tới giờ có nhà ở, bây giờ ông bán nhà vì không muốn nhức đầu phải cắt cỏ, sửa chữa, trả taxes… Ông chỉ muốn đi ở mướn, một thời gian chỗ này, rồi sau này qua chỗ khác cho vui khi về cuối đời, khỏe thân. 

Khu Phước Lộc Thọ là nơi ông thích nhất vì phía sau của khu sầm uất này là nơi nhà ở rất yên tĩnh, mọi người lại lịch sự nên ông thích lắm, tiền có hơi cao hơn chỗ khác, nhưng đối với ông không thành vấn đề; ông nói với mẹ là ông sẽ ở với một người bạn nữa, hai ông sẽ chia mọi chi phí với nhau. 

Ngày David và Steve dọn vô, tôi đi học, chỉ có ba mẹ ở nhà thôi, hai ông bà lớn tuổi nên cũng không giúp gì được cho hai ông trong việc dọn nhà, đồ đạc cũng không nhiều, nên hai ông này chỉ có một chuyến xe nhỏ chở đồ đạc là xong tất cả. 

Mẹ kể lại chỉ có David khiêng đồ giúp những người dọn nhà, còn Steve dáng người nặng nề, bụng phệ, chỉ lên lầu thôi đã thấy mệt rồi, chứ đừng nói đến việc khiêng vác!


Một tháng trôi qua sau ngày có người mướn nhà, chúng tôi thấy lạ, vì ở tầng trệt mà không bao giờ nghe một tiếng động nào cả từ trên lầu ngay cả ngày cuối tuần, tôi hỏi mẹ:

– Mẹ có bao giờ nghe tiếng chân hay tiếng nói từ trên lầu vọng xuống không? Con thấy lạ quá, hai ông này người cũng to lớn, mà… sao đi nhẹ ghê!

– Ừ nhỉ, mẹ cũng chả thấy ồn ào gì cả, ban ngày thì chắc hai ông đi làm từ sáng, chỉ có buổi tối mới về nhà thôi, mà cũng không nghe tiếng bước chân, nhưng có nghe tiếng cửa đóng và khóa. 

Ba tôi chen vào:

– Chắc hai ông này có trải thảm, hay họ sợ làm phiền mình nên không dám đi mạnh? Có thể sàn mình mới làm lại nên cách âm!…

– Nếu nói là sàn mình cách âm thì tại sao người mướn trước, mình cũng nghe tiếng bước chân của họ?

– Tại vì họ không để thảm đó mẹ, với lại họ có một người con trai tuổi nhỏ nên dĩ nhiên là làm nhiều tiếng động rồi. 

Để cho mẹ và tôi không cãi qua lại nữa, ba tôi chấm dứt:

-… Thôi… Để đầu tháng sau, tôi sẽ lên lấy check, nhân tiện để ý xem cách họ làm sao mà không gây tiếng động!


-oOo-

Vừa đi học về, định bước vào nhà, tôi gặp một ông chừng 61, 62 tuổi, bước ra từ xe taxi, dáng người mập mạp, tướng đi phục phịch, đi cùng hướng về nhà với tôi, cả hai chúng tôi cùng bước lên những bậc tam cấp để vào nhà. Tôi đoán là một trong hai ông mướn tầng trên lầu, tôi nhoẻn cười chào:

– Chào chú… cháu hân hạnh được làm quen chú, cháu là con gái của ba mẹ ở tầng dưới nhà…

– Oh vậy à, hân hạnh được biết cô… Chúng tôi mới dọn vô tháng vừa qua…

– Chú có thích nơi này không ạ?

– Rất thích!… yên lặng nhưng lại rất gần gũi với mọi dịch vụ… À tôi tên là Steve…

– Còn cháu tên là Mây.

Những bước chân của Steve rất khập khiễng và nặng nhọc, mặt ông bỗng nhiên nhăn nhó, mồ hôi tươm ra đầy trán, tôi vội vàng lại gần để giúp ông ngồi xuống ngay bậc tam cấp để nghỉ, ông thở khó khăn, vừa nói vừa ra dấu:

– Lấy… lấy thuốc trong… túi áo…

Tôi vội vàng vứt cái cặp ngay xuống đất, để rảnh tay lục túi áo phía trước xem có thuốc không, ông lắc lắc đầu, nói trong hơi thở:

– Thuốc… bên trong áo…

Tôi lại lục lọi một hồi bên trong áo một cách khó khăn, vì khi ông ngồi xuống bệ thềm, ve áo bị ông đè xuống dưới nên muốn mở áo để lấy thuốc, phải kéo mãi cái mép áo mới rơi ra được. Tìm ra chai thuốc, tôi lính quýnh mở nắp, làm đổ hết xuống sàn gạch, ông lắp bắp:

– Nước… trong…túi…

Tôi lại vội vã lục, vừa lục vừa nhìn mặt ông vì thấy hai mắt ông nhắm chặt, mồ hôi vã như tắm, hơi thở lại đứt quãng, tôi sợ ông bị gì, nên luôn miệng hỏi:

– Chú ơi, cháu gọi ambulance nhé? 

Ông xua tay, lắc đầu, cố gắng nói một cách mệt nhọc:

– Không! Không!… Đừng gọi… đừng…

– Nhưng chú có sao không? Có thở được không?

– Nước… Thuốc…

Không chậm trễ, tôi nhấc đầu ông lên, bỏ vào miệng ông hai viên thuốc và cho ông uống nước.

Viên thuốc vừa trôi qua cổ thì ngay lập tức, như có phép màu, ông trở lại bình thường như không có chuyện gì xảy ra! Vừa lau trán, ông kể cho tôi nghe:

– Tôi mới ra khỏi viện hôm nay, đã ở đó cả tháng rồi… nên không muốn quay trở lại đó nữa đâu, chết tôi cũng bằng lòng! Cám ơn cháu nhiều lắm đã giúp tôi tìm thuốc, tìm nước cho tôi uống, nhờ những viên thuốc thần thánh này, làm nở đường dẫn máu ra thì máu mới chạy vào tim, óc cho tôi sống, tôi bị bệnh tiểu đường type 2, rất nặng, đang được bệnh viện theo dõi, tôi chỉ ngồi thôi, chứ đi thật khó khăn…

– Rồi sao ông có thể đi làm được mỗi sáng?

– Chỉ có mình David đi làm thôi, còn tôi… ở nhà, tôi đi nhà thương thì có… Những lần cô thấy cả nhà yên lặng là tôi ở nhà thương đó, tôi ở đó nhiều hơn ở nhà!

– Vậy à, hèn chi cháu chả bao giờ nghe tiếng động của hai chú trên lầu.

– Mỗi lần tôi ở nhà thương là David cũng vào trông nom tôi, ông ấy thật dễ thương, tốt lắm… Chúng tôi ở với nhau đã 34 năm rồi …

Tôi nói một cách ngây thơ:

– Hai chú ở chung với nhau… 34 năm?? Thật là một tình bạn đẹp!

– Thật ra mà nói, chúng tôi là… những người đồng tính LGBTQ… Tôi không có chút xấu hổ gì để mà giấu nữa vì thời đại chúng ta bây giờ đều rất cởi mở mà phải không? Tôi chỉ lo một điều…. 


Tôi quay lại nhìn thẳng vào đôi mắt Steve, ánh mắt mỏi mệt, đầy ngập nước long lanh, rồi nước mắt tuôn rơi, tôi ngại ngùng:

– Chú ơi, chú nhiều cảm xúc quá… chú có muốn lên lầu nằm nghỉ không? Cháu đỡ chú lên nhé!

– Không, không! Tôi muốn ngồi đây cho mát, để tôi nói chuyện với cô một chút… Cô có bận gì không?

– Dạ không, chú cứ nói đi, cháu sợ ngồi đây gió quá sẽ làm chú lạnh, bệnh thêm!Steve nhìn xa xăm như đang nhớ về cuộc đời đầy sóng gió một thời của ông, rồi chậm rãi kể

– Cách đây gần 47 năm, khi tôi mới 13 tuổi, tôi khám phá mình không phải là thằng con trai bình thường như những đứa trẻ khác, tôi chỉ cắm đầu vào học, không ra ngoài chơi, không muốn cả đến nhà bạn chơi, tôi sợ chúng nó phát hiện ra tôi không giống chúng nó, sẽ cười nhạo thì làm sao tôi sống nổi, nên cứ đi học về là trốn trong phòng; gia đình tôi có hai anh em, ba mẹ tôi cả ngày cãi nhau, không ai để ý đến các con, chúng tôi cứ lớn lên như những cây sậy tự nhiên trong rừng, em gái tôi sau này lấy được người chồng tốt, chả ai biết tôi là thằng con trai không bình thường cả. Ba mẹ tôi sau đó ly dị, tôi lại càng sống cô độc trong cái vỏ ốc buồn xám ngoét, đã mấy lần tôi định quyên sinh mà cả nhà chả ai hay!

Cứ vật vờ không mục đích, cho đến năm 18 tuổi, năm mà gia đình của David dọn đến ở cùng xóm, hắn cũng thế, cũng trốn ở nhà, mà còn tệ hơn tôi, là hắn thích để tóc dài và rất hay mắc cỡ, lúc nào cũng mút ngón tay cho dù đã lớn; chúng tôi học cùng trường đại học, cái nhìn đầu tiên là tôi biết ngay hắn cũng là LGBTQ như tôi. 

Thế rồi duyên đưa đẩy, chúng tôi yêu nhau trong vụng trộm, cả hai chúng tôi rất hạnh phúc và yêu đời, cuộc sống lúc đó không còn nhàm chán nữa, chúng tôi sống vì nhau, quấn lấy nhau ngày đêm như hai con sam, nhưng bề ngoài là hai thằng con trai, nên không ai phát hiện ra cả. 

David học đại học về hành chánh, tôi học về luật, chúng tôi học rất giỏi, động viên nhau, chúng tôi ra trường với điểm số lớn. 

Một ngày David qua nhà tôi chơi, thấy trong nhà không có ai cả, chúng tôi đã ôm hôn nhau ngoài phòng khách, không ngờ là cái camera mẹ tôi để ở góc tủ quay hết mà tôi không biết, mẹ sợ trộm nên đã gắn camera giấu trong góc kẹt, đến chiều mẹ đi làm về mở ra xem thì thấy cảnh hai đứa chúng tôi như vậy, mẹ mới biết tôi là người đồng tính. Vào thời đó thì gia đình nào có con như thế là một điều xấu hổ, mẹ đã lôi tôi ra đánh cho tôi một trận, thấu trời xanh, cho đó là một bệnh mà tôi bị lây của những đứa hư hỏng, rồi bắt tôi phải sửa lại bản thân mình…


Không cho tôi tiếp xúc với David nữa, nhưng gia đình bên David thì lại chấp nhận con trai mình như thế, họ bằng lòng sống với thực tế như vậy. 

Mẹ đuổi tôi ra khỏi nhà từ đó, tôi đã học xong đại học, đã 26 tuổi, tôi đã ra đi làm rồi, nên việc mẹ tôi từ bỏ không làm tôi đau khổ lắm. 

David yêu tôi, theo tôi từ đó, từ khi chúng tôi 26 cho đến hôm nay, 60 tuổi, đã 34 năm trôi qua, tôi chưa từng bao giờ trở về thăm mẹ. Đã bao lần tôi phone về, mẹ chỉ chửi mắng tôi xối xả không thương tiếc, mẹ còn nói sẽ không bao giờ nhìn lại tôi nếu tôi không từ bỏ cái hình hài ghê tởm ấy đi! 

Nhưng đâu phải tôi muốn thế mà chính là ông Trời đã sanh ra tôi như vậy! 

Mẹ đã nguyền rủa tôi, nói sẽ mãi mãi không muốn nhìn thấy tôi cho đến ngày mẹ mất! 

Tôi muốn tìm lại em gái, cũng không sao tìm ra, không biết cô ta có còn ở Mỹ hay đã theo chồng về Spain. 


-oOo-

Mùa thu tới khi trời bắt đầu gió lạnh, cây cối đổi màu đỏ vàng, tôi nghe tiếng chân Steve lết trên sàn nhà nặng trịch, nhưng mỗi lần nghe thấy tiếng động trên lầu, tôi thấy vui vui, nghĩ cả hai ông đều mạnh khỏe, ở nhà, không ai bị vào nhà thương cả, rồi nghe tiếng dập dình hạnh phúc của chiếc ghế mây, biết có người đang ngồi đong đưa trước TV. 

Tôi tập quen với tiếng động của chiếc ghế ấy mà không còn thấy phiền hà gì nữa. 

Mỗi tối đi học về trễ, nhìn lên lầu chiếc đèn ngay góc nhà, hắt ra màu vàng thật ấm cúng, một thứ tình cảm lạ lùng len lén trong tâm hồn, tôi thấy thương hai ông, cảm phục mối tình họ gắn bó keo sơn từ 34 năm nay, sướng khổ, bệnh hoạn cùng nhau trải qua chứ không phải như người ta thường nói là cuộc tình của những người đồng tính thường chóng vánh, chỉ sống chơi cho vui vài năm tháng rồi chán, bỏ nhau.

Steve thích trồng cây cảnh, ông trồng một vài cây xương rồng trong nhà, lên hoa đỏ thật dễ thương; còn David thích làm bếp, nhất là món cá salmon với cà chua và nấm, buổi tối David hay làm cho mỗi người một ly trà tisane chanh gừng khi xem tv, cả hai rất ít nói, sống thật chan hòa.


-oOo- 

Sau một tuần gia đình chúng tôi đi nghỉ hè từ vùng biển về, từ đàng xa đã thấy xe cảnh sát, xe ambulance, xe chữa lửa, chớp nháy đèn, họ chặn từ đầu đường Magnolia cho xuống tuốt phía dưới, chúng tôi phải ngừng taxi ở đó, đưa ID cho cảnh sát coi để biết là nhà chúng tôi trong khu này để được vô.

Người cảnh sát khi đọc đến dòng địa chỉ thì mở mắt thật lớn, gọi người chỉ huy ra nhỏ to một hồi, rồi họ chụm đầu vào nhau nói chuyện… Một lát, mời chúng tôi vào một chỗ vắng:

– Ông bà hãy bình tĩnh nhé!… Chúng tôi báo cho ông bà biết là nhà ông bà có người  … chết! 

Ba mẹ tôi trợn mắt ngạc nhiên, như không tin vào tai mình, ba tôi nắm chặt cái thành xe cảnh sát cho vững, lắp bắp:

– Ông nói sao? Nhà tôi… có người chết?… Là ai?… Hồi nào?… tại…sao?

– Ông bà có nhà cho mướn trên lầu phải không?

– Phải rồi!…Ai là người chết?

– Steve!

– …Hồi nào?

– Cách đây hai ngày!

– Bây giờ mới phát hiện à…Tại sao không có ai ở nhà canh ông ta hay sao?

– Trong lúc David, bạn ông ta đi vắng khoảng chừng hai ngày.

– Sao không gọi ai đến canh trong lúc đó?

– Chúng tôi đang điều tra vụ này… Nhưng chắc ông bà sẽ ngồi ở lại đây cho đến khi nào chúng tôi xong thì ông bà mới vào nhà được.

– …Ok…. 

Chúng tôi thẫn thờ nhìn nhau, mặt mẹ tái nhợt, đôi mắt chợt đỏ au như một tuần không ngủ, còn tôi không chịu nổi cú shock, dựa đầu vào vai mẹ tức tưởi khóc, thương cho số phận của Steve, ông ra đi hưởng dương 60 tuổi!! 


-oOo-

Cảnh sát cho chúng tôi biết khi David vừa rời đi, tối hôm đó Steve bị stroke trong lúc ngồi đong đưa xem TV ở chiếc ghế mây, ông ra đi trong cơn ngủ gà gật, rất nhẹ nhàng, không đau đớn…Mọi người cho đây là sự giải thoát khỏi bệnh tật của Steve. 

Khi David về đã thấy Steve nằm yên trên ghế, hai tay thõng xuống, đầu ngoẹo sang một bên. 

David tiếp tục ở lại tầng trên thêm một năm nữa, lặng lẽ, mỗi sáng đi làm, nhìn dáng vẻ của ông rất bình thường, nhưng trong tâm hồn chắc rạn vỡ với bao kỷ niệm của người mình từng gắn bó yêu thương từ thuở nhỏ; ông ráng tìm cha mẹ và em gái của Steve nhưng vẫn không tìm ra tông tích, mặc dù có nhờ cả cảnh sát, thám tử tư… 

Hết bail, David giã từ gia đình tôi:

– Tôi không thể nào chịu đựng nổi, mỗi tối ngồi trước TV, tôi đều chảy nước mắt, nhớ bóng dáng Steve ngồi đong đưa ở chiếc ghế bên cạnh, có lúc tôi tự nói chuyện mà tưởng là có hắn ngồi đó, khi quay lại thì chẳng thấy ai hết!… Lỗi tại tôi, tôi vô cùng hối hận, hãy cho tôi “đi theo” hắn… đừng để tôi bị dằn vặt thế này suốt cuộc đời còn lại! 

Từ ngày David ra đi, tầng trên lầu vẫn bỏ trống, ba mẹ chờ người khách mới, tôi vẫn học bài như thường lệ…. 

Nhưng một buổi tối, cả khu vườn sau không có ánh trăng, gió vần vũ thổi, lá cây rơi xào xạc, những cành cây khô lắc rắc rơi, ba mẹ tôi đã vào phòng ngủ, chỉ một mình tôi ngồi học bài.


Chợt tiếng… dập dình của chiếc ghế mây quen thuộc đâu đây lúc mờ lúc rõ ở tầng trên…

 

Sỏi Ngọc 

Montreal, Oct’25

(Kể lại câu chuyện có thật của anh Ba H)  

Hoa Vô Ưu - Trầm Vân

Saturday, November 1, 2025

FLOWERS Of The World - Names Of 100 Different Types Of Flowers

Nhốt Con Vịt Già Đã Làm Hại Không Biết Bao Nhiêu Người Rồi: “Tự Cứu Mình Khi Lên Cơn Đau Tim” - Huỳnh Chiếu Đẳng

 

From: Lang Pham <langpham5@

Date: Tue, Jul 29, 2025 at 12:08 AM

Subject: Fwd: Tự Cứu Mình Khi Lên Cơn Đau Tim

Xin kính chuyển.

LTPP 

Tự Cứu Mình Khi Lên Cơn Đau Tim

Monday, May 5, 2025

HÔM NAY MÌNH TRỊNH TRỌNG TUYÊN BỐ MỘT ĐIỀU QUAN TRỌNG MÀ MỌI NGƯỜI NHẤT THIẾT PHẢI GHIM TRONG ĐẦU ĐỂ TỰ CỨU MÌNH KHI GẶP NGUY !

Đó là khi lên cơn đau tim ngay lập tức cố đứng thẳng lên và ho thật mạnh. Rặn ra mà ho nhé ! Ho liên tục thì sẽ qua được cơn đột quỵ ! Chỉ có cách duy nhất này là giúp được bạn thôi !


Cách này mình cũng học trên mạng và được sử dụng cách đây hai ngày. Trên xe lúc du lịch trở về tự nhiên mình lên cơn đau tim (trước đây tim mình rất khỏe không có vấn đề gì). Đau khủng khiếp, lúc bấy giờ mình nhớ ra có bài bày cách chữa này nhưng không nhớ như thế nào. Mình nghĩ chắc có cục máu đông ở động mạch tim nên day day mà không đỡ. Mình tính hít thở sâu nhưng không hít thở được. Lúc này hơi thở chỉ ngắn bằng 1/5 hơi thở bình thường thôi. Chừng một phút trôi qua mình mới nói với ông chồng ngồi bên cạnh : "Em bị đau tim !". May quá lúc trước mình có phổ biến kiến thức chữa đột quỵ cho ông ý ! May quá ông ý nhớ nên nói : "Ho đi... Ho mạnh ra !". 

Mình nghe tới đây nhớ bài liền, thế là ho hết cỡ luôn. Chừng sau năm tiếng ho tim giảm đau nhiều. Lúc này đã thở được bình thường. Thế là mình ho cho hẳn 20 cái luôn, cơn đau chấm dứt luôn. Xin cảm ơn người đã phổ biến kiến thức này ! Kiến thức này là tuyệt chiêu nên mong mọi người hãy lưu giữ và phổ biến rộng rãi nhé ! Vì nguyên nhân gây ra chuyện này là cục máu đông, thế nên sau khi qua cơn đau hãy uống một ly cam sành hoặc nước chanh để ngừa đông máu.

Hãy duy trì việc uống nước cam trong tuần tiếp theo. Khi đi xa nên phòng ngừa mang theo vỉ thuốc Aspirin (thuốc chống đông máu) để uống khi qua cơn đau.

Sưu Tầm

Tuy là mẹo, nhưng có cơ sở khoa học được chứng minh, đều có kết quả tốt quí vị ơi, (mà bản thân tôi đã trải nghiệm qua trước đây trong cơn đau tim (Heart Attack).Một cách sơ cứu hiệu quả trước khi y, bác sĩ can thiệp tại Bệnh Viện.


HCD: Thưa quí bạn,

Đây là một ví dụ điển hình về thông tin lan truyền có thể nguy hiểm cho người tin theo

Vì thấy đây là chuyện sống chết cho người không may, nên tôi đành lên tiếng có khi làm mất lòng một số bạn. Xin thông cảm.

Những điểm sai 

- Ho mạnh để tự cứu khi đau tim:

- Sai và nguy hiểm nếu áp dụng sai tình huống. Kỹ thuật gọi là “Cough CPR” (ho để hồi sức tim phổi) không có kết quả trong trường hợp đau tim (heart attack) mà chỉ có thể áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt của rối loạn nhịp tim (arrhythmia) khi bệnh nhân đang được theo dõi tại bệnh viện.

- Các tổ chức uy tín như Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Cleveland Clinic đều không khuyến cáo kỹ thuật này cho người dân tự thực hiện.

- Gọi cơn đau tim là “đột quỵ”:

- Sai về mặt y học. “Đau tim” (heart attack) và “đột quỵ” (stroke) là hai tình trạng hoàn toàn khác nhau. Đau tim liên quan đến tắc nghẽn động mạch tim, còn đột quỵ là do tắc nghẽn hoặc xuất huyết mạch máu não.

- Uống nước cam hoặc chanh để ngừa đông máu:

- Sai Chưa có bằng chứng khoa học rõ ràng. Vitamin C có thể tốt cho sức khỏe tim mạch, nhưng không thay thế được thuốc chống đông máu. Việc khuyên uống nước cam sau cơn đau tim để ngừa đông máu là thiếu cơ sở khoa học.

----

- Mang theo Aspirin để uống sau cơn đau tim:

- Có phần đúng, nhưng cần lưu ý:

- Aspirin có thể giúp làm loãng máu trong trường hợp nghi ngờ đau tim, nhưng phải được sử dụng đúng cách và theo hướng dẫn của bác sĩ.

- Nếu có triệu chứng đau ngực nghi ngờ đau tim, nên gọi cấp cứu ngay lập tức, không nên trì hoãn để tự điều trị.

---

Những điều nên làm khi nghi ngờ đau tim

- Gọi cấp cứu ngay (911 hoặc số khẩn cấp địa phương).

- Ngồi hoặc nằm nghỉ, tránh gắng sức.

- Nếu có Aspirin và không dị ứng, có thể nhai một viên 325mg (theo khuyến cáo của Harvard Health) trong lúc chờ cấp cứu.

- Không cố gắng ho mạnh hay tự điều trị bằng mẹo chưa được kiểm chứng.

---

Kết luận

Dù cho nó làm như là xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân, bày biểu trên không đúng về mặt y học và có thể gây nguy hiểm chết người nếu làm theo, Việc lan truyền thông tin như vậy cần nên kiểm chứng trước khi chia sẻ rộng rãi.


Huỳnh Chiếu Đẳng  (Quán ven đường)

Đi Đó Đi Đây Rồi Cuối Cùng Vẫn Thấy Ở VN Là Tuyệt Vời Nhất, Phải Không Chị? - BS. Lê Nhàn


Đi đó đi đây rồi cuối cùng vẫn thấy ở VN là tuyệt vời nhất, đúng không chị?

Mình đã nghe được câu này rất rất nhiều lần và ngay cả con bé PT nó cũng nói với mình như thế.

Đi đó, đi đây là đi thế nào? Đi kiểu gì? Đi tới nơi có nhiều hoa, nhiều cảnh đẹp rồi bô lô ba la, rồi chụp hình, chụp hình, chụp hình... post facebook khoe khoang, chấm hết.

Như vậy thì đúng là không có nơi đâu bằng cái nơi mà mình ngồi xuống i ả nhiều lần nhất :

Để cô nói cho con nghe nè. Cô mới đi Úc về, thôi thì cô kể chuyện ở Úc thôi nhé chứ mấy chỗ kia tạm quên nó đi, khi nào đi chỗ mới có cái hay cô nói con nghe.

Ở bên Úc ấy

1. Trẻ con được miễn học phí đến hết lớp 12, vào đại học nếu nghèo thì được mượn tiền học, mượn tức là không phải trả lãi, rồi khi ra trường đi làm, khi nào có khả năng mới phải trả. Trong trường hợp thu nhập thấp quá thì miễn luôn, nếu cả cuộc đời không hơn mức thu nhập trung bình thì khỏi trả và được mang theo về thế giới bên kia. Bạn cô bảo thế. Trẻ em được đi học đó là cái quyền của công dân.

2. Đi bệnh viện không tốn một đồng. Ở đó có tình người, họ cứu người trước, tiền tính sau chứ không phải giấm dúi phong bì cho BS mà nhiều khi bỏ lộn vào túi cô lao công.

3. Con được thở bầu không khí trong lành, ít khói bụi trong khi mình ở đây cho dù có giàu mấy đi nữa cũng không thể mua không khí để thở trừ khi dùng máy lọc không khí ở trong nhà, ra ngoài đường con vẫn hít bụi như thường.

Rồi mưa xuống là đường ngập, con có xe đẹp tới mấy cũng vẫn phải lội trong nước, chạy đường nào?

4. Nhà cửa họ làm bằng kính, không sợ trộm, không phải lắp chấn song sắt như ở mình để lỡ có cháy là mình thành than luôn.

5. Pháp luật họ sẽ bảo vệ nếu mình đúng chứ không cần một cái phong bì nào cho thẩm phán, nơi xã hội tôn trọng sự thật và lẽ phải. Cái này khi nào vướng lao lý thì con sẽ biết, cô vướng một lần nên cô biết rồi. Họ không cần biết mình đúng hay sai mà là tiền ai nhiều hơn thì thắng, con có chắc con có nhiều tiền hơn đối thủ của con không?

Vụ án ở Vĩnh Long con biết không? Người cha đã bỏ cả mạng mình để đòi công lý cho con gái nhưng rồi cuối cùng mất hai mạng mà vẫn chưa được minh oan và nghe nói vụ án đó đã lại chìm xuồng. Rất rất nhiều vụ khác, họ chỉ biết cắn lưỡi để tồn tại chờ ngày đầu thai sang kiếp khác. Con có muốn một xã hội công bằng và tôn trọng sự thật không?

6. Tiền thuế mình nộp cho Nhà nước thì Nhà nước sẽ sử dụng để phục vụ lại cuộc sống của người dân như điện, đường, trường, trạm. Không có chuyện độc quyền rồi nâng giá điện vô tội vạ, lâu lâu lại thấy ông này bị bắt bà kia bị tóm do tham nhũng. Một xã hội tốt là xã hội nhà tù ít hơn trường học chứ không phải nhà tù ngày một xây dựng rộng thêm.

Con nghe bà Hằng nói đi để hiểu, mắt không nhìn thấy gì vẫn nhốt, liệt rồi, ỉa đái không tự chủ rồi vẫn nhốt và chết rồi vẫn nhốt cái mộ đó tới khi hết án mới cho gia đình cải táng đem về. Nhân văn không?

7. Khi con bỏ cái gì vào miệng con không phải lo nghĩ chuyện sạch hay bẩn mà là chắc chắn sạch.

8. Nước con uống được tại vòi chứ không phải tốn tiền mua máy lọc nước để vài tháng lại trả một vài triệu tiền lõi lọc mà chưa chắc cái đứa thay lõi lọc cho mình không phải quân lừa đảo.

9. Khi có chuyện gì con hú cái là cảnh sát tới ngay để bảo vệ con chứ không phải là gọi cả ngày không ma nào tới.

10. Khi con đi mua bán cái gì con có thể đặt lòng tin vào người đối diện, nếu con bị lừa thì pháp luật bảo vệ con chứ không phải ai mạnh người ấy lừa và người bị lừa đòi đươc vạ thì má đã sưng. Cô cũng bị lừa khi đi mua đất nè. 

Con có muốn sống trong một môi trường lúc nào cũng phải gồng mình lên để phân biệt đâu là lừa và đâu là thật và lừa nhiều hơn thật không?

11. Khi thiên tai bão lũ thì chính quyền sẽ tới cứu dân ngay lập tức, con bị kẹt nơi đảo hoang, rừng sâu sẽ có máy bay trực thăng tới nhấc lên chứ không phải dân tự cứu dân mãi mới thấy chính quyền lò dò đến. Chỗ này nghĩ kỹ đi nhé rồi hãy phản ứng nếu con không vừa lòng.


Cho nên, nếu được đi tới một nơi mới con ráng tìm hiểu về cuộc sống của người ta, ráng giương mắt lên để quan sát và dùng não để phân tích chứ nếu chỉ lo chụp hình post facebook thôi thì mãi mãi con không biết thêm được điều gì ngoài nơi mình đã từng ngồi i ả nhiều lần nhất :))

 

Lê Nhàn 

Ký Ức "Gánh Hàng Rong" Một Thuở Trên Đường Phố "Sài Gòn Xưa" - Góc Hoài Niệm

Thằng "Nước Mắm" - Phương Hoa

 

Nó đến Mỹ cùng cha mẹ diện HO. Căn cứ theo tuổi trên giấy tờ, nó được xếp vào lớp tám. Ngày đầu đi học, má nó bới cho hộp cơm trưa, bà không biết nó mới qua thuộc diện con nhà nghèo, được ăn miễn phí. Cơm trắng và tôm bạc rim nước mắm là món ăn “quí tộc” mà hồi ở Việt Namnó không mấy khi có dịp được ăn. Những ngày đầu ở Mỹ, nó chỉ thích mỗi món cơm trắng với tôm kho, ăn đến no chứ không bao giờ biết chán. Buổi trưa nó cầm hộp cơm theo các bạn đến nhà ăn của trường. Kiếm một chỗ ngồi, nó mở hộp ra, kê mũi vào đó hít một hơi. Đang đói, mùi tôm kho nước mắm và mùi cơm trắng hấp dẫn làm nó chảy nước miếng. Nó xúc một muổng cơm kèm với con tôm, sắp sửa đưa lên miệng thì nghe tiếng đứa ngồi kề bên nói lớn: – Ê, mùi gì mà “stink,” thúi quá vậy tụi bay?

Nó xoay qua thấy cái thằng đen thui cùng lớp một tay bịt mũi, tay kia quạt lia lịa. Một thằng, có lẽ là dân Á châu, chạy lại nhìn vào hộp cơm của nó, mũi khịt khịt:

– À, đồ ăn của thằng này, có mùi “fish sauce,” nước mắm, chứ chi mà ồn thế!

Thằng bên cạnh nó bèn la lên, mặt nhăn nhó:

– “Yuck!” Nước mắm! Gớm quá đi!

Nó ngẹn ngào, muổng cơm chưa kịp đưa vào miệng đã phải bỏ xuống. Nó lật đật đem hộp cơm đổ ập vào thùng rác rồi lầm lũi bước đi. Đàng sau tiếng thằng da màu la lớn:

– The “Fish Sause!” A ha! Thằng “Nước Mắm!” và bọn nhóc cười vang phụ họa.

Về nhà nó không dám nói lại, sợ má nó buồn. Nó thương má lắm. Những ngày ba nó đi tù, nhà nó bị đưa đi kinh tế mới. Bà Nội tuổi già sức yếu không chịu được nước độc rừng thiêng nên bịnh hoạn triền miên. Má nó vất vả làm rẫy để nuôi nó và bà Nội, vừa thăm nuôi ba. Nhưng rồi bà Nội mất mà không kịp nhìn mặt ba nó, người con độc nhất của bà. Một tay má nó lo việc tang ma cho bà Nội. Nhà không có tiền nên nó chưa bao giờ ăn được miếng cá miếng thịt cho ngon, ngoài mấy mớ cá “giã cào” kho quẹt với rau lang hoặc cải làng mọc dại. Lâu lâu khi bán bớt mớ bắp mớ khoai, má nó nhín tiền mua vài con tôm bạc về kho, đó là thực đơn “vương giả” nhất trong quảng đời ấu thơ của nó. Vậy mà hôm nay nó đành lòng vất vào thùng rác cái món ăn “cực phẩm” ấy.

Một tuần học đã trôi qua. Giờ ra chơi nó ngồi dưới gốc cây nhìn tụi trẻ nô đùa. Nó chưa có bạn, một phần vì tiếng Anh giới hạn – dù nó đã học được hơn hai năm tiếng Anh và thuộc rất nhiều từ vựng ba nó dạy – một phần vì mặc cảm bị chế nhạo bỡi cái món nước mắm kho tôm, nên giờ “break time” nó thường ngồi một mình. Chợt nghe tiếng “bình bịch” đàng sau, nó quay lại thấy một thằng bự con đang rê banh ào ào về phía sân bóng rổ. Quần jean kéo lê dưới đất, bụi bay mù mịt quanh chân, chiếc áo thun màu xám rộng thùng thình “treo” tòng teng không che được hai cái đầu gối “lọ nồi” nhô ra từ hai chỗ rách. Mái tóc hắn xoăn tít, lởm chởm dưới cái mũ Lynynd Skynyrd đội ngược. Nó nhận ra đó là thằng Jack cùng lớp, cái thằng đã chế nhạo nó hôm nào.

Theo lời thằng Bob và thằng Andrew, Jack chơi bóng rổ rất “cừ,” hắn ném cú nào là vào cú nấy. Jack ở trong đội bóng rổ của trường, thầy cô nói hắn rất có tương lai nên hắn lên mặt “ta đây” lắm. Bạn bè nể phục những cú ném bóng “thần sầu” của hắn, đặt cho cái nick name “Hooper Cooper” và hắn rất tự hào về cái biệt hiệu đó.

Nhồi banh đến cái mức trong sân, Jack dạng chân, hai tay nâng banh ngang trán. Mắt nhìn thẳng lên cái rổ, hắn cong cùi chỏ bên phải, nhún đầu gối xuống rồi bất thình lình phóng lên cùng lúc thả lỏng trái banh, tay phải đẩy mạnh một phát thẳng cánh. Trái banh lao chính xác lên trên miệng rổ, đứng sựng lại, rồi lọt tỏm vào cái vòng, rơi xuống đất.

– “Whoa!” Tuyệt thật! Hooper Cooper! Bob và Andrew chạy lại vỗ tay la ầm ĩ.

Thằng Jack nở mũi ném mấy trái liên tục, trái nào cũng vào rổ đẹp hết biết. Bọn trẻ hò hét, kéo lại thật đông. Nó ngồi xem mà thấy khâm phục thằng Jack vô cùng. Nó cũng mê chơi banh lắm nên định khi nào thằng Jack bớt ác cảm với nó, nó sẽ xin hắn tập chơi.

Tiếng Anh nó chưa giỏi, nhưng toán thì “khỏi chê!” Nó giải được hết những bài tập thầy cho. Có nhiều bài nó giải xong, thầy nói nó giải ngắn hơn cách của ông vài bước. Một hôm, ông thầy bỗng nhiên giao cho nó một nhiệm vụ. Khổ nỗi, cái nhiệm vụ đó lại làm cho thằng Jack nổi khùng. Thế là chẳng những cái mộng học chơi bóng rổ của nó tiêu tùng, nó còn bị thằng Jack lôi vào “vòng ân oán.”

Hôm đó đến giờ toán. Ông thầy gọi nó:

– Hiệp! Tất cả bài tập em đã làm xong. Bây giờ em hãy đi vòng vòng giúp cho các bạn, nhất là Jack, hãy đến giúp bạn ấy!

Cực chẳng đã, nó bước lại chỗ Jack và nói, giọng tiếng Anh nặng trịch âm Việt:

– “Yu nít hép?” Bạn cần giúp không?

– “Nah!” Hắn gầm gừ và ném cho nó một cái nhìn giận dữ.

Nó quay lại bàn giúp cho Bob, Andrew, và các bạn chung quanh. Với toán không cần nói nhiều tiếng Anh nên nó giúp không mấy khó. Cuối cùng tụi bạn nhìn nó rạng rỡ biết ơn. Kể từ hôm đó, nó trở thành “tutor” của lớp toán.

Nhưng không phải với Jack. Hắn chả cần sự giúp đỡ của nó. Hắn ngồi gạch gạch, xóa xóa đến hết giờ cũng chỉ xong được có mấy bài. Khi Bob và Andrew chạy lại rủ đi ra ngoài, hắn điên tiết quẳng cây bút xuống:

– “Damn it!” Đồ khốn kiếp! Phân số với lại phương trình! Chả như bóng rổ, ném một phát là xong ngay!

Thằng Bob cười hì hì:

– Kêu thằng Hiệp nó giúp cho, mày sẽ làm nhanh lắm! Nó đã giúp tụi tao hiểu được nhiều phép giải rất “thần kỳ.”

– Mày câm đi! Tao, một “Hooper Cooper,” mà để cái thằng khù khờ nói tiếng Anh ngọng nghịu đó làm thầy hả? “No way!”

Ra ngoài, gặp nó ở một khúc quanh, Jack thộp cổ áo nó và dứ dứ cái nắm đấm:

– Ê! “Nước Mắm!” Bày đặc làm giỏi hả? Đừng bao giờ làm cho tao cảm thấy ngu ngốc trước mặt mọi người nghe! Liệu hồn đấy!

– Tôi…tôi…Nó xanh mặt, nhìn quanh cầu cứu. May mà thằng Jack bỏ đi.

Ba nó ngày xưa từng làm việc với cố vấn Mỹ nên tiếng Anh cũng tạm “đủ xài.” Ông xin làm ở một trạm xăng, má nó đi phụ bếp nhà hàng. Nhưng bán xăng được một thời gian thì bị cướp nên ông sợ quá xin nghỉ việc và đi bỏ báo. Tuy phải chạy đôn chạy đáo với việc làm nhưng ba má nó lúc nào cũng dành thời gian dạy dỗ nó. Tối nào ba nó cũng xem bài vở, nhắc nhở nó làm bài tập và rèn luyện tiếng Anh. Nó kể ba má nghe những chuyện ở trường, như là thư viện có nhiều sách đọc đã luôn và ông thầy kêu nó kèm toán cho các bạn. Nhưng nó không dám kể chuyện bị thằng Jack bắt nạt và cái tên “Nước Mắm.”

Lên lớp chín, lớp nó có hai thằng “nhất” được thầy cô và bạn bè nể mặt. Nó học giỏi nhất, thằng Jack ném bóng rổ giỏi nhất. “Một rừng không thể có hai cọp,” thằng Jack nổi điên mỗi khi nó được thầy cô khen. Hắn bẹo má nó:

– Hey, “Con tôm!” Cái đầu mày bé tẹo thế này, chỗ đâu mày chứa nhiều con số thế?”

Nó đã chịu đựng thằng Jack một năm rồi. Nhưng nó học càng giỏi thì hắn ngày càng làm tới, khi véo mũi, lúc kéo tai, hoặc ca bài “Nước Mắm” để chọc cười cho bọn nhãi. Dần dà nó cảm thấy sợ hãi mỗi khi đến lớp. Đi đâu, làm gì nó cũng nơm nớp ngó trước nhìn sau để xem thằng Jack ở đâu mà tránh. Nó luôn bị ám ảnh bỡi cái mặt đen sì và cái nắm đấm của hắn. Trong cơn mệt mỏi, tuyệt vọng, nó muốn nghỉ học để đi phụ bỏ báo với ba.

Nhưng rồi có một việc xảy ra với nó. Hôm đó nó ôm trái banh cũ ra chơi một mình. Đang rê banh chạy loanh quanh, thình lình một thằng choai choai mặc đồng phục ở đâu chạy tới tung vào nó. Hai thằng ngã lăn ra đất. Ông Jim hàng xóm lật đật chạy ra:

– Trời ơi! Sao lại thế này? Mấy đứa có bị gì không?

Nó cười, nói không sao và giúp phủi bụi cho thằng nhóc Logan, con ông ấy. Ông thấy nó hiền nên bắt chuyện:

– Chú thấy cháu thường chơi một mình, cháu có muốn đi xem các bạn Hướng Đạo sinh họp đội không? Nếu cháu thích, chú sẽ đến nhà xin ba má đưa cháu đi chơi.

Nhìn thằng Loganmặc đồng phục rất oai, nó mừng quá liền nói cám ơn lia lịa.

Gần tối, ông Jim qua nhà nói chuyện với ba nó. Ông là một “Troop Leader,” trưởng đội Hướng Đạo thành phố. Hai người nói chuyện thật tâm đắc. Họ bàn luận về tiêu chí của Hướng Đạo, là phụ giúp gia đình và học đường rèn luyện cho thanh thiếu niên được mạnh mẽ, cường tráng từ tinh thần đến thể chất, có trách nhiệm, biết trọng danh dự, và biết thích nghi với mọi hoàn cảnh để thành công dân hữu ích cho đời. Đặc biệt, giúp đào tạo bọn trẻ trở thành những lãnh đạo giỏi trong tương lai.

Tối đó ông Jim giới thiệu nó với đội Hướng Đạo và nó được chào đón rất niềm nỡ. Nó khoái quá, bèn xin ba má ghi danh vào đội ông Jim và trở thành một Hướng Đạo sinh ngay tuần sau đó. Ba nó được mời dự lễ tuyên thệ gia nhập đoàn. Ông vui mừng nhìn nó rạng rỡ trong bộ đồng phục, nâng tay chào và đọc theo lời tuyên thệ “Hoàn thành thật tốt nhiệm vụ đối với Thượng Đế và Quốc gia, chấp hành mọi luật lệ của Hướng Đạo, luôn giúp người, giữ gìn thân thể khỏe mạnh, tâm trí trong sáng, đạo đức, ngay thẳng.”

Từ ngày tham gia Hướng Đạo, nó cảm thấy tự tin, mạnh mẽ, tinh thần rất ổn định. Công tác đầu tiên của nó là theo đội đi volunteer tại một trung tâm homeless. Nhìn cuộc sống của những kẻ không nhà, nó chợt nhận ra là phải nhất quyết học để thành người hữu dụng. Và chẳng biết tự bao giờ, nó không còn cảm thấy run sợ trước thằng Jack nữa.

Nó tốt nghiệp cấp hai, hồi đó là lớp chín, hai năm sau khi đến Mỹ, và được đề cử đọc bài diễn văn. Má nó đã vui đến rơi lệ khi nhìn nó đọc rất hùng hồn và nhiều lần bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay nồng nhiệt.

Lên lớp mười, nó tưởng sẽ tránh khỏi cái “nợ đời” Jack. Ngờ đâu “ma dẫn lối quỷ đưa đường,” hắn lại một lần nữa ngồi cùng lớp với nó và thằng Bob. Nhưng hình như từ khi biết nó là một Hướng Đạo sinh, và nó cũng đã cao lớn, thằng Jack bớt “động thủ tay chân,” chỉ thỉnh thoảng phá nó bằng cách gào lên “Thằng Nước Mắm.”

Hè đến, ngoài việc lấy lớp “advance” ở trường college, nó theo đội đi leo núi, cắm trại, tập bơi, gây quỹ giúp người nghèo, hổ trợ US Army, và luyện kỹ năng sống trong hoang dã. Hoạt động nhiều, nó “ăn như hổ, ngủ như heo”và nó lớn nhanh như thổi. Ngày xưa, mỗi lần nó đem “report card” về khoe thì ba cõng nó chạy một vòng. Bây giờ, mỗi lần nó đem “report straight A” về, nó ẵm ba nó xoay một vòng, vì nó không nỡ để cái lưng còng của ba phải khòm thêm vì nó! Nó đã cao hơn ba rồi còn gì!

Thằng Jack vẫn gầm gừ với nó như “trâu trắng với trâu đen.” Nhưng lên cấp ba bận rộn và thi đấu thường xuyên, hắn ít có thời gian để quậy nó. Ngày kia, thằng Jack ném trật trái banh ra lề cỏ. Hắn bị quê với đám bạn nên vội phóng theo. Bất ngờ ống quần Jean của hắn móc vào cái trụ nước tưới làm hắn té nhào. Hắn đứng dậy nhưng lại ngã tiếp.

– Oh God…Trời ơi, tao bị gãy chân rồi! Hắn lăn lộn dưới đất la oai oái.

Mấy đứa con gái lật đật gọi 911.

Nó bước lại xem. Bàn chân phải của thằng Jack sưng vù nơi mắt cá, nó biết là hắn đã bị trẹo gân. Hồi còn ở Việt Nam, bác của nó làm nghề sửa trặc có chỉ nó cách “nắn gân” và nó thường dùng mỗi khi bạn nó đá banh bị trặc. Thấy thằng Jack rên la đau đớn, nó tội nghiệp và cái tâm Hướng Đạo “luôn giúp người” trổi dậy, nó ngồi xuống:

– Để tao xem thử.

Thằng Jack đang nhắm tít mắt kêu gào nên không biết là ai đã nói.

Nó cầm lấy bàn chân của hắn, xoa xoa nắn nắn, rồi bất thình lình giật mạnh.

– Úi da…Chết tao rồi! Thằng Jack rống lên. Mở mắt ra nhìn thấy nó, hắn thét lớn: – “Son of a bitch!” Thằng khốn kiếp! Mày muốn giết tao hả? Rồi hắn dùng bàn chân kia đạp vào mặt nó. Nó bật ngửa, choáng váng mặt mày, máu mũi tuông ra.

Khi xe cứu thương đến, thằng Jack đứng dậy đi tỉnh bơ. Nó thì bị đưa vào nhà thương may hai đường bên dưới mũi. Thằng Jack nói nó bẻ chân hắn để trả thù. Người lớn cũng có vẻ tin thế khi bọn trẻ khai “hai đứa không thích nhau từ lâu.” Vậy là từ ân nhân nó trở thành phạm nhân! Nó ức lắm, nhưng không thèm giải thích. Nhà trường vì nể tình hai đứa trò “đặc biệt” nên chỉ ra hình phạt “cấm đứa nọ lại gần đứa kia.” Sau này nó kể Bob nghe về cái nghề “sửa trặc” và bị hắn chửi, sao hồi đó không chịu nói ra. Bob có nói lại với thằng Jack, nhưng vì lúc ấy sắp tốt nghiệp nên mọi việc rồi cũng trôi qua.

Sau việc này, ba má nó la cho một trận. Sống ở Mỹ khi gặp chuyện, muốn giúp người thì gọi 911, không được đụng đến nạn nhân mà “ách giữa đàng mang vào cổ.” Nhưng việc ấy lại hóa hay cho nó! Không còn phải lo thằng Jack, nó lo “gặt” thành tích học tập ở trường và “hái” huy chương (merit badges) ở Troop Hướng Đạo, quyết chí lấy cho được cái đẳng cấp cao quí “Hướng Đạo Đại Bàng.” Nó luôn học “straight A” và lập rất nhiều thành tích khác. Tên nó được list trong Who’s Who book hàng năm.

Khi nộp đơn lên đại học, thành tích tốt của nó gồm một cái list thật dài. Đầu tháng Năm năm cuối lớp 12, nó được giấy báo cả bốn trường đại học nó nộp đơn đều nhận. Nó nhảy cẩn lên vì cái giấy báo của đại học Stanford. Nó cũng hoàn tất đủ 21 “badges,” chuyên hiệu yêu cầu cho cấp “Hướng Đạo Đại Bàng” trước khi nó18 tuổi. Trong buổi lễ trọng thể gắn huy chương “Eagle Scout Award,” ba má nó được hai Hướng Đạo sinh danh dự “hộ tống” lên khán đài. Họ cũng được vinh danh, và nhận chứng chỉ “Eagle Scout” cho nó cùng lá thư tuyên dương từ ông “Chief Scout Executive”của Hướng Đạo Hoa Kỳ.

Nó xếp hạng thủ khoa toàn khối 12 và được phát thưởng đặc biệt cùng với chín bạn khác, một ngày trước lễ tốt nghiệp High School. Nhà trường tuyên dương nó về thành tích học tập, tham gia nhiều hoạt động, volunteer, và đặc biệt, họ rất hãnh diện vì nó được nhận vào đại học danh tiếng Stanford. Má nó lại khóc khi nó đọc bài diễn văn tốt nghiệp.

Ngày nó tốt nghiệp Cử nhân cũng là ngày nó nhận việc tại một hảng computer. Ban ngày đi làm, ban đêm học tiếp, và nó tốt nghiệp Master cùng lúc vị hôn thê của nó vừa xong Dược sĩ. Vậy là “Tam hỉ lâm môn,” đại-tiểu-đăng-khoa nhập chung một cuộc. Nó đám cưới với cô Dược sĩ “khác họ cùng làng” rồi mua một ngôi nhà thật khang trang, có hồ bơi và vườn cây ăn trái, ở gần San Jose. Nó bàn với vợ, trở lại vừa học vừa làm để lấy bằng Tiến sĩ trong khi chờ đợi “thằng cu Tý” chào đời.

Tình cờ nó gặp lại Bob tại cuộc diễn hành “Holiday Parade” ở down town San Jose. Là fan hâm mộ, vợ nó muốn đi xem cho tận mặt ngôi sao ca nhạc kiêm nhạc sĩ tuổi “teen” Celeste Kellogg. Mãi lo chen lấn, nó lạc cô vợ, và giật nẩy mình khi Bob chụp lấy nó. Hai đứa mừng rỡ trò chuyện râm rang, quên luôn “super star” Celeste Kellogg đang trình bày bài “Handcuffed To Your Heart” cô mới vừa sáng tác. Bob kể đã tốt nghiệp kỷ sư điện tử, đi làm, và hiện sống gần đó. Tâm sự một hồi, đột nhiên Bob hỏi:

– Mày còn nhớ thằng Jack “Hooper Cooper” không?

– Trong mũi tao vẫn còn cái sẹo, làm sao quên được!

– Ừ, hồi đó nó quá đáng thật! Nhưng bây giờ nó tội nghiệp lắm! Lò mò nó cũng xong được Computer soflware Engineer. Nó làm cho hảng X. từ đó đến giờ, có vợ có con, rồi mua nhà ở gần nhà tao. Nhưng hảng của nó vừa mới bị phá sản. Giờ thì vợ bịnh con đau, tiền nhà khất mãi, điệu này vài bữa nữa nhà băng sẽ kéo thôi! Nó đang lên cơn điên, chạy kiếm job tứ tung. Nó nói chắc có ngày nó phải đi “cướp nhà băng” quá!

Thằng “Hooper Cooper,” cái biệt danh“Nước Mắm,” những tháng ngày bị bắt nạt, và cú đạp như trời giáng từ cái bàn chân đen thùi của hắn. Nó quên sao được mà quên!

Cuối tuần nghỉ sớm, nó lái xe rời hảng. Dừng lại chỗ bảng Stop trước cổng, nó bỗng cảm thấy hơi buồn vì cây thông già không còn lấp lánh ánh đèn Christmas. Người ta đã gỡ hết sau Tết Tây, mấy tuần rồi mà nó vẫn còn thấy nhớ. Ai cũng nói cây thông này là biểu tượng của công ty. Đúng vậy. Cây cao chọc trời, đứng ngạo nghễ giữa nắng lửa mưa dầu và luôn vươn lên xanh tốt. Cũng như cái hảng này. Dù nền kinh tế toàn cầu chao đảo ngã nghiêng, hảng vẫn tồn tại vươn lên cùng các chi nhánh khắp thế giới. Đó là nhờ công sức của mọi người, ai nấy đều cống hiến hết mình cho sự sống còn của hảng. Và họ đã được đền bù xứng đáng. Tháng trước, ông boss đã nói “You deserve it” khi trao cho nó cái “Certificate” và tờ check “Bonus” mà nếu ai nhìn thấy cũng phải “phát ghen.” Nó được chọn là một trong mười manager giỏi nhất năm, từ tất cả các chi nhánh trên toàn thế giới.

Ra khỏi xa lộ 101, nó quẹo vào Tully. Chỉ vài ngày nữa là đến Tết Nguyên Đán của người Việt nên khu LionPlazarất nhộn nhịp, tấp nập kẻ ra người vào. Hàng Tết, hoa quả, bánh mức đủ sắc đủ màu chưng bày tràn ra tận cửa. Nó đến tiệm giò chả Đức Hương để mua bánh tét bánh chưng đem về cho cha mẹ hai bên ăn Tết. Má nó thường nói “bánh chưng bánh tét là những thứ không thể thiếu trên bàn thờ ngày xuân,” nên nó ghé mua trước kẻo cận ngày sẽ hết. Cầm giỏ bánh còn nóng hổi trên tay, nó chạnh lòng nhớ lại cái Tết ngày xưa ở vùng kinh tế mới. Cuối tháng Chạp năm đó nó theo bọn trẻ trong làng, lên rừng chặt một khúc củi to cho má nấu bánh chưng, vác về giữa đường gặp một con trăng to rằn ri trông rất khiếp, nó hốt hoảng quăng luôn khúc củi, chạy thục mạng về tay không.

Ngang qua khu hội chợ của cộng đồng Việt, “Tet Festival,” đèn màu rực rỡ cùng tiếng náo nhiệt vọng ra làm nó thấy lòng vui khôn tả. Nó sẽ đưa cả gia đình đi xem hội chợ. Ai cũng nói đến Bắc Cali vào dịp Tết mà không đi xem hội chợ thì thật “uổng một đời,” vì chợ Tết San Jose đổi mới hàng năm với những màn múa lân múa rồng độc đáo, nào thi Hoa Hậu, trình diễn Thời Trang, rồi thì Paris By Night, lúc lại Trung Tâm Asia ca nhạc.

Lên đến down town, vợ nó bỗng gọi nói thèm ăn Big Mac. “Bà bầu” có khác, thèm là phải được ăn ngay, nếu không sau này “thằng cu sẽ chảy nước dãi,” má nó nói vậy. Nó tấp vào McDonald, order một cái Big Mac rồi ngồi chờ. Chợt có tiếng sột soạt ở bàn bên, nó nhìn sang thấy một gã dáng vẻ thiểu não, miệng ngậm cái ống hút, hút xoèn xoẹt vào cái ly đã cạn, mắt chăm chú nhìn tờ báo trước mặt, tay liên tục khoanh tròn. Thấy gã có vẻ quen quen, nó nhìn kỹ, nhận ra đó là thằng Jack. Nó đứng dậy, liếc thấy những chỗ khoanh tròn: Cần người dọn dẹp, làm vườn, phụ bếp…

– Hey Jack! Khỏe không?

Gã giật mình, ngước lên:

– Xin lỗi…you là…

– Thằng… “Nước Mắm”!

Jack trố mắt nhìn nó chằm chằm. Nó không còn là thằng “Nước Mắm” cà tong, rạm nắng ngày nào. Nó cao lớn, trắng trẻo, mặc com lê, xách cặp, dáng oai vệ lãnh đạo.

Nhớ lại chuyện cũ, gã ấp úng:

– Tao…tao…thật xin lỗi…hồi đó…

– Chuyện xưa rồi, bỏ đi! Nó nói, rút tấm danh thiếp trong túi đưa cho gã: – Mày đang tìm việc phải không? Lên trang web này, lấy hồ sơ xin việc điền vào, rồi mang resume đến gặp tao, tao sẽ nộp giúp! Nói xong, nó lại lấy cái Big Mac và bước ra xe.

Jack sững sờ dõi mắt theo chiếc Lexus vừa rời khỏi parking, rồi quay lại nhìn đăm đăm vào hàng chữ trên tấm danh thiếp:

“Hiep Le– Senior Engineering Manager”

Nhìn một hồi, gã bất chợt cười toe, rồi đưa tấm danh thiếp lên môi hôn một phát, nước mắt lấp lánh trên đôi gò má đen bóng, gã hét lớn:

– “God bless you!” Thằng “Nước Mắm!”

 

 Phương Hoa

Búp Bê Viết Thư - Đoàn Xuân Thu

Một câu chuyện có thật, đẹp như cổ tích, kể về ánh sáng cuối cùng của Franz Kafka.

Ở tuổi 40, người ta thường rẽ vào lối đời chững chạc: người có gia đình con cái, kẻ thì sự nghiệp lên như diều, hoặc chí ít cũng gom góp được vài thành tựu để về sau ngồi kể cháu nghe chơi. Nhưng Franz Kafka – nhà văn gốc Do Thái sinh năm 1883 ở Prague – thì chẳng giống ai. Ở tuổi đó, ông chưa từng cưới vợ, không có con, suốt đời vật vã với bệnh lao, với ám ảnh hiện sinh, và với một thứ văn chương mà người đời sau gọi là… “kỳ quái mà thấm thía đến tận xương tuỷ.”

Kafka không viết để được in, mà viết như một lời trút ruột. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông – Hóa thân (Die Verwandlung) – mở đầu bằng một câu khiến người ta dựng tóc gáy vì… vừa buồn cười, vừa bi kịch:

“Một sáng tỉnh dậy, Gregor Samsa thấy mình biến thành một con sâu khổng lồ.”

Và từ đó, cái thế giới Kafka dẫn ta vào là nơi con người bị nghiền nát bởi guồng máy hành chánh, bởi những tòa án vô hình, và bởi sự phi lý như số phận.

Thế nhưng, giữa một đời văn như bóng tối phủ đầy, Kafka bỗng để lại một chuyện nhỏ – không phải là truyện ngắn, mà là giai thoại thật và đẹp như cổ tích.

Chuyện xảy ra vào năm cuối đời của ông – 1923. Kafka đang ở Berlin để chữa bệnh, ngặt một nỗi… bệnh thì không thuyên giảm, mà tiền lại cứ đội nón ra đi. Ấy vậy mà giữa lúc vất vả đó, trong một công viên yên tĩnh ở Steglitz, Kafka – nhà văn của sự sầu muộn – gặp một cô bé đang khóc nức nở vì mất con búp bê yêu dấu.

Có thể ai khác sẽ bước qua, lắc đầu, lẩm bẩm “đời là thế,” rồi tiếp tục triết lý. Nhưng Kafka – người chưa từng làm cha, cũng chẳng từng nuôi chó mèo – lại ngồi xuống, nói với cô bé rằng:

“Đừng khóc. Búp bê của cháu không mất đâu. Nó chỉ đi du lịch thôi. Và nó sẽ viết thư cho cháu kể chuyện…”

Ngày hôm sau, Kafka trở lại, mang theo lá thư đầu tiên.

“Từ Florence thân mến,” con búp bê viết, “Tôi đang học vẽ và ăn kem Ý. Nơi đây thật tuyệt vời.”

Cô bé, lúc đầu còn sụt sùi, dần dần đã mở lớn mắt. Cứ như thế, suốt ba tuần, Kafka mỗi ngày đều đến công viên, mang theo một lá thư mới – viết bằng tay ông, ký tên “Búp bê Dora” hay “Cô Lili” – kể chuyện những cuộc phiêu lưu trên trời dưới biển, chuyện bạn bè mới của búp bê, chuyện nỗi nhớ của nó dành cho cô chủ nhỏ thân yêu.

Giai thoại không kể rõ ông viết bao nhiêu thư – có người nói hàng chục, có người bảo hơn trăm – nhưng điều chắc chắn là Kafka đã dùng chút sức lực cuối đời để bồi đắp một thế giới tưởng tượng ấm áp cho một cô bé xa lạ.

Và rồi, như mọi câu chuyện cổ tích, phải có đoạn kết. Kafka mua một con búp bê mới, đưa cho cô bé, nói:

“Búp bê đã trở về. Nhưng có thể cháu thấy nó hơi khác.”

Cô bé nhíu mày, “Nó không giống búp bê của cháu chút nào.” Kafka mỉm cười, đưa thêm một lá thư:

“Những chuyến đi đã thay đổi tôi.”

Câu trả lời đó nghe ra… Kafkaesque một cách dễ thương.

Kafkaesque là một tính từ được tạo ra từ tên của Franz Kafka, dùng để mô tả những tình huống, bối cảnh, hoặc cảm giác có tính chất: phi lý (illogical); rối rắm, đầy sợ hãi hoặc căng thẳng (oppressive or nightmarish); bị mắc kẹt trong guồng máy quan liêu vô hình, không lối thoát. Ví dụ, một người bị lôi vào một vụ kiện mà không biết mình bị buộc tội gì (như trong truyện The Trial), hoặc sống trong một thế giới nơi mình không hiểu luật chơi là gì – thì tình huống đó được gọi là Kafkaesque.

Nhưng tại sao ở đây lại là “Kafkaesque một cách dễ thương?”

Vì bản thân từ Kafkaesque thường mang nghĩa u ám, phi lý, đáng sợ. Nhưng trong giai thoại con búp bê, Kafka lại nói với cô bé rằng:

“Búp bê đã thay đổi vì những chuyến đi.”

Một câu nghe có vẻ… triết lý, mơ hồ, thậm chí là hơi “phi lý” đúng tinh thần Kafka. Nhưng thay vì làm người ta hoang mang, câu ấy lại khiến cô bé an lòng.

Nói nôm na kiểu miền Nam thì: “Thường thì ông Kafka viết kiểu thấy ghê, mà bữa nay ổng viết cũng y như vậy… nhưng thấy thương!”

Nhiều năm sau, khi cô bé trưởng thành, người ta nói là đã lập gia đình, có con, trong một lần sửa soạn, cô tìm thấy một mảnh thư cũ nhét trong bụng con búp bê. Trên đó, là dòng chữ viết tay của Kafka:

“Mọi thứ bạn yêu có thể sẽ mất đi, nhưng cuối cùng, tình yêu sẽ trở lại theo một cách khác.”

Trời ạ! Ai bảo Kafka chỉ viết những thứ khiến người ta muốn đi tìm thuốc an thần?
Câu đó, nói ra nhẹ như gió thoảng, mà mang theo cả tinh thần chữa lành.

Phải chăng, người đàn ông còm cõi ấy – suốt đời bị căn bệnh lao bóp nghẹt – đã tìm được chút hy vọng ở chỗ tưởng như tuyệt vọng nhất: trái tim của một đứa trẻ vừa mất búp bê?

Từ đó, câu chuyện nhỏ của Kafka được lưu truyền như một thí dụ cảm động về lòng trắc ẩn. Một nhà văn tưởng chừng chỉ biết dằn vặt trong mê lộ lý trí lại dành những giây phút cuối đời để làm một đứa bé mỉm cười trở lại.

Không cần phải lập gia đình, sinh con đẻ cái, Kafka vẫn làm cha – theo cách của một tâm hồn có trách nhiệm với nỗi đau của thế giới.

Tất nhiên, nếu ta sống bằng não trái, có thể hỏi: “Ủa, ai xác minh được chuyện này thiệt không? Có bằng chứng gì? Có tên cô bé đó không?” Xin thưa: không.

Nhưng cũng như những chuyện cổ tích, giai thoại về Kafka và con búp bê không cần hồ sơ công chứng. Cái chính là đúng… theo nghĩa nhân văn sâu thẳm.

Còn nếu ai đó muốn lý luận kiểu thời đại “phải fact-check từng câu,” thì hãy tự hỏi: một người như Kafka – từng viết Vụ Án, Lâu Đài, Thư Gửi Cha – liệu có nhu cầu “làm màu” với một cô bé xa lạ để làm gì?

Phải có một động cơ thiệt tình sâu xa – như lòng thương người, hay lòng thương chính mình lúc hấp hối – mới khiến một nhà văn như ông gầy dựng một thế giới diệu kỳ đến vậy.

Vậy đó. Trong cả đời văn bị dán nhãn là “đen tối,” “phi lý,” hay “thất vọng về loài người,” Kafka để lại một khoảnh khắc nhân hậu đến bật khóc.

Một cử chỉ nhỏ – như một cái ôm tinh thần – dành cho đứa trẻ đang học bài học đầu tiên về mất mát.

Thành thử, khi ta mất đi điều gì đó – một người thân, một giấc mộng, hay thậm chí… một con búp bê – ta vẫn có thể tự nhủ: “Tình yêu sẽ trở lại, nhưng theo cách khác.”

Có thể không còn nguyên hình, không y như xưa, nhưng cái lõi của tình yêu – lòng kết nối, sự hiện diện, ánh nhìn dịu dàng – thì vẫn đó.

Ấy là bài học cuối đời của Kafka. Không phải qua sách, mà qua một chuyện thường ngày. Một chuyện tưởng là phiếm, mà thật ra… rất nghiêm.

Chỉ một người như Kafka mới có thể biến mất mát thành ngạc nhiên, đau thương thành lòng thương, và một con búp bê thành biểu tượng vĩnh cửu của hy vọng.


Đoàn Xuân Thu

Tháng 11 Đến - Đỗ công Luận