Wednesday, April 1, 2026

Chị Mè - Nguyễn Đại Thuật


Đầu năm tôi vào học lớp nhất trường tiểu học, gia-đình tôi có thêm một người giúp việc. Lúc bấy giờ gia đình tôi đã có một chị giúp việc lớn tuổi chuyên lo về công việc đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, lo giữ nhà cửa sạch-sẽ.
Cha mẹ tôi có tất cả năm người con, và trong tương lai gần mẹ tôi sẽ có thêm một đứa con nữa. Có lẽ vì vậy mẹ tôi đã thuê thêm chị Mè. Cha mẹ tôi có một cơ-sở làm ăn tương đối lớn, bận rộn công chuyện suốt ngày, mấy anh chị em chúng tôi thiếu người săn sóc, nên chị Mè được giao cho công việc nầy.


Chị Mè còn trẻ lắm, chị khá đẹp, tóc ngắn ngang vai, kiểu tóc mà thời bấy giờ người ta gọi là tóc thề. Chị gốc người làng Trà-Kiệu, thuộc tỉnh Quảng-nam, cả làng theo đạo Thiên-chúa, nơi người ta nói đã có lần Đức Mẹ hiện ra.
Hàng ngày chị Mè tắm rửa, thay quần áo, lo cho ăn uống và đưa đón anh chị em tôi đi học.

Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh chúa, nếu ai nhận mình Thánh chúa không để tự tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh chúa sẽ biến thành lửa đốt cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-chúa Trời, làm điều ác sẽ bị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.


Mỗi sáng Chúa-nhật, chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà, chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang.Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:

- Mình cho con Mè tiền mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được".


Tôi nghe tiếng mẹ tôi:
- Cứ sáu tháng tôi trả tiền công cho nó một lần, tôi mới trả cho nó chưa tới năm ngày, nói nó lấy tiền đó mua". 

Cha tôi cười, nói:
- Bà nầy hay thật, tiền đó nó nhờ tôi gởi hết về cho cha mẹ nó rồi, bà biết mà".


Tôi không nghe mẹ tôi nói gì thêm. Chiều hôm đó, mẹ tôi dẫn chị ra chợ mua guốc. Đôi guốc sơn màu đen rất đẹp. Khi chị đem đôi guốc bằng gỗ vông của chị vứt đi, tôi nhìn thấy đôi guốc của chị mòn đến nổi không có đủ bề dày để giữ chiếc đinh khi đóng quai.

Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế hoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ, bận công việc ban ngày, đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói: "chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi được".


Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: "Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?"


Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: "Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng, họ khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm ! ". 

Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá. Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-cựu thành phố Huế.

Anh Cường chạy có một người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở An-cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường khen anh Cường chay với cha tôi:

- Thằng Cường chay xem chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết".

Tôi không nghe mẹ tôi nói anh Cường chay đã nói đúng những gì, nhưng mỗi lần nghe mẹ tôi nói như vậy cha tôi “hừ” lên một tiếng:
- Bà toàn tin những điều nhảm nhí".

Mẹ tôi còn nhanh nhẩu mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán. Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.

Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bất tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt. 


Rồi có một thời gian, tự nhiên tôi nghe mẹ tôi hay la rầy chị Mè; mỗi lần bị la như vậy tôi thấy chị Mè đúng trong góc nhà bếp khóc, hai mắt đỏ hoe. 
Mẹ tôi la chị:
- Sao lúc nầy mi cứ dở dở ương ương, y như người trên mặt trăng, làm trước quên sau, làm gì hư nấy, lúc nào cũng thẩn thờ như bị ai hớp hồn. Chỉ việc pha sữa tới giờ cho em bú mà cũng quên để cho thằng nhỏ khóc ầm cả lên." 
Tôi chưa bao giờ nghe chị trả lời mẹ tôi khi bị la mắng như vậy. Chỉ im lặng và khóc. Khác với những kỳ đi hớt tóc trước, kỳ nầy chị Mè tự nhiên nhắc tôi đi hớt tóc từ ba ngày trước. Đến hôm chị dẫn tôi vừa ra đến cửa thì cha tôi bảo: 

"Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi."

Chị Mè quay lui vào nhà, mặt chị xịu xuống và buồn. Khi tôi bước vào tiệm hớt tóc, anh Cường chay thay vì chào tôi như trước đây, anh bước ra khỏi tiệm nhìn trước nhìn sau con hẽm rồi đi trở vào hỏi tôi:
- Sao nay chị Mè không đưa em đi?" 

Tôi trả lời: 

 - Cha em nói em lớn rồi không cần chị Mè đưa đi.. 

Tôi nghe anh Cường thở dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lờI nào.. Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:

- Anh Cường có hỏi gì chị không? . Tôi lắc đầu. Chị lại hỏi lần nữa:
- Bộ anh ấy không hỏi gì chị sao?".

Tôi lại lắc đầu.Tôi lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa lúc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển kinh thánh. 

Tôi nói với chị:
- Bữa ni anh Cường có hỏi, sao chị Mè không dẫn em đến hớt tóc, em trả lời cha em nói em lớn rồi đi một mình được, không cần chị Mè đưa đi

Tôi thấy mặt chị rạng rỡ lên, chị nâng quyển Thánh-kinh lên hôn. Lúc tôi ra khỏi bếp, tôi nghe chị nói vọng theo:
- Lần sau đừng quên như vậy nghe em, tội chị lắm!.


Mấy hôm sau, ngày Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chị vừa vào trong cửa, tôi cười và nói lớn:

- Lúc nãy, em thấy anh Cường chở chị sau xe đạp !".

 Chị nhào tới đưa tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chị đỏ gay, cúi đầu đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:

- Hèn chi mấy tháng ni nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi...mới có bấy nhiêu tuổi!


Cha tôi cắt ngang lời mẹ tôi, nói diễu:

- Hay ghê! chớ bà yêu tôi lúc bao nhiêu tuổi ? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ thua nó một tuổi..bộ quên rồi sao ?

Tôi chỉ nghe mẹ tôi "hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.

Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường đều biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: "Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”

Anh Cường phân trần:
- Đâu có sao, lấy chồng thì phải theo đạo chồng, cùng quá thì đạo ai nấy giữ, cậu nói giúp cháu để bà chấp thuận hai cháu cưới nhau". 

Người cậu lắc đầu lia lịa:
- Cậu biết là không được đâu, nhưng cậu sẽ cố nói giúp cho cháu, được hay không thì cậu chưa biết. Rồi ông gằn giọng:

- Hết người thương sao lại thương con nhà theo đạo Chúa!. 

Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: "Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc...không biết tính sao đây ?" 

Không bao lâu sau khi nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi nghỉ vài hôm để về Trà-kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lẽ hỏi. Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc. 

Ngày trở lại làm việc, chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn thờ hơn.Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:

 

"Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.

Định kỳ hớt tóc của tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái hiên làm tiệm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại cho cha tôi trong bữa cơm: "Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật theo Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp cứu, may mà cứu kịp."

Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại,công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nửa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc, chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chị nhờ tôi: "Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở cửa cho chị được không ?"  

Tôi đồng-ý, hỏi chị: "Xe đạp đâu mà chị tập ?"

Chị trả lời không đắn đo: "Xe đạp anh Cường mới mua". 

Biết được chuyện chị Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ tôi nói với cha tôi:

  - Từ đây ra nhà thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt! 

Cha tôi lại cười: 

   - Nguời ta yêu nhau mà em !"


Tôi học chưa hết năm đệ lục, chị Mè xin nghỉ việc vì giao ước làm việc ba năm chấm dứt. Cha mẹ tôi đồng ý.
Lúc bấy giờ mấy anh chị em tôi đã lớn, đứa em nhỏ nhất ba tuối đã có chi hai tôi săn sóc những khi nghỉ học hay những lúc rảnh rổi. Cha mẹ tôi cũng không còn cần chị Mè. Mùa hè năm đó tôi lang thang cũng lũ bạn nơi họ đạo Tam-tòa, tình cờ tôi gặp chị Mè, chị cho tôi biết đang cùng chung với người bạn mở một tiệm may quần áo tại đây. Chị đưa tôi và lũ bạn về tiệm may của chị và pha nước chanh cho uống. Đang uống thì anh Cường chay đạp xe đến, vứt xe bên vệ đường, đi nhanh vào tiệm may, mặt anh cau có có vẻ bực bội.


Anh nắm tay chị Mè kéo vào sau nhà.Thấy không khí lúc đó không vui, tôi và lũ bạn im lặng rời tiệm may. 
Về gần đến nhà, ngang qua hẻm có tiệm hớt tóc của anh Cường chay, nhìn thấy có vài người tụ tập trước tiệm hớt tóc, tò mò tôi dừng lại, tôi biết anh Cường chay không có trong tiệm, anh đang ở tiệm may của chị Mè.
Một người đàn bà tóc đã bạc đang ngồi bệt dưới đất trong tiệm hớt tóc, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi, hai tay đập vào nền đất, miêng rên ư ử : "Con ơi là con ! Mè ơi là Mè ! con ở đâu mà mấy tháng ni không về với cha mẹ? Cường ơi là Cường ! mi giấu con gái tau ở mô ? hãy đem nó trả lại cho tau...không thì tau đập đầu chết ở đây cho mi hả dạ..."


Mấy người hiếu kỳ đứng xem nói với nhau:
"Cường chay với con Mè thương nhau, xin cưới nhau nhưng hai bên cha mẹ không thuận vì khác đạo nên hai đứa nó lén lút sống chung. Bữa ni mẹ con Mè từ quê ra tìm nó, đến đây nằm vạ đòi con gái."
Tôi rời đám đông, ra đến đầu hẽm thì vừa lúc anh Cường chay đạp xe chở chị Mè chạy vào hẽm.

Tối hôm đó chị Mè đưa mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe. 


Mấy ngày liên tiếp sau đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với mẹ tôi:

"Hôm con Mè đưa mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bữa ni, nó đi thăm con Mè ở bịnh xá." 

Bà lại thở ra: "Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với nhau để có chửa!".

Từ đó, tôi không còn được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè. 

*****
Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt Quốc Cộng, miền Nam Việt-nam thua cuộc. Chiến tranh chấm dứt, nhưng lòng người lại ly-tán. Đất nước như nồi canh chay bị vỡ, người dân xông xáo khắp nơi, tìm đường ra khỏi biên giới, làm người Do-Thái lang-thang, tạo lập cuộc sống mới nơi xứ người. Trong dòng người nầy có gia-đình tôi. Qua những năm tháng tạo lập đời sống mới, lần lượt cha mẹ tôi qua đời, linh-vị được thờ tại một ngôi chùa nhỏ phía Nam thành phố Paris nước Pháp. Chùa có tên là Tây-Phương. Vị sư Trụ-trì chùa, Thượng-tọa Như-Hóa mới đây đã viên-tịch, một thầy khác, Thuợng Toạ Giác-Miên, được mời từ Népal qua thay thế, nhưng tôi chưa có dịp diện-kiến. 


Rằm tháng bảy âm-lịch trong năm 2000, tôi điện thoại đến chùa xin ghi danh lễ cầu siêu cho cha mẹ nhân ngày xá tội vong nhân. Hôm đó, tôi vừa đến chùa thì lễ cũng đã bắt đầu.Tiêng đọc kinh, tiếng chuông mõ hòa quyện cùng khói nhang thơm làm tâm thần tôi thanh-thản, tôi cố lắng nghe âm thanh tên, tuổi cùng pháp-danh của cha mẹ tôi sẽ được đọc lên trong buổi lễ..tôi đang chờ...tên của cha mẹ cùng Pháp-danh của một phật-tử nào đó được đọc lên, kế tiếp ...và kế tiếp...


Tôi giật mình, không tin vào tai tôi..Théresa Hứa-thị Mè, sinh ngày 12 tháng ba năm 1943 tại làng Trà-kiệu tỉnh Quảng năm, tạ thế ngày 10 tháng 2 năm 1999 tại thành phố Marseille nước Pháp... thầy chủ trì chánh lễ vừa đọc đến đây thì tiếng chuông mõ bổng ngừng lại, hàng Phật-tử dự lễ sát chánh điện ngơ ngác, lao xao. Một tăng sinh còn trẻ nhưng vốn quen việc nghi lễ trong chùa vội vàng thay thế Thầy đọc tiếp danh sách cầu siêu trong tiếng xì xào mất trật tự...rồi có tiếng yêu cầu gọi xe cấp cứu.

Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng. Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tim của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy dần dần bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: "Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?" 

Tôi quay người lại, thầy thều thào tiếp:

- Chú không nhớ thầy sao ? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-nam Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra ngay...Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó .

Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngối xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm tay của thầy.. Xúc động làm tôi ứa nước mắt...mới đó mà đă hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi..và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!


Những tháng năm sau đó tôi viếng chùa Tây-Phương thường xuyên hơn, có lẽ vì anh Cường chay là Thuợng Toạ Giác-Miên trụ trì. Một hôm, tôi gặp thầy xin nhận một lễ quy-y cho toàn gia-đình của tôi. Nhân lúc trong phòng làm việc chỉ còn mình thầy, tôi đánh bạo hỏi:
- Chắc thầy còn nghĩ đến chị Mè phải không? 

Thầy không trả lời, mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:

- Hồi đó, sau khi chị Mè nhảy sông tự-tử, thầy có găp được chị ấy không? 

Thầy bối rối và do dự khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:

- Mô Phật! Mấy mươi năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiêng mõ mà hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay...

...
.... Trước khi Mè nhảy sông tự vẫn, thầy và Mè đã chuẩn bị sẵn sàng vào Lâm-đồng sinh-sống. Lúc bấy giờ Mè đã có thai. Chú biết, thầy và Mè thương nhau. Sự ngăn cản của hai bên gia-đình không cho hai đứa cưới nhau càng quyết liệt thì hai đứa càng bất chấp tai tiếng. Sau khi được cứu chữa bình-phục, Mè trở về quê. Hai đứa đã quyết định ngày giờ gặp nhau để bỏ xứ ra đi.. Ngày hẹn đã đến, thầy chờ không gặp được Mè. 

Ngày hôm đó đồng bào trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng Trà-kiệu. Giải-phóng quân Cộng -sản Việt-nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyền. Đạn pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng, máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-kiệu tang-hoang. ..Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng Trà-kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-túc về sự sống của Mè vô vọng, thầy trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu...


Sau khi tốt nghiệp Phật-học viện Nha-trang năm 1970 thầy được học bỗng đi học bên Ấn-độ..rồi ở tu luôn tại bên ấy. Các đây vài tháng thượng-tọa Như-Hoá viên-tịch, thầy được chuyển về đây thay thế. 

Tôi hỏi thầy:
- Danh sách lập để được cầu siêu hôm rồi không phải do thầy lập sao?

"Không !.Do một phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa." 

Tôi nói tiếp:
- Như vậy thì chị Mè không bị chết trong hôm làng Trà kiệu bị giặc tấn công và người xin lễ cầu siêu xưng là con gái của chị Mè.,.nhưng không rõ có phải là con chị Mè với thầy hay con sau nầy với người khác....

Thầy không trả lời câu hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu...rồi lắc đầu...rồi thở dài. 

Tôi hỏi tiếp:
- Thầy có muốn tim sự thật về chị Mè những tháng năm sau này nầy không? 

Thầy trả lời dè dặt:
- Chú Kính giúp thầy việc nầy thì quý hoá lắm. Từ hôm đó đến nay, thầy suy nghĩ hoài mà không biết làm gì và làm như thế nào. 

Tôi vừa thương thầy vừa ái-ngại cho thầy, đoán biết trong thầy con sóng tình cảm xa xưa trở về đang làm thầy giao-động.
Nhờ vào số điện-thoại lưu trong phiếu xin lễ cầu siêu, tôi liên lạc với con gái chị Mè. Không khó khăn lắm khi tôi tự giới thiệu với con gái chị Mè, ngày xưa, rằng thời chiến tranh chị Mè làm việc trong gia-đình tôi ba năm, từ khi chị Mè thôi việc, tôi không có tin tức của chị...Vừa qua, nhân dự lễ cầu-siêu tại chùa Tây phương, có nghe tên của chị Mè được đọc trong buổi lễ, nên nay liên lạc để hỏi thăm. Đầu giây, cô gái tự nhận là con gái duy nhất của chị Mè,đang cùng chồng và con cái sờn ở một làng vùng ngoại ô Bắc Paris. Qua trao đổi nhận biết nhau, con gái chị Mè mời tôi đến thăm nhà nhân dịp cuối tuần. 


Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi.Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi...và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè.

Michelle sống với mẹ vùng Chợ Đệm Thủ-Đức, mẹ có một quán may nhỏ chuyên sửa quần áo lính cho các sinh-viên sĩ quan Trường bộ binh Thủ-Đức nên cuộc sống của hai mẹ con rất ổn-định. Những năm tháng đó, Michelle không bao giờ được mẹ kể cho biết gia-đình thân thuộc có ai và ở đâu. 

Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế.. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseille. 

Michelle và mẹ cùng qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ.... 

Sau cái đêm làng Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau khổ,quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi ?. Mę đi đâu rồi? Con sợ quá..." Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ, đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã định làm chuyện dại dột... Và mẹ đã quay trở về nhà.


Trong cùng cực của cuộc sống, một may mắn đến với mẹ...người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn-định,mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng, về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc trong bốn phương trời vô-định.. 

Michelle ngừng một chốc,thở ra, kể tiếp:
“Mẹ cũng có kể cho cháu về mối tình ngang trái của mẹ.... mẹ không còn kỳ-vọng gặp ba trước khi nhắm mắt mẹ đã căn dặn cháu phải làm theo lời mẹ, sau khi mẹ chết... mẹ nói:


- Khi mẹ chết rồi, cháu phải thờ mẹ trong một ngôi chùa nào đó....ngày xưa, vì vấn đề tín-ngưỡng mà tình duyên của mẹ ngang trái. Ba của cháu đã xin từ bỏ đạo Phật của mình theo đạo Thiên-chúa để được cưới mẹ, nhưng gia-đình của ba không thuận, bà nội, tức mẹ của ba cháu đòi tự vẫn nếu ba con quyết định bỏ Phật. Nay vì tấm lòng của ba, ba bỏ đạo của mình để được cưới mẹ, tuy chuyện không thành. Tôn giáo thường dạy con người có linh-hồn sau khi chết sẽ về an nghỉ ở một nơi nào đó, thì như vậy, Phật sẽ che chở linh hồn mẹ và mẹ sẽ gặp được ba cháu, không còn bị giới luật của tôn giáo ràng buộc, ngăn cấm.”

“ Cháu đã làm theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng." 

 

Tôi đã kể lại cho thầy Giác-Miên câu chuyện gặp gỡ Michelle ngày hôm đó. Qua điện thoại giọng thầy đầy khích-động. Tôi cho thầy biết, Michelle chưa biết thầy là thân sinh của cháu vì lý do tôi chưa xin sự chấp thuận của thầy...thầy nói: “Phải cho Michelle biết....làm thế nào để tạo sự thuận-tiện thầy cũng chưa biết..thôi chờ vài hôm nữa mình bàn tính lại."
Sự bàn tính tạo thuận tiện cho cha con thượng-tọa Giác Miên và Michelle gặp nhau đang trong dự trù thì một buổi sáng tôi đang còn ngủ có tiếng reo điện thoại đánh thức tôi dậy. Một người nào đó từ chùa Tây-Phương báo cho biết tin thượng-tọa Giác-Miên đang công phu sáng đã bị đột quỵ, được xe cứu thương chở vô bịnh viên cấp cứu. Thay vì vào nơi làm việc, tôi lái xe chạy thẳng vào bịnh viện thăm thượng-tọa Giác Miên; nhân viên tại đây báo cho biết Thượng-tọa đã ra đi, bác-sĩ không cứu kịp.


Sau lễ an-táng thượng-tọa Giác Miên, tôi đến thăm Michelle một ngày cuối tuần.Tôi chuyển cho Michelle một bao thơ của thượng-toạ Giác Miên đã viết sẵn. Bao thơ được tìm thấy trên bàn làm việc của thầy, nhờ tôi trao lai. Michelle nhìn tôi vẻ bối rối khi nhận thơ. Tôi yên lặng ngồi nhìn Michelle e-dè mở thư ra đọc. Tôi thoáng thấy có những tấm hình đen trắng kèm theo thư cùng bản sao một thẻ căn cước... Mặt Michelle càng lúc càng trở nên căng thẩng đầy xúc động...những giọt nước mắt chảy ra từ hai khóe mát, lan dài trên má. Tôi đứng dậy đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài, tránh nhìn các hình ảnh cảm động đang diễn ra trước mặt..


Một tiếng nấc, rồi những tiêng thổn thức tiếp nối. Tôi quay lại, mặt của Michelle cúi xuống, hai tay ôm đầu, hai vai run-rẩy. 

Chờ Michelle bớt xúc động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống đất.Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau... và bản sao thẻ căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm 1940 tại Huế... Việt-nam.... 

Michelle nhận thư và hình ảnh từ tay tôi, ôm tất cả vào ngực..lại thổn thức: “Mẹ ơi ! Ba ơi !”.
Tôi từ giã ra về.

Michelle tiễn tôi ra cổng trang trại. Tôi nghe có tiếng gà gáy trong một góc nào đó từ bên trong xa.. Nắng buổi chiều vàng vọt trãi dài trên các ngọn cây. Tôi thoáng nhìn thấy anh Cường chay đang chở chị Mè trên xe đạp chạy từ nhà thờ Con Gà về xóm chùa Hải-Châu, nơi anh Cường chay có tiệm hớt tóc.


Nguyễn-Đại-Thuật 

Thử Một Ngày Không Làm Thơ - Trầm Vân

Tuesday, March 31, 2026

Ông Mỹ Phi Công Hải Quân Hàng Xóm

Hình minh hoạ của usni.org

Ông hàng xóm cạnh nhà tôi là một cựu Phi Công Hải Quân Hoa Kỳ. Ông không bao giờ nói nhiều về những tấm huân chương cất kỹ trong ngăn kéo, nhưng dáng đứng thẳng lưng như một cây tùng trước hiên nhà mỗi buổi sáng đã nói lên tất cả. Ông là James, người hàng xóm, và với tôi, ông là một “niệm khúc” sống động về tình “Quân Ngũ Đồng Minh” một thời xa xăm. Mỗi buổi sáng, ông lặng lẽ bước ra sân, dựng lá cờ trước hiên nhà, động tác chậm rãi nhưng dứt khoát, như thể đang thực hiện một nghi thức quân phong còn sót lại từ thời trai trẻ. Ông từng phục vụ trong lực lượng Không Quân Hải Quân của United States Navy, trên Hàng Không Mẫu Hạm ngoài biển Đông giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt tại Việt Nam.

Ông không nói nhiều về chiến công. Chỉ thỉnh thoảng, khi ngồi trước hiên nhà nhìn chiều xuống, ông mới kể vài mẩu chuyện ngắn, giọng trầm và chậm. Ông kể về những lần cất cánh ban đêm, boong tàu rung chuyển dưới chân, tiếng động cơ phản lực gầm lên xé toang màn đêm biển Đông. Ông kể về cảm giác khi chiếc máy bay rời khỏi “runway” ngắn ngủi trên boong tàu. Phía trước là bóng tối mênh mông, phía sau là đồng đội đang nhìn theo.


Ông từng lái chiếc Chiến Đấu Cơ Phản Lực McDonnell Douglas, F-4 Phantom II, mang trên cánh không chỉ là bom đạn mà còn là niềm tin của Đồng Minh. Ông nói với tôi, trong chiến tranh, điều giữ người ta đứng vững không phải là lòng thù hận, mà là trách nhiệm với người bên cạnh. “We fly for each other,” ông chậm rãi nhắc lại câu khẩu hiệu cũ.

Lần đầu, khi biết tôi từng là lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, ông đứng nghiêm lại, bắt tay tôi thật chặt. Không cần nhiều lời. Cái siết tay ấy chứa cả một thời Đồng Minh đã qua. Ông nhắc đến những chuyến yểm trợ hỏa lực trong rừng núi Trường Sơn, những lần bảo vệ những đơn vị Bộ Binh bị Vi Xi bao vây. Những lần nghe tin một căn cứ bị tấn công mà lòng ông nóng như lửa đốt vì chiếc Phản Lực Cơ Phantom II của ông bay quá… chậm. Ông nói ông chưa bao giờ quên những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bên cạnh Hoa Kỳ.


Chiều hôm ấy, hai chúng tôi ngồi bên nhau, không phải với tư cách hàng xóm, mà như hai người lính già của hai Quốc Gia từng đứng chung một chiến tuyến. Ông kể về những người bạn Phi Công của ông không bao giờ trở về, tên họ được khắc trên bức tường đá đen của Vietnam Veterans Memorial. Mỗi năm, ông đều đến đó, đặt một nhành hoa nhỏ, đứng lặng thật lâu. Ông nói, điều đau đớn nhất của người lính không phải là cái chết, mà là sự lãng quên.

Có những đêm, ông mất ngủ. Tiếng gió rít qua mái nhà làm ông nhớ tiếng gió quét trên boong tàu. Ông bảo, ký ức chiến tranh không ồn ào, nó âm thầm như một vết sẹo dưới lớp áo sơ mi. Ông không tự hào theo kiểu khoe khoang, mà là một thứ tự hào lặng lẽ, tự hào vì đã làm tròn bổn phận.

Tôi cảm động trước cách ông nâng niu kỷ vật, cái nón cũ kỹ sờn rách. Ông bảo, đó là phần đời rực rỡ nhất nhưng cũng đau đớn nhất. Sự tiếc nuối của ông không phải cho bản thân, mà cho một thời đại đã qua, cho những lý tưởng và cả những mất mát mà chiến tranh đã hằn sâu lên tâm khảm. Tôi nhớ có lần ông mang ra cho tôi một chiếc phù hiệu cũ của phi đoàn. Ông nói: “Giữ lấy. Chúng ta từng là Đồng Minh.” Thân hình to con, cao hơn hẳn tôi một cái đầu, trong ánh mắt xanh đã nhạt màu theo năm tháng, tôi thấy hiện lên một nỗi tiếc nuối sâu xa, tiếc cho những hy sinh, cho những lời hứa còn dang dở, cho một miền đất mà ông từng bay qua bao lần nhưng không kịp hiểu hết.

Ông không oán trách. Ông chỉ buồn khi nhắc đến ngày rút quân. Ông nói, với người lính, rút lui không phải là thất bại cá nhân, mà là một quyết định vượt ngoài tầm tay. Nhưng trong lòng, ông vẫn mang cảm giác chưa hoàn thành trọn vẹn nghĩa tình với những người bạn phương xa.


Mỗi dịp Memorial Day, ông mặc lại bộ quân phục cũ, dù vai đã gầy, lưng đã còng. Ông đứng nghiêm trang trước hiên nhà, đưa tay lên chào kính khi Quốc Ca vang lên từ chiếc radio nhỏ. Tôi nhìn ông mà thấy cả một thế hệ đang dần đi qua. Những con người từng sống giữa lằn ranh sinh tử, nay lặng lẽ chăm sóc vườn hoa và cho chim ăn.

Tình quân ngũ giữa chúng tôi không cần những lời hoa mỹ. Chỉ cần một cái gật đầu khi nhắc đến biển, đến tàu, đến đồng đội. Chúng tôi hiểu rằng, dẫu thời cuộc thay đổi, sự tôn trọng dành cho nhau không hề phai nhạt.

Ông già Phi Công ấy giờ bước đi chậm hơn trước. Giờ đây, nhìn dáng ông cao, gầy gò đi dạo ngoài vườn, lòng tôi dâng lên một nỗi buồn man mác. Những “con chim ưng” của biển cả rồi cũng đến lúc mỏi cánh. James không chỉ là một người hàng xóm, ông là chứng nhân của lịch sử, là người anh em Đồng Minh mà định mệnh đã đặt cạnh nhà tôi để cùng nhau ôn lại những bài ca về bổn phận, trách nhiệm và lòng yêu nước. Một mai khi ông không còn đứng đó, khoảng sân ấy sẽ trống trải biết bao, và bầu trời này sẽ vắng bóng một linh hồn đầy nhân hậu.


Mỗi sáng, khi lá cờ tung bay trước hiên nhà ông, tôi lại thấy trong ông hình bóng của một người lính trẻ năm nào, đang ngồi trong buồng lái, mắt nhìn thẳng về phía chân trời. Và tôi thầm biết, trong trái tim của ông, cũng như trong trái tim của tôi, tình Đồng Minh ấy vẫn còn đó, bền bỉ như biển rộng, cao vút tận mây xanh, sâu lắng như ký ức của chúng tôi, không bao giờ tắt.


(4) Hải Quân QL.VNCH | ÔNG MỸ PHI CÔNG HẢI QUÂN HÀNG XÓM | Facebook

Anh Phước chuyển

DONOT ENTER - Trần Doãn Nho


Quãng mê lối sống tự nhiên, nhất định là vì chịu ảnh hưởng của ông nội. Ông từng sống một cuộc đời viên mãn, năm 86 tuổi, giã từ trần gian êm thắm, không quằn quại vì bệnh nan y, cũng không nằm liệt giường liệt chiếu hành hạ người thân năm này qua tháng khác. Trước giờ ra đi về một nơi vô danh nào đó, ông còn gọi con cháu đến, nhắn nhủ: tao sống lâu, sống khỏe là vì tao luôn luôn nương theo cái tự nhiên mà cư xử với cuộc đời. 


Những năm đầu thập niên 1980, Quãng theo một phong trào không có bàn tay nhà nước sờ vào:“niệu liệu pháp”. Cái tập sách nhỏ, in ấn lem nhem vài ba chục trang đuợc chuyền tay nhau như một cứu tinh của thời hậu-30-tháng-tư. Trước hết, nó hợp thời: phòng bệnh và trị bệnh không cần thuốc. Nó hơi hướm triết lý: dùng chính mình để chữa bệnh cho mình. Nó giản tiện: có sẵn ngay trong người, không cần toa. Nó thích hợp với cái túi không tiền của mọi người, không sợ chạy vạy chợ đen chợ đỏ: miễn phí. Và còn đặc biệt hơn nữa: nó khoa học. Người ta bảo nước tiểu là chất thải độc hại. Sai! Này nhé, sách niệu liệu pháp dạy: nước tiểu bao gồm 95% nước, 2,5% là hỗn hợp các khoáng chất, muối, hormon và enzim, còn chất gây độc hại là urê chỉ chiếm có 2,5%, không đáng kể. Đã thế, cái lượng nhỏ xíu này, khi uống vào, thay vì hại, nó lại có lợi vì giúp thanh lọc và làm sạch các chất nhầy dư thừa trong cơ thể. Kết luận: nước tiểu hoàn toàn vô trùng sau khi bài tiết và lại có tác dụng khử trùng, có thể dùng nước tiểu để uống, súc miệng, rửa ráy bộ phận sinh dục, nhỏ mắt, nhỏ tai, xao bóp da, tóc….Nó trị nhiều thứ bệnh, kể cả ung thư. Thực đa dụng và đa hiệu hết biết. Một liệu pháp tuyệt vời dựa trên nguyên tắc “chu trình tự nhiên” xuất hiện trong thời buổi tiến lên xã hội chủ nghĩa khi người người không có tiền mua thuốc mà có tiền cũng không có thuốc để mua. 


Quãng uống nước tiểu của mình rất chăm chỉ. Riết, đâm nghiện cái mùi vị khai khai của thứ chất lỏng vàng nhờ nhờ hứng từ cơ thể mình đựng trong chiếc chén nhỏ; ngày nào quên uống, nhớ. Thế mà bỗng dưng có ngày Quãng phát ngán, vả, cũng chả thấy bệnh hoạn gì, bèn âm thầm nghỉ. Tưởng thôi chuyện đã qua thì cho qua bỗng nhận được một tin lạ làm Quãng sửng sốt và bối rối. Số là người cô ruột của Quãng bị đủ thứ bệnh lặt vặt của một phụ nữ hơn mười lần sinh nở, có lần ngất xỉu giữa đường, bác sĩ tìm không ra nguyên nhân, bèn nghe lời Quãng, uống nước tiểu đều đặn, cho đến một hôm, bỗng nhiên, bà tìm thấy trong cái ly đựng nước tiểu của mình hàng ngày kiến ở đâu chen chúc bu vào tùm lum. Giật mình, bà đi bác sĩ làm xét nghiệm thì hóa ra, bà bị bệnh đái tháo đường. Tin buồn thành vui. Niệu liệu pháp đã giúp người cô phát hiện một thứ bệnh mà hồi đó ở Việt Nam không mấy người biết. 


Chạy ra được nước ngoài qua một con đường bảo lãnh vòng vo dài ngày tốn kém, điều trước tiên, Quãng khám phá ở cái đất nước Mỹ, nơi Tây y được tiếng là nhất toàn cầu, bệnh gì cũng chữa được, hóa ra ngoại khoa lại rất thịnh thời. Bên cạnh những quảng cáo thuốc Tây và các chẩn đoán phòng ngừa, vừa giới thiệu lại vừa dọa nạt, không thiếu những quảng cáo thuốc đông y và ngoại khoa tràn đầy lạc quan nhan nhãn trên truyền hình, liên tu bất tận trên truyền thanh và đầy ắp trên các báo phát không chất đầy chợ. Quãng thú nhất là vừa lái xe vừa mở đài phát thanh nghe quảng cáo. Nhiều quảng cáo nghe riết đâm thuộc lòng như thuộc các tình khúc bolero đến nỗi xướng ngôn viên chưa đọc, Quãng đã nghe trong đầu mình vang vang lời thoại, nhất là từ các nhân vật nổi tiếng trong làng giải trí. Các vị này tự quảng cáo bệnh tật của chính mình thành thật quá đến nỗi Quãng cũng đâm ra thương cảm và mừng thầm cho họ tìm được thuốc tiên chế biến từ ngoại khoa. Về sau, Quãng còn tìm ra là ngay trong các tiệm thuốc Tây, thuốc chế biến từ cây cỏ được đóng chai đóng hộp rất quy cách mà gọi cho văn hoa là dược thảo cũng nằm ràng ràng trên kệ thuốc, đề giá cao ngất ngưởng nhưng khi nào cũng mua một biếu một, có khi mua một biếu hai.


Chả thế mà do làm việc hợp đồng, đóng bảo hiểm quá tốn tiền trong lúc chẳng có nhu cầu khám bệnh, Quãng mạnh dạn tự chăm sóc sức khỏe cơ thể bằng ngoại khoa. Quãng khôn hơn người ở chỗ ngoại khoa Quãng không đông trùng hạ thảo cũng không sữa ong chúa cũng không colagen hay tổ yến mà chỉ bằng những thứ rất bình dân vừa dễ kiếm lại vừa rẻ tiền, tiện lợi, tự nhiên, nương theo lẽ âm dương của trời đất. Thuốc tây thì là trị bịnh nhưng cũng sinh bệnh còn ngoại khoa là thuốc mà không phải thuốc. Nếu nó không chữa được bệnh thì nó cũng chẳng gây thêm bệnh. Càng tìm hiểu thành phần cấu tạo và đặc tính của các loại thảo mộc, Quãng càng khoái. Quãng đọc báo trong nước, ngoài nước, sưu tập cẩn thận lý lịch và dược tính của từng món thuốc. Từ mè đen, nấm linh chi, rau câu phơi khô, quế, tỏi bột, bột nghệ, hà thủ ô, náng hoa trắng, cho đến tỏi, nghệ, gừng, hành, chuối sứ, chanh, sắn, đu đủ, aloe vera, rau húng, ớt...Quãng mua đủ loại, thứ thì phơi khô, thứ thì rang, thứ thì ngâm rượu, cất kỹ vào từng lọ để dành. Bạn bè bà con ai cần là Quãng tận tình giải thích, chỉ vẽ cách pha chế, cách uống. Quãng rành dược tính của mỗi loại như dược sĩ rành công thức thuốc tây.Ai hỏi là Quãng tuôn ra một tràng như giáo sư giảng bài. Bạn bè Quãng gọi Quãng là một chuyên viên thuốc ngoại khoa, ai đau gì cũng tìm đến Quãng để hỏi.


Quãng bảo: cái hay của ngoại khoa là tìm thấy cái tối ưu trong cái tối bình thường. Thuốc ở quanh chúng ta, trời sinh trời dưỡng mà. Chuối chẳng hạn, là thực phẩm hữu cơ rất giàu kali và magnesium, đặc biệt là vỏ chuối, có thể chống co thắt cơ bắp trong khi luyện tập những môn thể thao khó. Quế giúp cân bằng lượng đường trong máu, thúc đẩy tiêu hóa và sự tuần hoàn máu trong cơ thể. Ớt cay là nguồn chất chống oxy hóa tuyệt vời, dồi dào vitamin A và C, cũng như các khoáng chất sắt và kali; ăn ớt tươi thường xuyên có thể giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch và tiểu đường. Sả vị cay, mùi thơm, tính ấm trị ho, giảm cân, giải rượu, giải nhiệt, lợi tiểu, tiêu thực, chữa rối loạn tiêu hóa, giảm huyết áp, ngăn ngừa ung thư. Nấm ngăn ngừa và trị ung thư gan, tỏi ngăn ung thư dạ dày, rong biển chống ung thư phổi, măng tây trị ung thư bàng quan… 

Bạn Quãng, có người nói kháy: 

- Thuốc ngoại khoa của ông, ngày nào người ta chả ăn, uống, cần gì phải mất công nghiên cứu, sưu tầm cho mệt!

Quãng chỉ cười trừ, chẳng cảm thấy phiền hà gì. Dè bỉu việc làm người khác vốn cũng là nét hồn nhiên của bản tính con người. 

****

Ấy thế mà, đột nhiên, Quãng có những cơn đau nhức bất thường, khi thì ở cổ họng, khi thì trong lồng ngực, khi thì quanh vùng bụng, khi thì sau lưng, khi thì ở bụng dưới, khi thì âm ỉ sâu thật sâu đâu đó trong cơ thể, mắt thỉnh thoảng nhìn một ra hai, đi tiêu đi tiểu càng lúc càng bất thường. Chúng chưa đủ nặng để Quãng trở thành bệnh nhân, nhưng cũng thừa khó chịu để Quãng phải băn khoăn. Các phương thuốc ngoại khoa được Quãng huy động tối đa để đối phó mà chưa thấy tác dụng gì đối với những triệu chứng bất thường này. Dùng thì vẫn dùng, nhưng Quãng âm thầm nghe ngóng, săm soi cơ thể mình, ngờ ngờ vực vực. Nghĩ đến chiếc xe cũ hư lên hư xuống mấy tháng nay, Quãng nhủ thầm chắc cái máy người xài lâu quá đã bắt đầu rệu rã rồi đây. Những dấu hiệu nhỏ nhoi biết đâu lại là điềm báo cho những điều trọng đại. Quãng nói với vợ: 

- Chắc anh bệnh. 

Vợ Quãng hớn hở: 

- Thấy chưa! Em đã nói nhiều lần rồi mà không nghe. Cứ tiếc tiền đóng bảo hiểm, không chịu đi khám bệnh, hễ đụng tới là ngoại khoa này ngoại khoa nọ. Anh đã có tuổi rồi, phải đi khám bác sĩ. Sớm chừng nào tốt chừng đó.

Quãng nói cứng:

- Hở cái là bác sĩ, bác sĩ, bác sĩ. Làm như ngày mai chết không bằng. Hồi xưa ông bà mình không hề biết bác sĩ là gì mà vẫn cứ sống lâu trăm tuổi. Em không thấy cả đống người cứ đi bác sĩ hoài vẫn cứ đau, cứ bệnh, cứ chết như thường.

Nàng cương quyết:

- Khi anh lành, muốn ngoại khoa kiểu gì cũng được, anh làm chủ anh, nhưng giờ đã bệnh, anh không còn thuộc quyền của anh nữa. Bệnh là chuyện của bác sĩ không phải là chuyện của anh. 

- Ô hay, cái bà này! Anh đâu có bệnh. Anh chỉ mới đau thôi. Bác sĩ lo cho anh sao bằng chính anh lo cho anh.

- Lại bướng nữa! Đau là bệnh mà bệnh là đau. Đời người là đau, là bệnh. Bệnh cũng là chuyện tự nhiên như ngoại khoa của anh, chẳng phải từ trên trời rớt xuống đâu. Anh đừng tưởng anh ngon.


Ô hay, cái bà vợ này học ở đâu mà nghe ra cũng có lý. Quả là Quãng luôn luôn cảm thấy mình ngon, luôn luôn ngon, rất ngon nữa là khác. Chả là khi lạc quan, lúc bình an vô sự, con người ta lúc nào cũng nghĩ là mình sẽ không bao giờ bị tai nạn, không bao giờ bị bệnh, cơ thể luôn luôn chịu khó nghe mình. Nhậu nhẹt, hút xách, chơi bời, ăn ngọt ăn chua ăn mỡ ăn đường ăn cay ăn đắng không sao hết. Tên khách bất lương gọi là bệnh này thường chỉ đi viếng những ai khác, nhưng nhất định không mất công viếng thăm những người như Quãng. Quãng sống đạo đức, ăn hiền ở lành, chẳng hề rắp tâm hại ai, sống theo lẽ đất trời, hồn nhiên cây cỏ, mắc mớ gì mà bệnh tìm tới hại Quãng nhỉ!

Đúng là Quãng lầm. Cái thằng bệnh không chừa một ai cả, kể cả những đấng thiêng liêng.

*****

Quãng ghi danh vào ObamaCare đúng vào lúc chương trình này đang ở một khúc quanh nguy hiểm: quốc hội Hoa Kỳ với sự chỉ đạo của tổng thống Trump đang tìm cách loại bỏ nó. Nhờ lá phiếu bất ngờ của ông thượng nghị sĩ McCain nào đó, nó tạm thời vẫn tồn tại. Dẫu vậy, các văn phòng bác sĩ vùng Quãng ở không mấy ai dám nhận chương trình bảo hiểm đang như treo trên đầu sợi tóc này. Cũng may, hỏi thăm vòng vòng, cuối cùng, Quãng tìm được một bác sĩ khác mấy ông bác sĩ khác. Ông bác sĩ Việt quá tuổi trung niên này đáng gọi là lạ. Trong lúc ai cũng chọn cái an toàn, ông chơi ngon, nhận hết ObamaCare, chẳng biết vì ông tính toán khôn ngoan hay đầu tư liều lĩnh hay vì lòng nhân đạo hay cả ba. Thì sao cũng được, được cho khám là mừng rồi. Vào phòng đợi, Quãng nhìn quanh, thấy toàn người là người, lớn bé già trẻ chen chúc từ trong ra ngoài, từ tầng lầu cho đến phòng khách, đứng, ngồi tràn tới ngay trước nhà vệ sinh, bàn tán râm ran về những trò chơi chính trị nghẹt thở của các chính trị gia Hoa Kỳ, về chuyện bảo hiểm sức khỏe. Quãng lắng nghe tiếng hát văng vẳng hãy nói về cuộc đời ngày mai không còn nữa sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới…hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi…rỉ rả, da diết vang lên từ cái loa nhỏ gắn trên trần nhà pha lẫn với tiếng bệnh nhân rì rầm to nhỏ chuyện bệnh tật đủ dạng đủ loại. Người thì u bướu, kẻ thì tiền liệt tuyến, người thì thận, kẻ thì phổi, người thì đau khớp, kẻ thì mất ngủ, người thì ăn không tiêu, kẻ thì tiểu đường. Bệnh đúng là trẻ không tha già không chừa, nghe mà sốt ruột, ai kể bệnh gì Quãng cũng cảm thấy mình bị bệnh đó. Bên ngoài chỉ thấy người ta chạy xe, vui chơi, ăn nhậu, tranh cãi những chuyện trên trời dưới đất, dự tính chuyện tương lai y như thể đời là mãi mãi như thế, nhưng khi đi khám bệnh, người ta mới chợt nhớ ra cái khối vật chất gọi là cơ thể đeo đẳng theo mình suốt đời quả là quá yếu đuối, quá phiền nhiễu, dễ sứt dễ mẻ dễ thủng dễ méo dễ ung dễ rã, nó chẳng đẹp đẽ tươm tất gì mà toàn sinh ra lắm chuyện rầy rà!


Dưới con mắt soi mói của những nhà nghiên cứu y khoa, bệnh vốn đã nhiều và vẫn cứ tiếp tục nhiều lên, không bệnh nào giống bệnh nào. Phòng bệnh, chữa bệnh, thuốc men không chạy theo kịp theo danh sách bệnh cứ mãi dài lần. Quả là nghịch lý: cơ thể sống được cấu tạo hoàn hảo quá, đến nỗi bất cứ một lệch lạc dù nhỏ đến đâu, cũng đều có thể biến nó thành gánh nặng cho chính nó. Đã thế, lại còn họa vi trùng. Đám sinh vật nhỏ nhoi, bần tiện và giấu mặt này tìm tất cả mọi cơ hội, đột nhập vào cơ thể, thuộc địa hóa bộ phận này, chiếm lĩnh cơ quan kia, đục khoét thành phần nọ. Chúng chui lên não, núp trong gan, bò vào phổi, chen chúc trong tim, lặn vào từng tế bào, ẩn trong những kẽ xương, tụ tập chật ních trong bao tử, phục kích dưới bàng quan, tuồn vào trong mạch máu. Chúng hoành hành, khuấy phá bất kể đêm ngày. Hàng triệu triệu cư dân không mời mà đến này lúc nhúc sốt ruột nằm chờ chực, đợi dịp là nhảy ra múa may, cấu xé, hành hạ các tế bào thân yêu của cơ thể. Chúng ác ôn, năng nổ thầm lặng rỉa rói thân xác con người như chỗ không người. Chúng hồn nhiên sinh sản, bành trướng, chẳng băn khoăn nạn bùng nổ dân số, không lo thiếu lương thực, không sợ ô nhiễm môi trường. Thân xác con người quả là cái sân chơi miễn phí. Quãng la con mắng vợ, tranh cãi với bạn bè, gây gỗ với đồng nghiệp, suy nghĩ những điều cao siêu thâm viễn cổ kim, nhưng bất lực, và hoàn toàn mù mịt cái thế giới nhỏ nhoi đầy định mệnh tồn tại chính bên trong Quãng. Chao ơi, cái cơ thể mà Quãng vận dụng hàng ngày như của riêng, hóa ra là một bí ẩn không nguôi. Rất quen và hoàn toàn xa lạ. Nó tự nhiên, nhưng chẳng tự nhiên chút nào. Càng lớn tuổi, nó càng trở nên bí ẩn. Nghĩ đến chuyện cơ thể mình bướng bỉnh sinh chứng với mình, Quãng mất tự tin. 

 

Khám xong, sau mấy ngày hồi hộp chờ đợi, Quãng trở lại phòng bác sĩ để lấy kết quả thử nghiệm. Người phụ tá bác sĩ dẫn Quãng tới trước cái máy vi tính chỉ cho Quãng xem kết quả các xét nghiệm máu và nước tiểu. Nhìn vào, chao ơi, lúc nhúc chữ và số. Quãng bồn chồn nhìn theo cái mũi tên chỉ trên màn hình những con số và chữ vô tâm vừa nghe giọng nói nhẹ nhàng của cô bác sĩ trẻ phụ tá như nghe lời phán quyết của quan tòa:

- Chú xem, cột phía bên trái là tên thành phần xét nghiệm còn cột phía bên phải là kết quả xét nghiệm, cột kế đó cho thấy số đo bình thường, thành phần nào có chỉ số cao thấp bất thường thì được ghi chú vào cột này. Chú thấy không, chỉ số tiền liệt tuyến PSA chú cao, trên 5 chấm, như thế là có vấn đề với tiền liệt tuyến, cần phải xét nghiệm và theo dõi kỹ. Chú bị cao mỡ, đến gần 250. Cao mỡ là rất nguy hiểm, dễ đưa đến đột quỵ, áp huyết chú cũng quá cao, chú cần phải uống thuốc ngay cho cả hai, càng để lâu càng khó trị. Đường thì chú cũng cao, chưa đến giai đoạn tiểu đường, nhưng đang ở giai đoạn tiền tiểu đường, chú thấy không, chỉ sốA1C gần 6.4. Hemoglobin chú lại thấp, dưới 10 như thế là thiếu chất sắt, thiếu máu, có thể gây bệnh gan, thận. Độ ALT của chú cao, là gan có vấn đề. Sodium của chú thấp, đưa đến nhức đầu, nôn mửa, hay mệt mỏi, potassium cao ảnh hưởng đến thận; hai thứ này không cân bằng ảnh hưởng đến tim mạch và sức khỏe nói chung. Chú cũng thiếu vitamin D, không tốt cho xương và có thể gây ra bệnh tim mạch…

Quãng sốt ruột: 

- Cô bác sĩ ơi, tôi như thế này mà toàn là bệnh với bệnh sao hả cô? Mấy cái chỉ số tùm lum đó ở đâu ra mà nhiều thế. Tôi thì ăn cũng ngon, ngủ cũng yên làm việc cũng xốc vác… 

Cô bác sĩ cười: 

- Chú nói đúng. Đúng là chú chưa có bệnh, nhưng kết quả thử máu cho thấy là nếu không chữa, chú sẽ bị bệnh. Bệnh là một quá trình chứ không phải là một cái tên. Cháu không đẻ ra bệnh, chỉ mô tả bệnh. Chú cần phải đi siêu âm cổ, siêu âm gan. Tuy chú chưa tiểu đường nhưng phải đi thử máu thường xuyên, định kỳ. Chú cũng phải tới trung tâm niệu khoa để làm xét nghiệm tiền liệt tuyến, và tới trung tâm bài lao để chụp hình phổi vì chú khai là trước đây chú hút thuốc nhiều. Cháu đã làm hẹn cho chú rồi, chốc nữa cô y tá sẽ đưa cho chú mấy giấy giới thiệu. Kể từ giờ, chú cần phải ăn uống kiêng cử, ba tháng sau chú trở lại thử máu nhé. Chú theo hướng dẫn chuyện ăn uống trong này này… 

Cô đưa cho Quãng hai mảnh giấy đánh máy cẩn thận.

Mảnh giấy 1: Giảm năng lượng (calories) để xuống cân. Uống thêm nhiều nước. Hạn chế các loại nước ngọt, nước trái cây, sinh tố, đồ ngọt. Ăn thêm nhiều rau cải, dưa chuột, cà chua. Tránh đồ xào. Ngoài ra, bớt ăn tất cả trái cây, ngũ cốc, các loại bột, các loại hột, thịt cá. Nói chung là thay thế các đồ ăn bằng nước và rau cải. Ngay trước khi ăn, nhớ uống một hay hai ly nước to để đầy bao tử thì sẽ ăn ít lại. Tập thể dục thường xuyên. 

Mảnh giấy 2: Đồ ăn cần cữ: dầu dừa, nước cốt dừa, dừa khô, da và mỡ của gà/heo/bò/vịt, gạch cua/tôm/crawfish, lòng đỏ trứng, các loại chả/giò lụa, xúc xích, lạp xưởng, đồ chiên, dầu, bơ (butter, magarine), phô mai (cheese), cà rem, da-ua có fat, sữa tươi có fat, sữa đặc. 


Lúc sắp bước ra khỏi cửa phòng mạch, cô y tá còn chạy theo giúi vào tay thêm một mảnh giấy nữa, nói chú đường cao, nhớ là không nên ăn những thứ này, bác sĩ dặn như thế.  

Mảnh giấy 3: Đừng ăn bánh ngọt, kẹo, nước ngọt có ga và tất cả các thực phẩm ngọt nhân tạo hoặc vị ngọt quá đậm như mía đường, hoa quả quá ngọt... Hạn chế các thực phẩm như cơm, phở, bún. Tuyệt đối kiêng kỵ các loại thức ăn liền như phở, cháo.


Đúng là cái kết quả thử máu ác ôn. Không thử thì máu là máu. Mà thử rồi thì máu chẳng còn là máu. Cứ tưởng máu thì đỏ, hóa ra nó chẳng đỏ chẳng xanh chẳng vàng mà toàn là những thứ vớ vẩn gì đâu.  

Về nhà, Quãng vứt mấy tấm giấy nhỏ ghi các thứ đồ ăn phải kiêng cữ cho vợ:

- Xem này, đây là lệnh từ bác sĩ: từ nay anh phải tuyệt thực. 

- Tuyệt thực?

Nàng cầm giấy đọc, cười xòa: 

- Bác sĩ nói đúng. Xưa nay anh ăn uống thoải mái, cho nên bây giờ rước bệnh vào thân. Phải lo kiêng cữ là vừa. Em biết mà. Đây này, anh xem cái tài liệu y khoa này này. Trên facebook người ta chuyền nhau để mà biết mà đề phòng. Này nhé, tim thì sợ mặn, phổi thì sợ khói, dạ dày thì sợ lạnh, gan thì sợ béo, túi mật thì sợ ngọt, ruột thì sợ ngồi, bàng quang thì sợ nín… 

Quãng nói: 

- Em đọc bệnh mà nghe như đọc thơ… 

- Đừng ngồi đó mà mỉa mai. Cái gì hay, cái gì đúng thì mình nghe, có mất mát gì đâu, lại có lợi nữa. Mấy thứ đồ ăn bác sĩ dặn kiêng cử là y chang như người ta nói. Anh có biết vì sao tim sợ mặn không? Em đọc cho nghe nhé: hấp thụ thực phẩm chứa nhiều muối có thể mắc áp huyết cao, và các nguy cơ tiềm ẩn khác. Lượng ion natri lớn trong muối có thể làm tăng dung lượng máu trong cơ thể, do đó, ăn nhiều muối làm tăng áp huyết, tăng gánh nặng cho tim. Còn phổi thì sợ khói vì trong cuộc sống hàng ngày… 

Quãng xua tay: 

- Thôi đủ rồi, đủ rồi… Từ đây anh sẽ nhịn đói. Cũng như niệu liệu pháp, phương pháp nhịn đói là dùng mình để chữa mình. Các nhà triết học Hy Lạp vĩ đại như Socrates, Plato… thường nhịn đói trước khi viết các tác phẩm về triết học hoặc trước khi phải trải qua những kỳ kiểm tra đặc biệt vì họ biết rằng nhịn đói sẽ kích thích khả năng trí tuệ. Ở Phương Đông, y học cổ truyền đã bàn luận và sử dụng phương pháp nhịn ăn với những tên gọi là “đoạn thực”, “đoạn cốc”, “tịch cốc” để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe dưới hình thức đơn độc hoặc phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc khác như châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền… 

Đến lượt vợ Quãng xua tay:

- Nữa! Lại ngoại khoa! Học sao mà thuộc lòng như cháo. Thôi, em biết rồi. 

Nàng nhìn Quãng, giọng nghiêm túc:

- Bây giờ anh đã là một con bệnh, đã bệnh thì phải lo mà chữa…

- Con bệnh? Anh đã đau gì đâu mà em gọi là con bệnh. Bác sĩ nói anh mới có vấn đề chứ chưa phải bệnh. 

Nàng hạ giọng:

- Người ta nói để anh bớt lo thôi. Muốn còn sống vui vầy với vợ con, anh phải diet. Từ nay, em sẽ không nấu bún bò, không nấu phở, không nấu xôi, không chiên xào, không nấu chè, nấu cháo, không thịt bò xào lăn, không thịt bò tái, không bít tết… Không phải em không muốn cho anh ăn ngon. Nhưng ngon nhiều, khoái khẩu nhiều thì bệnh cũng nhiều. Theo em, món ngon nhất là đừng đau ốm bệnh tật gì hết. 

Ngừng một lát, nàng nói chậm lại: 

- Trong những thứ diet, còn có một thứ rất quan trọng nữa mà bác sĩ không nói, những anh phải biết.

- Gì nữa đây trời, diet chừng đó là xem như anh hết làm người rồi.

Nàng nghiêm giọng:

- Anh phải diet cả em nữa. 

Quãng thắc mắc:

Diet cả em? 

- Chứ sao! Từ nay, đừng có này nọ… coi chừng có ngày…

Nàng lẳng lặng bỏ đi. Quãng nhìn theo, nhủ thầm, cái bà này trông ngộ thiệt, hình như bà ta vui vì mình bị bệnh. 


Một mình, Quãng nhìn bảng kết quả thử máu, thử phân, thử nước tiểu, tưởng như cầm bản cáo trạng, cảm thấy mình là tội nhân hơn là bệnh nhân, bỗng liên tưởng đến lá số tử vi mà ông nội nhờ ai đó chấm hồi còn nhỏ, cất giữ cẩn thận trong cái tráp để dưới bàn thờ như của gia bảo. Nào là cung thiên di, cung tài lộc, cung điền trạch… rồi những là thái tuế, thái dương, hóa kỵ, liêm trinh, thiên đồng, những là thất sát, kình, đà, tham lang… nghe vừa lạ vừa bí ẩn, nhưng chúng là số mệnh Quãng. Ông nội bảo: số mệnh thì tất định, đã sao thì chịu vây. Ấy thế mà mỗi lúc gặp trắc trở khó khăn, không hanh thông trong cuộc đời là Quãng lại giở lá số ra, hy vọng có một con sao tử vi nào đi lạc để đời Quãng vui hơn. Bây giờ Quãng có một lá số mới, rất hiện đại, lá số này buồn một cái là chỉ có một cung thôi: cung tật ách. Chẳng thất sát, hóa kỵ, tham lang… mà những là potassium, triglycerine, albumin, bilirubin, AST, Alt, BUN, A1c.. Trước một đống đủ thứ hỗ lốn như một phương trình đa nghiệm này, Quãng trở thành vô nghĩa. Chính chúng làm chủ, chứ không là Quãng. Chúng nó chẳng liên hệ gì đến thiên đường địa ngục dân chủ nhân quyền tự do công bằng bác ái, chúng vô tri vô giác tương tác với nhau trong cơ thể Quãng y như thể Quãng không có mặt trên cõi đời này.


Khuya, Quãng vào phòng, sửng sốt khi thấy trước cửa phòng mình tấm giấy dán hờ hững, chắc vừa mới làm vội, tô màu đỏ chói. 

DO.NOT.ENTER

Tấm bảng cảnh báo giao thông dựng, treo, gắn tùm lum ở các nơi công cộng đột nhiên vào nằm chình ình ngay cửa phòng ngủ Quãng! Cái bà vợ thân yêu này đã hớn hở khi nghe Quãng bệnh, bây giờ lại chơi trò cấm đoán. Quãng giựt cái donotenter ra vứt xuống sàn, vặn mạnh chốt. Cửa khóa, không mở. Gõ mạnh. Im lặng. Lại gõ. Im lặng. Tiếp tục gõ lớn hơn. Im lặng. Em em em em, Ngân, Ngân, Ngân, Ngân…mở cửa, mở cửa, mở…Vẫn im lặng.


Quãng bực dọc, ra phòng khách, nằm trên ghế sa lông, trăn trở mãi với tờ kết quả thử nghiệm, lơ mơ thấy mình rất lạ lẫm mình. Buồn tình, Quãng trôi tuột vào giấc ngủ như một ẩn số.

 

TDN

12/2019



Vần Thơ Tự Tình - Nguyễn Duy Phước

Monday, March 30, 2026

Những Câu Kinh


Những câu kinh có khả năng gom hết những bất an trong lòng người rồi trả lại cho họ những tháng ngày bình yên.


Câu kinh như mưa, thấm vào đất, phân hủy nỗi buồn riêng, làm mềm nỗi đau chung, rồi chuyển hóa chúng và trả lại cho nhân gian những mùa hoa bình yên. 

Những câu kinh là hiện thân của hiểu biết và tình thương; không phủ nhận nỗi đau, không coi thường nước mắt, mà nhẹ nhàng đón nhận tất cả, như dòng sông bao dung đón nhận tất cả mọi thứ trôi về từ thượng nguồn.

Những chiếc ô không làm mưa ngừng rơi, nhưng có thể giúp chúng ta đi trong mưa mà không bị ướt.  Những câu kinh cũng vậy, không thể ngăn những biến cố tràn qua cuộc sống, nhưng có thể giúp ta nhìn những biến cố bằng đôi mắt từ bi và hiểu biết, để thấy những biến cố không còn đáng sợ nữa.


Ta từng thấy nhiều người mang trái tim thật buồn về ngồi trước Phật, nghe một thời kinh, rồi nhẹ lòng quay trở lại cuộc sống ngoài kia. Không phải cuộc sống ngoài kia đã đổi thay, mà chính tâm hồn họ đã tìm được cho mình một điểm tựa, và những câu kinh như một người bạn chân thành, lắng nghe nhưng không phán xét, thấu hiểu mà không can thiệp, an ủi mà không thương hại.

Hạnh phúc từ những câu kinh mang lại không phải là thứ hạnh phúc ồn ào, náo nhiệt, mà đó là sự bình yên rất nhẹ rất sâu. Những câu kinh dạy ta biết trân quý những khoảnh khắc hiện tại, biết nhìn mọi thứ chung quanh bằng ánh mắt tươi mới, biết buông bỏ những gì không thuộc về mình.


Những câu kinh như dòng sông mang nặng phù sa, sẽ tiếp tục chảy qua bao kiếp người, gom nhặt tất cả những giọt mồ hôi và nước mắt trong nhân gian và ươm mầm cho cuộc sống những mùa hạnh phúc.


Nguồn: FB
Kim Duncan chuyển

Ngọn Đèn Dầu Trong Góc Khuất - T. Nguyen


Ở thành phố London, Ontario, có một hội trường nhỏ sát bờ sông Thames, mỗi tuần mở cửa một lần cho mấy người già Việt Nam tới ngồi với nhau. Căn phòng lúc nào cũng ấm hơn ngoài trời, dù mùa đông hay mùa hạ, bởi mùi trà nóng, mùi dầu gió xanh quen thuộc tỏa ra từ vạt áo của những người già xa xứ, và những câu chuyện quen như gió thổi qua hàng dừa quê cũ.


Ông và bà quen nhau ở đó. Ông ngoài 70, quê miền Tây, lưng đã còng nhẹ như cây tre già sau nhiều mùa gió. Vợ ông mất 10 năm trước, một buổi sáng mùa thu, đi nhẹ như chiếc lá rụng không kịp báo. Từ đó, căn nhà nhỏ của ông chỉ còn tiếng đồng hồ treo tường và tiếng tuyết cào vào cửa sổ mỗi khi đông về. Ông đến Canada vài năm sau miền nam sụp đổ, ông làm nghề lao động cho đến khi về hưu nên đời sống kinh tế hơi bị eo hẹp.

Bà cũng ngoài 70, tóc bạc gọn gàng, giọng Huế ấm áp. Bà đang ở với đứa con trai và gia đình của nó, khá giả nhờ kinh doanh, sáng lo bữa ăn, chiều đưa đón, nhà lúc nào cũng có người, nhưng đông người không có nghĩa là không trống. Có những nỗi cô đơn không nói ra được.


Họ quen nhau vì được sắp chung nhóm “thất thập niên”. Ban đầu chỉ là gật đầu chào, rồi vài câu hỏi thăm sức khỏe. Sau quen dần, mỗi tuần gặp lại, họ bắt đầu kể cho nhau nghe những chuyện nhỏ nhặt: ông kể tuần rồi tuyết dày, ông phải tự xúc sân; bà kể cháu nội mới biết nói, gọi bà bằng giọng còn ngọng nghịu. Những chuyện không lớn, nhưng đủ để lấp đầy khoảng trống của một ngày cuối tuần ấm áp.

Ông hay im lặng nghe bà nói. Ông nghe bằng cả người, như người miền Tây nghe nước lớn lên nước ròng xuống. Trong câu chuyện của bà thường có bóng dáng quê nhà: con rạch nhỏ, bờ ao có bụi chuối, những đêm canh nồi bánh tét dịp xuân mà bây giờ ông chỉ còn gặp trong giấc ngủ trưa. Ông ít khi kể về mình. Đời ông sau khi vợ mất, ngày nào cũng giống ngày nào, như con đường phủ tuyết, đi hoài vẫn chỉ một màu trắng. Bà tuy còn con cháu, nhưng nhiều khi ngồi giữa phòng khách sang trọng, nghe chúng nó nói tiếng Anh với nhau, bà thấy mình như một người khách lạ trong chính gia đình mình. Cái cô đơn của bà là cái cô đơn trong đông đúc, còn cái cô đơn của ông là cái cô đơn trong tịnh không.

Bà biết ông cô đơn hơn bà. Bà không nói ra. Ở tuổi này, người ta thương nhau bằng cách giữ im lặng đúng lúc. Bà chỉ để ý những chi tiết nhỏ: hôm nào ông ho nhiều, bà pha trà gừng mang theo; hôm nào ông quên mang áo khoác, bà nhắc nhẹ một câu. Những quan tâm kín đáo như mưa phùn, không ướt áo liền nhưng ngấm lúc nào không hay.


Có những buổi họ không nói gì nhiều. Chỉ ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi hàng cây trụi lá đứng im, chờ xuân. Trong khoảng lặng đó, ông nghĩ tới vợ mình, tới những năm tháng hai người còn trẻ, còn nghèo mà vui. Bà nghĩ tới quãng đường đã đi qua, tới cái ngày rời quê, mang theo cả một đời ký ức. Hai nỗi nghĩ khác nhau, nhưng cùng chung một màu buồn tênh.

Ông hiểu, bà không thuộc về ông. Bà có gia đình, có những sợi dây ràng buộc ấm áp. Còn ông, chỉ là một bến nước cũ, may mắn có người ghé lại ngồi nghỉ chân. Nghĩ vậy, ông càng quý những buổi họp mặt hơn, quý từng lần được nghe bà kể chuyện.

Ở tuổi xế chiều, tình cảm không còn ồn ào. Nó giống như ngọn đèn dầu đặt trong góc nhà: không sáng rực, nhưng đủ soi cho người ta thấy mình chưa hoàn toàn ở trong bóng tối. Ông và bà không gọi tên mối gắn bó đó. Họ chỉ biết, mỗi tuần còn có một buổi để chờ, một người để nhớ, là lòng đã bớt lạnh đi một chút giữa xứ người xa lạ. Và thế là đủ.

Con cháu bà dần dần biết chuyện....

Chiều London hôm ấy tuyết rơi lất phất, cái lạnh như kim châm vào những khớp xương già nua. Trong góc phòng họp mặt, ông ngồi khép nép hơn mọi khi, chiếc áo khoác cũ đã sờn cổ được ông cài kín mít như để che đi cái nghèo nàn đang bị người đời dòm ngó.

Hôm nay sinh nhật bà. Con trai và con dâu vừa đưa bà đến. Lúc bước vào, họ lướt nhìn ông bằng ánh mắt lạnh lẽo như băng giá ngoài kia. Tiếng xầm xì của chúng bằng tiếng Anh, ông hiểu hết từ cái giọng điệu khinh khỉnh đến cái nhếch môi khi nhìn vào đôi giày cũ mòn của ông cũng đủ làm một người đàn ông từng là trụ cột gia đình thấy lòng nhói buốt. Họ không muốn bà "gần gũi" với một ông già đơn độc, nghèo nàn, sợ ông là gánh nặng, hoặc đơn giản là sợ cái hình ảnh "không môn đăng hộ đối" làm mờ đi cái vẻ thành đạt của họ ở xứ sở này.

Đến giờ giải lao, mọi người cùng ăn nhẹ. Con bà bày ra những hộp thức ăn sang trọng, nhưng khi ông lại gần, họ ý tứ kéo ghế ra xa, hoặc giả vờ bận rộn để không phải mời ông một tiếng. Ông đứng lặng, bàn tay run run cầm mẩu bánh mì khô khốc. Bà nhìn thấy hết. Bà đau cái đau của người đàn bà kẹt giữa một bên là thâm tình con cái, một bên là sự tri âm của người bạn già. Bà lẳng lặng gắp miếng chả lụa vào đĩa của ông, nói nhỏ, giọng run run:

- Ông đừng có để bụng... tụi nhỏ nó sống bên này lâu quá, cái tâm nó bị đóng băng rồi. Để tui ăn với ông cho vui.

Ông nhìn bà, đôi mắt u uất khẽ gợn sóng. Ông muốn đứng dậy bỏ về, cái tự trọng của một người đàn ông miền Tây "đói cho sạch, rách cho thơm" đang trỗi dậy. Nhưng nhìn thấy bàn tay bà đang run rẩy vì lo lắng cho mình, ông lại ngồi xuống. Ông thương bà hơn là giận lũ trẻ. Ông buồn. Buồn lặng. Không phải vì nghèo, mà vì cảm giác mình bị làm phiền. Cái nghèo ông đã mang theo từ quê qua tới xứ người, ông quen rồi. Nhưng ánh mắt coi thường thì vẫn làm tim người ta nhói, dù đã sống gần trọn một đời. Ông bắt đầu nghĩ tới việc không nên đến nữa, không nên làm bà khó xử giữa con cháu và một người dưng như ông. Bà biết. Bà luôn biết những điều người khác không nói ra.

Lúc ra về, khi con cháu bà đang mải mê chào hỏi những người khác, bà nhanh tay dúi vào túi áo khoác rộng thùng thình của ông một bọc nilon trong đó có vài hộp nhỏ được gói kỷ trong giấy bạc. Bên trong là mấy cuốn gỏi cuốn bà tự tay làm, là miếng thịt kho tàu mềm rục đậm đà vị quê hương. Bà thầm thì: 

- Nè, đem về chung cư, tối hâm lại mà ăn cho ấm bụng. Đừng có nhịn, tui xót...

Ông nắm chặt lấy bọc đồ ăn qua lớp vải áo, cảm giác nó nóng hổi như vừa mới vớt ra từ nồi áp suất, hay chính là hơi ấm từ trái tim bà truyền qua? Ông không nói được lời nào, chỉ khẽ gật đầu, cổ họng nghẹn đắng.

Ông lầm lũi đi ra trạm xe buýt. Bóng ông đổ dài trên mặt đường sũng nước mưa xuân. Ông hiểu, trong mắt lũ trẻ, ông là kẻ "đào mỏ" hay một ông già lẩm cẩm, nhưng trong mắt bà, ông là cả một khung trời kỷ niệm, là người duy nhất hiểu được tại sao bà lại khóc khi nghe một câu hò giữa lòng London.

Tình già ở đây sao mà u uất quá. Nó không được phô trương dưới ánh đèn, mà phải giấu diếm trong túi áo, trong những món ăn vụn vặt và những lờidặn dò lén lút.

Ông mang những gói thức ăn ấy về căn chung cư im lìm của mình. Ông ăn chậm, ăn kỹ, như sợ hết quá nhanh. Mỗi miếng ăn không chỉ là no bụng, mà là một sự xác nhận âm thầm rằng trên đời này vẫn có người coi ông là người, không phải là gánh nặng hay cái bóng bên lề.

Ông không dám đòi hỏi gì hơn. Ông giữ khoảng cách, giữ lòng tự trọng, giữ cả nỗi buồn cho riêng mình. Nhưng trong những đêm tuyết phủ kín ban công, khi hâm lại nồi cá kho bà giấu cho, mùi nước mắm bốc lên rất khẽ, ông biết: có những thứ không cần gọi tên, vẫn đủ để một người già sống tiếp qua mùa đông dài.

Rồi tới một buổi họp, chỗ ngồi quen đã trống.

Một tuần, rồi hai tuần... cái ghế trống đối diện ông trong câu lạc bộ đã bắt đầu lạnh lẽo cho đến khi người trưởng hội thông báo bà đã trút hơi thở cuối cùng đêm qua, trái tim ông như có một mảnh sành cứa vào, không đau rát nhưng máu rỉ ra âm thầm, lạnh ngắt.

Ông đến đám tang với tư cách một người bạn đồng hương xa lạ. Ông mặc chiếc áo vest cũ kỹ, cài nút thật chặt để ngăn những cơn run rẩy của tuổi già và cả nỗi đau đang cuộn lên trong lồng ngực. Ông đứng lẫn vào đám đông, giữ khoảng cách với con cháu bà. Họ vẫn vậy, vẫn ánh mắt sắc lạnh, bận rộn với những nghi thức sang trọng mà có lẽ bà khi còn sống cũng chẳng mấy mặn mà.

Ông sợ họ thấy ông khóc. Ông sợ cái tình cảm kín đáo, tinh sạch như sương sớm của hai tâm hồn già nua bị họ vấy bẩn bằng những suy nghĩ thường tình. Ông cố nuốt nước mắt vào trong, khiến đôi mắt đục mờ càng thêm u uất.


Lợi dụng lúc con cháu bà đang bận tiếp khách phía sảnh ngoài, ông lầm lũi tiến lại gần linh cữu. Đôi bàn tay đồi mồi run run đặt lên bàn thờ những món quà mộc mạc mà ông đã chắt chiu mua từ những đồng tiền già ít ỏi: Một hộp mè xửng Thiên Hương chính hảng từ Huế, một bịch trà Bảo Lộc hiệu Cây Thông mà bà ưa thích, thứ trà chát đắng lúc đầu nhưng ngọt hậu về sau. Một hộp bánh pía Sóc Trăng: Món quà quê hương của ông, cái vị ngọt của đậu xanh, vị béo của sầu riêng. Và cuối cùng, chai dầu gió xanh: Kỷ vật ngày đầu quen nhau bà đã tặng ông. Ông trả lại cho bà, không phải vì muốn đoạn tuyệt, mà vì ông muốn hơi ấm của nó sẽ theo bà sang bên kia thế giới.

Ông đứng lặng, bóng dáng cô độc in trên nền hoa trắng xóa. Ông lâm râm, tiếng khấn chỉ đủ cho mình ông và linh hồn bà nghe thấy:

- Bà đi trước nha... Về dưới đó, chỗ có nắng ấm, có mùi bùn non, không còn tuyết lạnh, không còn những ánh nhìn ghẻ lạnh đâu bà. Cầu ơn trên rước bà về cõi Phật. Thỉnh thoảng... bà có nhớ tui, nhớ cái mùi trà này, thì về thăm tui trong giấc chiêm bao, để tui còn thấy mình không đơn độc giữa cái thành phố mênh mông này...

Lúc ông quay lưng bước đi, một cơn gió lạnh lùa qua cửa sổ làm khói nhang bay vòng rồi tan mất. Ông bước ra phố, chiếc bóng gầy guộc lọt thỏm giữa những tòa nhà cao tầng.

Từ nay, bọc thức ăn trong túi áo sẽ không còn nóng hổi, những câu chuyện về tiền già, về con cái sẽ chẳng còn ai để sẻ chia. Ông đi, mang theo cái nghèo, cái tự trọng và một khoảng trống mênh mông mà cả thành phố London này cũng không thể lấp đầy.

Hóa ra, cái chết không đáng sợ bằng việc người duy nhất hiểu mình đã không còn nữa.

 

T. Nguyen

London

Tám Con Mắt Ngó - Đỗ Công Luận

 

Thằng Việt Kiều Phản Động - Nguyễn Sơn



Ngồi trên chuyến bay từ Mã lai về Đức. Trong chuyến bay, ngồi chung hàng ghế với một cán bộ Cộng sản. Ông ta tự giới thiệu là cán bộ đi công tác. Vì là người Việt Nam và tánh tôi hay thích tìm hiểu nên mới trò chuyện. Trông điệu bộ ông cán này tỏ ra là người có hiểu biết trong xã hội chủ nghĩa cộng sản. Hay xưng bác và tôi. "Bác đi du lịch đó hả, bác làm cơ quan nào.?".

Tôi trả lời: "Không, tôi đi thăm người thân ở Úc, máy bay ghé qua Mã Lai rồi về Đức, tôi hiện nay sống ở Đức". Ông ta nói: "À thế bác là Việt kiều". Tôi nhanh miệng nói: "Vâng Việt kiều yêu nước", để coi ông ta nói gì.

Ông ấy nói: "Thì ra không phải là Việt kiều phản động".

Tôi cười và nói: "Việt kiều phản động là sao vậy ông.?".

Ông ta trả lời: "Bác có biết họ là một lũ ngụy đánh thuê cho thằng Mỹ, bị quân dân ta đánh một trận sấm sét cho Mỹ chạy ngụy nhào, rồi bỏ chạy ra nước ngoài, quay lại đánh phá nhà nước ta".

Tôi chỉ nói: "Họ có đánh gì đâu, súng ống đâu mà đánh.?".

“Ấy bác không biết, súng ống làm gì mà đánh lại quân dân anh hùng ta. Chúng đánh phá là hô hào, viết và nói xấu đảng ta trên Internet đó".

Tôi nói: "Họ nói đúng thì đảng phải biết sửa chữa chứ. Tôi có đọc, thấy họ nói cán bộ đảng viên hiện nay ăn hối lộ, họ nói đúng, thì thế nào là phản động.? Họ nói miền Bắc nghèo đói, miền Nam giầu sang, vào miền Nam ăn cướp mà gọi là giải phóng. Tôi nghĩ cái đảng csvn chỉ vì qúa ngu lại thích làm anh hùng, thích chiến thắng, nên đã đánh mất đi một cơ hội lớn để xây dựng nước Việt Nam sau chiến tranh do hiệp định đình chiến ký tại Paris. Là xây dựng và tái thiết Việt Nam sau chiến tranh tàn phá. Đảng có nói cho ông biết không.?".

Ông ta nhìn tôi có vẻ tức tối và nói: "Bác láo thật, nếu bác nói là đảng ta ngu, thì tất cả trí thức và nhân dân miền Nam còn ngu hơn đảng. Tại sao họ nghe theo đảng và cùng với đảng đứng lên để giải phóng miền Nam. Những người trí thức như Bs Dương Quỳnh Hoa, Huỳnh Tấn Mẫn v.v...."

Tôi nói: "Họ không phải là những người trí thức. Ông lầm rồi. Họ là những người khoa bảng".

Ông ta hỏi: "Khoa bảng là gì.?".

Tôi trả lời: "Là những người có bằng cấp cao".

Ông nói: "Thì bằng cấp cao là người trí thức".

Tôi nói: "Không.! Người trí thức phải hội đủ 3 điều kiện ắt có và đủ để trở thành người trí thức là bằng cấp cao và kiến thức sâu rộng cùng với đạo đức tốt. Có đủ 3 điều kiện này mới trở thành người trí thức".

Ông ta hỏi: "Kiến thức là cái gì.?".

Tôi cười và nói: "Là người thấy sâu hiểu rộng, người từng trải trong cuộc sống, đi đó đây để tự học hỏi và tìm hiểu tra cứu, tự tìm hiểu về khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, nghệ thuật v.v..."

"Bác nói lung tung qúa, người có bằng cấp cao là họ biết hết tất cả".

Tôi nói: "Ông lầm rồi. Họ học cái nghành nghề của họ mà thôi, để có bằng cấp đi làm. Nếu họ về hưu thì bằng cấp ấy cũng hết gía trị. Nếu người có bằng cấp cao mà không có kiến thức và đạo đức. Thì ông biết người đó như thế nào không.? Người đó hay tự phụ, tự cao và coi ta đây là người học cao, nếu có quyền chức thì xem những người khác không ra gì. Thích thị uy và đánh đập người khác, ăn hối lộ, ám hại người nếu chống lại.

Còn người có bằng cấp cao, mà lại có kiến thức rộng mà không có đạo đức. Loại này ỷ vào mình học cao hiểu rộng, nên rất khôn khéo biết luồn lách pháp luật để làm những điều gian ác. Nếu có chức phận quyền hành thì xảo quyệt, lưu manh, hại người.

Còn loại người có bằng cấp cao, có đạo đức tốt mà không có kiến thức sâu rộng. Là những người hay bị kẻ khác dụ dỗ như Huỳnh Tân Mẫn, Bs Dương Quỳnh Hoa v.v... vì thiếu kiến thức rộng nên không phân biệt được đâu là tà, đâu là đúng và đâu là sai.

Còn một loại này nữa. Là người không bằng cấp, không đạo đức chỉ có kiến thức nhưng không cao, không sâu và không rộng. Thứ này rất nguy hiểm, họ khôn vặt, lém lỉnh, láu cá, xảo quyệt..."

Ông ta không nghe nữa, bỏ đi chỗ khác, tìm chỗ có ghế trống ngồi. Sau khi nghe người tiếp viên hàng không thông báo: "Đã tới Đức, xin đừng tháo giây an toàn chờ máy bay ngừng hẳn...." mới thấy ông ấy tới lấy hành lý, và thòng theo một câu: "Nếu mà mày ở Việt Nam tao sẽ cho mày nhừ xương và ở tù không có ngày ra. Thằng Việt kiều phản động".


Nguyễn Sơn Germany