Saturday, August 28, 2021

Nhớ Những Lời Phật Dạy - Minh Lương

Hột Xoàn - Trần Thị Diệu Tâm



Trong đời sống đơn sơ tầm thường giản dị ở chốn bếp núc, người đàn bà như chị biết rất nhiều loại ngũ cốc, nôm na là biết nhiều loại hột. Kể sao cho xiết, nhưng thật tình mà nói, chị chỉ thích có mỗi một thứ, loại hột này không có khả năng nẩy mầm cho cây cho trái, nhưng có khả năng làm sảng khoái tâm hồn chị.

Đó là hột xoàn .

Hột xoàn là thứ hột cho ánh sáng lấp lánh, nhìn phát mỏi mắt, nhìn mà mê tơi. Không có ánh sáng nào đẹp bằng ánh sáng của hột xoàn. Đàn bà ai chả thích, đâu phải một mình chị. Trong lúc ngồi ăn cơm, chị đem chuyện yêu mến hột xoàn ra tâm sự cùng chồng.

Chồng chị gắt: Chồng không mê, lại đi mê hột xoàn! Đừng có dại.

Chị cụt hứng. Chị không dại, cũng không điên. Khi biết mình còn ham mê, nghĩa là mình còn ham sống, ham yêu cuộc đời này lắm. Niềm ham mê ấy một mình chị biết một mình mình hay. Chị dành dụm mỗi tháng một lần, số tiền mặt tiết kiệm rút ra từ ngân quỹ gia đình. Như con kiến dự trữ lương thực trong suốt hai năm liền.

Vì nhà không có tủ có khóa, chị đành giấu số tiền đó mỗi nơi một ít, không nên để chung một chỗ. Nhưng với thời gian hai năm sau, trí nhớ chị có đôi chút lãng đãng, nhất là những góc kín đáo. Thấy chị lục lọi tim kiếm, cô con gái sốt ruột hỏi mẹ: " Mẹ tìm gì vậy ? Nói con tìm giúp cho ". Chị không trả lời. Chồng chị cũng thắc mắc: " Em sao cứ thấy dọn dẹp đồ đạc suốt vậy? "

Cho biết làm gì chứ, con không tin, huống chi tin chồng, nhất là chuyện mình cất giấu tiền để tiêu riêng. Chị thấy nó không ổn chút nào, vì thấy không ổn , không đúng, chị càng náo nức thêm. Chờ lúc chồng con kẻ đi làm người đi học, chị lấy cớ xếp dọn tất cả đồ đạc trong nhà, áo quần lâu không mặc cho hội từ thiện. Và chị đã kiếm được những gói tiền cất dấu lâu nay, "thật mừng như tiền ai cho".

May mắn trí nhớ của chị còn sáng lắm. Sau khi kiểm kê tài sản, chị xếp lại xấp tiền ngay ngắn, thứ tự mặt trước mặt sau. Đồng tiền ơ-rô cũng hơi lạ, mỗi loại đều có kích cỡ khác nhau, có lẽ người mù cũng có thể đếm tiền được, và màu sắc tươi tắn, tiền thì phải tươi đẹp chứ.

Chị đếm đi đếm lại, mĩm cười số tiền dành dụm cũng được vài ngàn (chị không nói rõ chính xác bao nhiêu, nên người viết không biết được). Tính vốn cẩn thận, chị cuộn xấp tiền lại với sợi dây thun gọn gàng cho vào một túi vải nhỏ. Cử chỉ này làm chị nhớ đến mẹ chị ngày xưa ở quê nhà thường hay cuộn tiền để dành cho gọn và dễ cất dấu.

Chị thực hiện điều ao ước bấy lâu nay, chị sẽ mua chiếc nhẫn hột xoàn lấp lánh ấy. Chiếc nhẫn nằm trong tủ kính của cửa hiệu có tên Éternelle, chị vốn không mấy giỏi tiếng bản xứ, nhưng lờ mờ hiểu rằng nó có ý nghĩa là mãi mãi. Ai mà không quý trọng những gì thuộc về mãi mãi bất diệt.

Biết bao nhiêu cặp tình nhân, đám cưới đều tặng vợ chiếc nhẫn hột xoàn kim cương lấp lánh, hy vọng chiếc nhẫn sáng ngời ấy giữ gìn hạnh phúc tình yêu của họ đến suôt đời. Nếu người ta bỏ nhau, không phải tại nó mà tại họ muốn bỏ nhau. Chứ nó là thứ thủy chung muôn năm, nó là thứ bất diệt .

Trước đây, mỗi lần lên phố vào trung tâm mua sắm, chị luôn đến trước của hàng Éternelle , ngắm nhìn mấy chiếc nhẫn hột xoàn, ước chi một chiếc sẽ đeo vào ngón tay chị một ngày nào đó. Chị không hề biết hột xoàn loại nào là tốt nhất, đẹp nhất, nước sáng xanh hay sáng tím. Tuy nhiên chiếc nhẫn sẽ kèm theo một hóa đơn giá trị.

Từ ao ước, đến chiếm hữu là một tiến trình tự nhiên của con người. 

Nó phải ở trong bàn tay chị, chị là sở hữu chủ. Nếu mua được, chị sẽ ngắm nó thường xuyên, không cần phải đi qua mấy chuyến mê-trô mới gập nó yêu kiều trong tủ kính.

Chị tự tin đi vào Éternelle với số tiền trong túi, (mấy lần trước chị rất e dè). Cô gái bán hàng có vẻ thờ ơ với chị, có lẽ vì biết người đàn bà này đã nhiều lần đến xem nhưng rồi đi ra, hỏi gì cũng lắc đầu.

Nhưng lần này thì khác nhé. Chị chỉ chiêc nhẫn có giá tiền vừa đúng, nó được tôn vinh để riêng chờ đợi chị. Cô bán hàng vội vàng chạy đến gần, nhẹ nhàng mở tủ kính, chị rất hổi hộp.

-Bà muốn chiếc này ?

Chị cười gật đầu. Cô bán hàng ân cần mời chị đến ghế ngồi có đèn rọi sáng. Cô nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay chị và xỏ chiếc nhẫn vào ngón tay giữa, thật là vừa vặn như chiếc nhẫn được tạo ra cho chính tay chị, không ai khác cả.

- Chiếc nhẫn thật thích hợp với bà !

Cô gái cười rất tươi chứng tỏ cho chị thấy đó là sự thật không chối cãi. Chị mãn nguyện khi trả tiền, cảm thấy mình được đối xử rất lịch sự trang trọng , chị trở thành một vị thượng đế trong giây phút ấy!

Thực hiện được điều mơ ước lâu nay, có ai vui hơn chị. Trong khoảng đường từ Eternelle về nhà, đó là khoảng thời gian hạnh phúc đời chị, chị mân mê chiếc nhẫn không rời mắt. Sau khi về nhà, chị vẫn còn đắm đuối với chiếc nhẫn kỳ diệu đó. Nhưng thời gian đẹp đẽ ấy tồn tại không được bao lâu.

Chiếc nhẫn sáng nhấp nhánh ấy bỗng dưng làm nổi bật bàn tay xương xẩu nhiều gân xanh nổi lên vì làm lụng lâu năm, bàn tay của tháng năm mòn mỏi của một người đàn bà chỉ biết bổn phận.

Chị co bàn tay lại, cảm thấy rung động toàn thân: Chị không có bàn tay đẹp để mang một chiếc nhẫn hột xoàn. Viên kim cương này không làm tăng thêm giá trị cho chị chút nào. Tuy nhiên để đánh tan mặc cảm, chị đeo nó thường xuyên, Mỗi lần ra phố, chị cố giữ một cảm giác tự tin, nhưng hình như chẳng ai trên đường phố biết rằng chị đang đeo trên ngón tay một chiếc nhẫn có giá trị vài ngàn bạc.

Vậy niềm mơ ước ấy , chiếc nhẫn quý giá ấy có thực không ? Chị nghi hoặc về giá trị của chiếc nhẫn và hoài nghi luôn chính mình ! Chị đã nhầm lẫn, nhầm lẫn gì, chị không giải thích được sự thất vọng ấy, chỉ thấy sao mà buồn. Chị có cảm tưởng bao nhiều kỳ vọng về một ước mơ , nay ước mơ được thực hiện bỗng dưng nó tầm thường thế nào ! Hay chính vì bàn tay chị không xứng đáng chăng ?

Buổi tối, chồng con đều ngủ, chị đem chiếc nhẫn ra ngắm nghía, trong bóng đêm, viên hột xoàn không còn chiếu sáng , nó chỉ nhấp nhánh rực rỡ chói lòa khi nhận được ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào, ánh nắng mặt trời hay ánh đèn điện .

Tự thân nó không có gì cả, nó phải nhờ, phải phụ thuộc vào ánh sáng khác để khoe khoang vẻ đẹp . Nó chỉ là một viên sỏi đá. Chị nắm chặt chiếc nhẫn trong tay khi nhận ra giá trị thật của nó, nó không có hào quang. Lúc chiếc nhẫn nằm trong tủ kính, trông nó sang trọng biết bao nhiêu , sao bây giờ lại thấy tầm thường thế !

Không gian nhà bếp là nơi chốn thân thương nhất của chị, hầu như chị sống nơi này nhiều nhất thời gian mỗi ngày, chị cho rằng cất nó nơi đây sẽ dễ dàng nhớ hơn bất cứ nơi khác trong nhà. Chị gói chiếc nhẫn trong túi ny-lông nhỏ, dấu trong một lọ bột làm bánh. Tụi trộm cắp sẽ không thế nào tìm thấy, chúng nó hay rình mò các gia đình Châu Á vì cất giấu tiền mặt và nữ trang trong nhà.

Một thời gian sau, nhân dịp phải đi dự đám cưới con nhà bạn, chị sửa soạn áo quần và chợt nhớ tới món nữ trang quý báu của mình, ít ra chị cũng có một cái gì để mình nhấp nháy với đời. Dạ tiệc đầy ánh sáng, chắc chắn chiếc nhẫn của chị sẽ chiếu rực rỡ hơn ngày thường trong bóng đêm.

Chị cảm thấy phấn khởi. Nhưng chị tìm mãi cũng không thấy lọ đựng bột làm bánh nơi đâu, chị dọn hết các tủ bếp suốt một buổi sáng tìm chiếc nhẫn, nhưng vẫn biệt tăm. Chị nghi ngờ về trí nhớ của mình lo sợ một triệu chứng bệnh hoạn đến quá sớm.

Buổi chiều khi cô con gái đi làm về, chị nói : "Mẹ định làm bánh, nhưng tìm mãi không thấy lọ bột nếp đâu cả ".

Cô con gái trả lời " Hôm trước con thấy lon bột làm bánh của mẹ để lâu ngày quá, con gián bò vào con đem vất thùng rác hết. Mẹ cẩn thận, con mua thuốc diệt gián rồi.

Câu trả lời của con làm chị hoảng hốt bàng hoàng, nhưng chị không dám nói sự thật đau xót đó. Chị sẽ bị chồng con trách móc đủ. Chị nghẹn ngào muốn khóc, thấy mình thật vô duyên và không may mắn.

Nhưng suy đi nghĩ lại, cũng lỗi tại mình.

Chiếc nhẫn hột xoàn không thích hợp với số phần chị, chị tìm hiểu nó là kim, mạng chị là mộc. Theo dịch lý ngũ hành, kim khắc mộc, thôi thì của đi thay người. Lý ra chi không nên mơ tưởng nó, không nên mua nó với số tiền dành dụm của gia đình . Nó là gì ? chiếc nhẫn hột xoàn lóng lánh kia ?

Người ta nói mơ ước có khi đem lại niềm vui sống cho tâm hồn, nhưng giờ đây chị không còn dám mơ ước điều gì nữa. Một thử thách kinh nghiệm đau xót vừa mới trải qua, chi sợ hãi thấy mình đã nhầm lẫn tai hại. Thanh thản với hiện tại là điều quý giá nhất với chị từ đây.

Chị là người chủ thực sự với căn phòng bếp thân thương này, hằng ngày những mùi vị của hành tỏi, tiêu ớt, nước mắm, đó là nhũng gia vị nồng nàn ấm áp tâm hồn chị . Chính đó mới là sự thực cuộc sống của chị. Tai sao chị đi tìm đâu xa những bóng bẫy lấp lánh huyễn hoặc không thuộc đời sống chị ? Chị tự hỏi và cũng không biết câu trả lời.


Paris, tiết Lập Xuân.

Trần Thị Diệu Tâm

Cam Kết Không Ra khỏi Nhà


From: Vĩnh Hà

Friday, August 27, 2021

Đời Đàn Bà Như Một Cuốn Sách



Có ai đó từng nói :

- Sách càng cũ càng giá trị, đàn bà càng sâu sắc chứng tỏ rất trải đời’.

Nhưng nếu đem so sánh với thời bây giờ, liệu còn đúng không?

Khi mà những định kiến, những ánh nhìn về người phụ nữ, toàn dựa vào ngoại hình, nhan sắc, vóc dáng 3 vòng…

Mấy ai chịu khó lật từng trang, tìm hiểu cuộc đời nội tâm của họ.Nhất là cánh đàn ông, luôn xem xét, ngắm nghía các cô gái như một cuốn sách chưa muốn mua, nếu bìa sách không hợp mắt họ, họ cũng chẳng buồn đọc những gì bên trong.

Vậy thì thôi nhé, xin được chia buồn và chia tay với những chàng trai nông cạn ấy, bởi giá trị của phụ nữ không phải cứ dùng mắt thường là thấy được đâu.

Viết đến đây thì tôi chợt nhớ đến câu chuyện của ông anh họ, có cô vợ giỏi giang, khéo tảo tần vun vén, từ xóm trên làng dưới, ai cũng quý mến vô cùng.

Có người còn bảo anh tôi phúc bảy đời lắm mới gặp may mắn. Vậy mà kỳ lạ thay, cả nhà chồng không một ai thích.

Đơn giản thôi, tại chị nghèo và ngoại hình không được nóng bỏng, cả 3 vòng thì vòng nào cũng nhỏ xinh.

Trước khi cưới, anh chồng từng được làm mai cho một nhà giàu có hơn, ăn chơi hơn và bốc lửa hơn. Nhưng đến phút chót, gia đình kia từ chối.Tự ái, anh lấy chị về làm vợ nhưng chẳng thương xót gì.

Anh thường xuyên đi ‘bóc bánh trả tiền’ trong khi chị một mình nuôi con mọn và hầu hạ bố mẹ chồng.Nhưng chị cam chịu, vì chị mang ơn nhà anh, vì chị đồng ý cưới để có tiền chữa bệnh cho mẹ.

Nhưng rồi ngày mẹ chị mất, bên nội không cho về dự tang, họ lấy lý do chị mới sinh, sợ xui cho em bé khiến chị đau đớn, gào khóc không thôi.

Lúc ấy, chị chợt hiểu ra đời mình nhục như một con chó, vậy là bằng mọi cách chị làm đơn ly hôn.

Rồi chồng cũ lấy vợ mới, nhưng đúng là nghiệp báo, cô dâu ‘lần 2’ như một móng tay nhọn được sinh ra để bóc trần lớp vỏ quýt dày.Vì là tiểu thư từ bé nên cô không bao giờ nghe ai sai khiến, mẹ chồng nói 1 cô sẽ cãi 2.Anh chị em chồng cô cũng không ngán, cho người thuê giang hồ tới rượt đuổi quanh làng.

Còn gã chồng, tất nhiên không dám mèo mả gà đồng vì có bà vợ dữ như cọp, chưa kể bên nhà vợ cũng thuộc dân có tiếng trong vùng.

Lúc ấy, mọi người trong nhà mới bắt đầu nhớ thương chị dâu cũ, hiền lành, chăm chỉ, siêng năng, ăn nói nhỏ nhẹ, không chê vào đâu.

Nhưng muộn rồi, sau 5 năm thoát cảnh ngục tù, cũng có người dang rộng vòng tay đón chị vào lòng.

Họ là trai tân nhưng không ngại ngần, ba mẹ chồng mới cũng không cười chê gì, thậm chí còn nuôi con chị như cháu ruột trong nhà.

Đời chị vốn như một cuốn sách cũ, từng bị vùi dập thảm thương vì vẻ ngoài không đẹp đẽ, vì ‘nơi xuất bản’ nghèo nàn .

Vậy mà đến cuối cùng, chị đã được nâng niu, được đặt lên kệ sách mới để bắt đầu cuộc sống mới. Không phải chị gặp may, bởi đơn giản chị là cuốn sách hay người yêu sách, nhất định sẽ tìm thấy chị.

Vậy mới nói, đàn bà như sách, không phải ai cũng giống ai. Đàn bà sâu sắc giống như một cuốn từ vựng, dày mà khó hiểu, để đọc hiểu nó trước tiên bạn phải tự lượng sức mình có phù hợp hay không.

Những loại sách này cũng chỉ những người đàn ông sâu sắc mới sở hữu được.

Phụ nữ chưa lập gia đình lại giống như các cuốn sách lẻ tự xuất bản, bình dị nhẹ nhàng, đâu đâu cũng dễ bắt gặp.

Nhưng số lượng quá nhiều nên mất đi sự đánh giá cao, thành ra dễ bị bỏ lỡ những quyển sách thật sự.

Đàn bà từng qua một lần đò lại như cuốn sách cũ nát. Chỉ vì sở thích nhất thời mà cầm nó đọc, nhưng càng đọc càng thích thú, càng đọc càng lôi cuốn, càng đọc càng cảm động, say mê.

Thế nên đôi lúc ở tiệm sách, sách cũ mà quý còn đắt hơn sách mới tràn làn.

Đàn bà đa tình giống như một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền, tình tiết nhàm chán, nội dung tầm thường, chủ yếu đọc để giết thời gian, không nghiêm túc được.

Và đàn bà xấu xí chưa hẳn là quyển sách dở, bề ngoài xấu xí nhưng nội dung phong phú khiến mọi người dễ dàng chấp nhận.

Những loại sách như thế này, cần cả đời để đọc và chỉ những ai đủ bản lĩnh, mới đủ sức để ‘lĩnh ngộ’ mà thôi.

Sưu tầm

Lòng Tôi - Hàn Thiên Lương

Cái Mặt Việt Nam XHCN- Tạp ghi Huy Phương


Đã có lần bạn là người khách quý đến Honolulu, tại phi trường được một thiếu nữ xinh đẹp tươi tắn, choàng cho một vòng hoa sứ với câu chào Aloha cùng một nụ cười thân thiện. Nhưng không phải du khách nào trên thế giới cũng được sự chào đón như thế!

Tuần trước, báo chí lại loan tin, những người Việt Nam, đồng bào của chúng ta, từ Sài Gòn đến phi trường Changi, Singapore, bị từ chối nhập cảnh, nói rõ ra là bị đuổi về.

Singapore là một trong 48 quốc gia mà người mang visa Việt Nam vào không cần thị thực, nhưng lần này mặc dù có đầy đủ giấy tờ tùy thân, nhiều hành khách Việt Nam, phần lớn là phụ nữ, vẫn bị nhà chức trách Singapore từ chối cho vào xứ của họ. Những người Việt này bị đối xử như tội phạm, bị đưa vào phòng riêng, kiểm soát chặt chẽ giấy tờ, bị phỏng vấn và bắt tự đếm số tiền mang theo trước mặt nhân viên sân bay. Những người khách này buộc phải trở lại Việt Nam trên các chuyến bay đưa họ đến, hay lưu lại những khách sạn gần phi trường mà hãng hàng không Việt Nam phải đài thọ chi phí.

Lối hành xử này của Singapore cũng na ná như lối đối xử của chính quyền Việt Nam đối với những nhà hoạt động chính trị, nghi ngờ có hoạt động chính trị hay bất đồng chính kiến về Việt Nam lâu nay, mà không hề nói lý do.

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể “khúc ruột ngàn dặm” trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng.

Hãng Jetstar Pacific, một trong hai hãng máy bay rẻ tiền có những đường bay ngắn cho biết, khi hành khách bị nhà chức trách từ chối nhập cảnh Singapore, người đó sẽ phải trả tiền ăn ở, tại sân bay. Phía Singapore thường buộc hãng hàng không phải ứng trước  chi phí sau đó sẽ tính lại với hành khách. Chi phí cho mỗi khách bị từ chối nhập cảnh là khoảng hơn $200, chưa kể vé máy bay trở lại Việt Nam. Mỗi tháng, hãng này phải trả khoảng $20,000 cho những hành khách bị từ chối nhập cảnh tại Singapore.

Hãng Vietjet Air có hai chuyến bay Sài Gòn đi Singapore mỗi ngày. Trung bình mỗi tháng có 200 nữ hành khách bị Singapore yêu cầu quay về nước. Như vậy mỗi tháng Vietjet Air phải chi ra phí khoảng $750,000 cho những hành khách này mà không bao giờ đòi lại được tiền.

Phía Việt Nam mong phía Singapore cho họ biết danh sách những người Việt không được nhập cảnh vào Singapore để tiện việc ngăn chận, tránh sự tổn thất như trên, nhưng những người này đâu phải như những người làm chính trị có sổ đen của công an Việt Nam, mà chỉ là những cô gái, một ngày đẹp trời nào đó được rủ rê hay móc nối sang đây để... “đứng đường!” Trên các trang net, và ngay cả một phóng sự trên báo Thanh Niên trong nước, cũng công nhận rằng phần đông những cô gái đến với nghề này là hoàn toàn tự nguyện. 

Chuyện không phải bây giờ mà cách đây vài năm Singapore đã loan tin cảnh sát tổng càn quét vào khu mại dâm Việt ở Geylang và Joo Chiat, bắt giữ hàng chục gái mại dâm người Việt lẫn bảo kê. Liên tục trong vòng một tuần, chỉ riêng tại khu Joo Chiat, 52 cô gái Việt đã bị bắt giữ. Các cô trang điểm diêm dúa, ăn mặc hở hang đón xe buýt hoặc xe taxi đến quán karaoke, vô từng bàn khách, ăn uống, rượu bia, lả lơi, ôm ấp, bán dâm tại bàn rượu hoặc đi ngủ đêm với khách, cố moi tiền bằng đủ mọi cách. Dân Singapore cho biết gái mại dâm Việt đã câu kéo khách bằng cách không mặc đồ lót và cho phép khách thoải mái sờ soạng. Sang Singapore là một nghề kiên trì, lần này bị đuổi lần sau lại lên máy bay sang nữa. Một cô gái cho biết cô đến rồi về nhiều lần, mỗi lần ở Singapore kiếm vài nghìn đô la.

Lối cấm cửa phụ nữ Việt Nam ở Singapore rõ ràng là nỗi đau đớn, nhục nhã. Rồi liệu, Bộ Ngoại Giao Việt Nam như lời yêu cầu có dám gửi công hàm đến Singapore để xin làm rõ trắng đen chuyện này không, hay nói ra chỉ thêm mất mặt! Làm người khác mất mặt cũng là một thứ làm nhục nhau. Ngày xưa làm nhục nhau thì kẻ sĩ thách nhau đấu súng hay rút gươm ra khỏi vỏ. Ngày nay, bị nhục thì đành ráng ngậm miệng mà đi.

Thể diện cũng có nghĩa là danh dự, ai làm mình mất thể diện là làm mất danh dự mình.

Nếu danh dự phụ nữ Việt Nam bị coi thường hay chà đạp là danh dự của cả dân tộc cũng bị coi thường. Ai có trách nhiệm trong việc đàn bà con gái Việt Nam bị cấm cửa và cái mặt Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể nói xa hơn là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị lấm lem đến mức tồi tệ.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà đại diện là phi công, tiếp viên hàng không, người mẫu, du học sinh ăn cắp... không kể hết tên.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Điển rồi Anh, mà đại diện là Kiều Trinh, kẻ ăn cắp, đã rao giảng văn hóa trên truyền hình nhà nước, con cán bộ Trung Ương Đảng, đã được Bộ Y Tế Việt Nam chứng nhận là tâm thần và Tòa Đại Sứ Việt Nam can thiệp.

Cái mặt Việt Nam ở Phi Châu mà đại diện là nhân viên ngoại giao Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nam Phi, buôn lậu sừng tê giác.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Sĩ, ở Thái Lan mà đại diện là du khách ăn cắp.

Cái mặt Việt Nam ở Đài Loan mà đại diện là công nhân “xuất khẩu” ăn trộm chó làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà người Việt trộm dê làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Malaysia: Khám phá một lần mà tống xuất 150 phụ nữ mại dâm về nước.

Cái mặt Việt Nam ở Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức với những nhóm băng đảng, buôn người có các tòa đại sứ Việt Cộng... chống lưng.

Chuyện mất mặt, bẽ mặt, xấu mặt hay mất thể diện thì cũng một nghĩa.

***

Hãnh diện thì ngẩng mặt, xấu hổ thì cúi mặt, vuốt mặt, quay mặt, giấu mặt đi.

Cái mặt chai lì, tê cứng, không biết xấu hổ, vô cảm là cái mặt mo, mặt mẹt, mặt trơ.

Những cái mặt... Việt Nam nên che đi là những cái mặt của Đặng Xuân Hợp, Vũ Mộc Anh, Kiều Trinh, vì họ đại diện cho chính quyền Việt Nam. Cái mặt đáng thương những người phụ nữ vì xấu hổ cũng phải che đi, tủi thân vì số kiếp phụ nữ Việt Nam, nhưng quả đáng thương hơn những đảng viên luôn luôn trơ mặt làm liều.

Quá đẹp là cái tên Việt Nam, hôm nay vang lừng khắp bốn biển năm châu.

Cờ đỏ sao vàng được minh họa cho hai chữ “ăn cắp.”

Tiếng Việt được dùng để viết những thông báo răn đe người Việt chớ... ăn cắp.

Ai đã sáng tác ra cái câu nói dối trá, “Tôi mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình là người Việt Nam?” sẽ phải ân hận suốt đời.

Phần tôi, mỗi khi soi gương, tôi vẫn nhớ, “Tôi là người Việt Nam!” và cảm thấy thương cho tôi và thù ghét những con người đã làm cho hình ảnh Việt Nam xấu xa đi như hôm nay.

Cám ơn ký giả Xuân Dương ở trong nước với câu viết, “Một người, một gia đình, một dòng họ hay một dân tộc, khi sự xấu hổ bị đánh cắp thì không còn gì để mất!”

Huy Phương

Lục Bát Cô Vy - Đỗ Công Luận

Hành Trình Đến "Đế Quốc" Mỹ - Điệp Mỹ Linh

 

Chuyến bay từ Việt Nam vừa vào không phận Hoa Kỳ, qua khung cửa kính, Mận thấy cảnh sắc dưới xa trông không khác chi những bờ biển xinh đẹp, thân thương bên quê nhà – trước khi “nhà nước” cộng sản Việt Nam (c.s.V.N.) bán hoặc cho Trung cộng thuê đất để xây hãng xưởng và cao ốc.

Mận nghĩ rằng hãng xưởng của Trung cộng cao/to/đẹp và tình “hữu nghị” giữa Trung cộng với đảng c.s.V.N. được ví như 4 tốt 16 chữ vàng cho nên “nhà nước” c.s.V.N. không dám lấy cát dọc bờ biển, ngại làm sập những đồ án “hoành tráng” của Trung cộng thì tình “hữu nghị” giữa Trung cộng và c.s.V.N. cũng sập luôn; vì vậy “nhà nước” c.s.V.N. phải lấy cát trong lòng sông và dọc theo bờ sông.

Từ khi sông mất cát, nhiều nhà dân và “lộ đất” dọc theo bờ sông bị đổ sụp xuống sông thì danh từ “cát tặc” xuất hiện trong dân gian. “Cát tặc” sống và làm việc trên những chiếc tàu nhỏ, chạy từng đàn, hút cát trong lòng sông hoặc dọc bờ sông rồi đem cát đổ lên chiếc tàu to “tổ chảng”. Sau khi đầy cát, chiếc tàu to “tổ chảng” chạy chầm chậm trong lòng sông, trước ánh mắt uất hận, dòng lệ oán hờn và sự nguyền rủa âm thầm của người dân!     

Mỗi khi thấy chiếc tàu to “tổ chảng” đó không thể nào bà Ngoại của Mận không “bức xúc” vì nhớ lại bảng tin mà mấy “bà già trầu” ngoài chợ thường truyền miệng nhau: “ Ông Dương Văn Sổ, 83 tuổi, bà Sổ 79 tuổi, nhà cặp bờ sông Tiền, trên cồn Tân Bắc (cồn Dơi), ấp Tân Bắc, xã Tân Phú, huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre {…} Từ hồi bị nạn ‘cát tặc’ tới giờ {…} Ông bà chỉ còn một thẻo mỏng dánh vài mét kẹp giữa bờ bao trong, và lòng sông”.(1)

Ngôi nhà tranh nhỏ xíu của Ngoại cũng “nằm kẹp” giữa “lộ đất” và bờ sông, không biết lúc nào sẽ “đổ ụp” vào lòng sông và không biết Mẹ con/Bà cháu của Ngoại có thoát chết được hay không! Nghĩ đến cảnh hãi hùng có thể xảy đến, Ngoại “chửi đổng”:

     -Mẹ bà nó, cái thứ phản phúc! Ngày xưa – còn mang danh Việt cộng – ăn không đủ no, áo không đủ mặc thì tụi nó “trốn chui trốn nhủi” trong rừng dừa nước/rừng tràm để tránh “đụng độ” với lính Cộng Hòa. Bây giờ, chiếm được miền Nam rồi, tụi nó lộ nguyên hình là bọn c.s.V.N. bóc lột, hết chiếm đất của dân/của nhà thờ/của chùa thì nay tụi nó lấy cát để bờ sông sụp, cho dân chết trôi – còn người Tàu và người c.s.V.N. thì sống phủ phê trong những dinh thự “hoành tráng”!

Chính những dinh thư “hoành tráng” này làm cho đảng và “nhà nước” c.s.V.N. lúc nào cũng cảm thấy “tự hào?”. Niềm tự hào “to đùng” này được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng hãnh diện tuyên bố rằng: “Nhìn tổng quát, đất nước ta có bao giờ được thế này không?” còn người dân thì lúc nào cũng tìm mọi phương tiện để ra đi – nhất là đi sang xứ của “đế quốc Mỹ xâm lược”!

Khi mới lớn, nghe Tý – anh của Mận – “học đòi” theo Việt cộng cùng mấy thằng bạn chăn trâu/chăn bò trong xóm thường dùng “cụm từ” “đế quốc Mỹ xâm lược”, Mận không hiểu; vì ba anh em của Tý chỉ được học để biết đọc, biết viết và biết bốn phép tính cộng/trừ/nhân/chia mà thôi.

     

Một hôm, không hiểu từ đâu, vài chiến đỉnh của Hải Quân Cộng Hòa đến, ủi bãi gần nhà. Mận và nhóm bạn cùng lứa có vẻ lo sợ – vì thường nghe Tý và nhóm “đồng chí nhí” của Tý bảo rằng lính “Ngụy” ăn thịt người – vội núp sau mấy bụi chuối, len lén nhìn ra bờ sông. Khi thấy mấy ông lính “Ngụy” đem dầu ăn, đồ hộp và cơm sấy đến từng nhà, tặng, Mận không hiểu gì cả. Thấy Ngoại vừa cầm mấy lon đồ hộp, mấy bao cơm sấy vừa cười, Mận vội chạy đến, cầm mấy lon thức ăn giùm cho Ngoại.

     Chưa kịp đem quà vào nhà, Mận nghe nhóm bạn reo vui:

-Mỹ cho kẹo. Mỹ cho kẹo.

Nhìn về phía nhóm bạn, Mận thấy một người đàn ông cao lớn, da trắng, tóc vàng, mắt xanh, không nói được tiếng Việt, đang lấy kẹo từ túi áo nhà binh tặng đám trẻ con trong khi mấy ông lính Cộng Hòa đứng cạnh, nhìn, cười. Mận vội vàng đem mấy lon đồ hộp và gạo sấy vào nhà rồi chạy nhanh đến nhóm bạn, chìa bàn tay về phía ông Mỹ.

Ông Mỹ đang tặng kẹo cho nhóm con gái thì không biết ai báo cho Tý và đám con trai ngoài ruộng; đám con trai chạy ào tới. Ông Mỹ lắc lắc hai bàn tay, tỏ dấu hết kẹo. Bất ngờ, một ông lính Cộng Hòa trên giang đỉnh – mà Tý, nhóm “đồng chí nhí” của Tý và trẻ em quanh xóm được Việt cộng tuyên truyền rằng tàu của “Ngụy” làm bằng… giấy – gọi lớn:

-Mike

Ông Mỹ quay nhìn về hướng có tiếng gọi. Ông lính Cộng Hòa nói gì đó rồi ông Mỹ đi lui về chiến đỉnh, vừa cười vừa vẫy tay nhè nhẹ, vừa nói với nhóm trẻ em:

-Bye bye!

Mận tự hỏi: “Sao ổng người Mỹ mà cũng tên ‘Mai’, ngộ ‘wá hén?”

Gần tối, sau khi Má và Lê – chị của Mận và là em của Tý – làm ruộng về, Ngoại nấu nước sôi, cho vào bịch cơm sấy, để một chốc rồi cả nhà khui mấy lon đồ hộp, ăn với cơm sấy. Đang ăn “ngon lành”, tự dưng Ngoại nói:

     -Đồ ăn của Mỹ “Ngụy” ngon như vầy mà sao tụi nó “hỏng” ăn, lại đem cho mình?

     Mận cũng thắc mắc:

     -Đồ ăn thơm, ngon thì đem cho rồi xẻ thịt moi gan người ta mà ăn!

     -Bậy, mày! Ai ăn thịt người?

     -Mỹ “Ngụy” chớ ai!

     -Ai nói vậy?

     -Anh Tý nói 

     -Cái thằng Tý “cà chớn”, cứ nghe mấy thằng “khỉ đột” nói tầm bậy tầm bạ không hà!

     -Mấy thằng “khỉ đột” là mấy thằng nào, Ngoại

    -Thì mấy thằng mà Ba mày biểu Má mày giấu dưới hầm, ngoài vườn, mày thường đem cơm nước cho tụi nó mỗi chiều đó chứ ai!

    -Con “hỏng” thích mấy người đó đâu, Ngoại! Người gì mà hôi rình, thúi “wắc”, ốm nhom ốm nhách, mặt mày thấy…ghê! Răng vẫu, má lồi, mắt lúc nào cũng láu liêng như mấy con chuột chù, ai mà ăn thịt cho được, Trời!

-Mày nói vậy rủi Ba mày nghe được là mày chết đó, mày!

-Bộ Ba con dám giết con sao, Ngoại?

-Từ ngày Ba mày đi theo “cái đám ôn dịch đó”, Ba mày dám làm mọi chuyện tàn ác, khủng khiếp mà “người mình” “hỏng” dám làm đó, mày!

-Sao Ba ác quá vậy?

-Ờ, thì đám Việt cộng làm cho Ba mày lú rồi, chỉ biết nghe theo thứ ác ôn đó tôn thờ ông Hồ Chí Minh để giết càng nhiều người thì công lao càng lớn.

-Sao Ngoại với Má “hỏng” biểu Ba trở về, đừng theo Việt cộng nữa?

- Giỡn, mày! Việt cộng mà, ai theo tụi nó rồi mà bỏ tụi nó là tụi nó “làm thịt” cả nhà chứ tụi nó hỏng giết “mình ên” người đó đâu!

     Má lên tiếng:

   -Má nói với nó mấy chuyện đó chi vậy? Nó còn con nít con nôi…

     Ngoại cắt lời Má:

      -Nó còn con nít thì cũng phải nói cho nó biết để nó tránh xa “cái lũ giết người không gớm tay”. Chồng mày đi biệt tăm. Lâu lâu nó lẻn về thì cái bụng của mày “chần dần”. Đã vậy nó còn bắt mày chứa thêm mấy “thằng ông nội” dưới hầm để ban đêm mấy thằng đó đi khủng bố, đào đường, đặt mìn, ám sát người lương thiện chứ tụi nó có làm ra đồng “xu teng” nào để góp tiền chợ với mày đâu! Thằng Tý với con Lê cũng bắt đầu theo Cha tụi nó, thấy lính Cộng Hòa, hai đứa nó kêu người ta là “Ngụy”.

“Ngụy” là gì, Mận cũng chẳng hiểu được. Nhưng mỗi khi thấy mấy chiếc “tàu bằng giấy” – chiến đỉnh – của “Ngụy” chạy trên sông, Mận cùng nhóm con gái đang chơi “u-mọi” cũng ngừng chơi, đưa tay vẫy vẫy, miệng cười “toe toét”. Đôi khi mấy chiếc “tàu bằng giấy” ủi bãi gần cầu gỗ; nhiều khi họ đi luôn.     

Sau “cái ngày ôn dịch” – tiếng của Ngoại ám chỉ ngày c.s.V.N. cưỡng chiếm miền Nam rồi đám “khỉ đột” sau vườn chui ra khỏi hầm, nhảy “cà tưng” – thì mấy chiếc “tàu bằng giấy” đó đi luôn, không bao giờ trở lại!

Trong khi Mận cảm thấy buồn buồn vì sự thiếu vắng của mấy chiếc “tàu bằng giấy” thì Ba trở về trong sự ghẻ lạnh của Ngoại nhưng lại là niềm vui của Má, Tý, Lê và Mận.

Gia đình sum vầy chưa được bao lâu thì bỗng dưng một bà chít khăn mõ quạ, nói giọng Bắc “lơ lớ” như người Nùng, đến nhà, xỉa xói vào mặt Ba:

   -Tưởng trốn được khỏi tay bà à! Mày lấy được bà là nhờ ơn bác Hồ đã tạo điều kiện cho mày vào đảng c.s.V.N.; rồi sau đó đảng kết hợp mày với “cán bộ gái” ưu tú – là bà đây này! Mày lấy bà có mấy đứa con, đảng và “nhà nước” chứng giám. Bây giờ mày trốn hả? Mày chạy đằng “Giời”!

Biết đây là hậu quả của một “công tử miền Tây giả hiệu”, trong thời gian sống ngoài Bắc, thường khoe ẩu là gia đình có ruộng vườn “cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”, Ba năn nỉ bà “khăn mõ quạ”:

     -Cái gì cũng từ từ tôi mới giải quyết được. Vô đây! Vô đây, nói chuyện đàng hoàng để làng xóm khỏi cười.

     -Cười “hở mười cái răng”! Bà “bức xúc” lắm “dzồi”, chỉ muốn biết mày giải quyết “sự cố” này như thế “lào”?

Giữa khi Má và Ngoại chưa biết phải phản ứng như thế nào, Ba đáp lời bà “khăn mõ quạ”:

     -Từ từ tôi sẽ năn nỉ Má thằng Tý chia cho miếng đất, bán lấy tiền làm ăn, nuôi con.

     Má ôm mặt, khóc. Ngoại vùng đứng lên, ngón tay trỏ chỉ vào Ba, tay kia chống vào mạn sườn:

     -Nè, nè, đất này là đất từ đường, hương hỏa của dòng họ nhà tôi để lại cho tôi. Mấy người ngang ngược vừa phải thôi, nhen! Tưởng chiếm được “Sè-goòn” là chiếm được ruộng vườn của tôi luôn hả? Tôi thề thí cái mạng già này chứ không bao giờ để mất đất đâu, nghe chưa?

     -Con lạy Má! Má giúp con; nếu không, nó về Bắc, lôi cả dòng họ nhà nó vào đây thì… con chết, Má ơi!

     -Cậu đi theo cái đảng c.s.V.N. “mắc dịch”, bỏ vợ bỏ con của cậu bao nhiêu năm nay; bây giờ biểu cái đảng đó nó giúp cậu!

   -Từ từ, khi nào có tiền để “bôi trơn” hồ sơ, con sẽ làm đơn xin cấp trên tuyên dương công trạng của Má. Má là “mẹ liệt sĩ”; vì Má đã che chở, nuôi nấng mấy cán bộ trong hầm suốt nhiều năm. Nhờ Má góp công góp sức cho nên “đất nước ta” mới “thống nhất” được đó, Má!

     -“Thống nhất” để làm gì khi mà thiên hạ liều chết, bỏ xứ sở, bỏ tài sản để vượt biên, vượt biển “rần rần” vậy, hả? Người ta đã mất tất cả để xa lánh bọn c.s.V.N.; vậy mà bọn c.s.V.N. còn “theo” qua tuốt bên Thái Lan, Mã Lai, v.v… đập phá mấy tượng đài ghi lại lịch sử thuyền nhân của người ta là sao, hả

Mọi người im lặng, chỉ nghe tiếng “thút thít” của Má. Bất ngờ Mận thấy Ba ra dấu cho bà “khăn mõ quạ” rồi hai người đi đâu “mất tiêu”!

Tối đó, Ngoại và Má vẫn ủ rũ, mỗi người ngồi một góc. Tý, Lê và Mận cũng buồn quá, nhịn đói, nằm “ngủ đại” trên nền nhà…

…Dòng ký ức đau buồn của tuổi thơ vừa đến đây, Mận chợt nghe giọng nhỏ nhẹ của tiếp viên phi hành người Mỹ:

     -Cô! Cô muốn dùng loại giải khát nào ạ?

Sau buổi chiều Ba và bà “khăn mõ quạ” đi “mất tiêu”, không hiểu tại sao bà “khăn mõ quạ” bị chết, xác trôi sông; Ba bị bắt ở tù! Gia đình đã nghèo, nay càng cơ cực hơn; vì Má phải nuôi Ba trong tù. Ngoại đành cầm thế mảnh đất, lấy tiền “bôi trơn” cho hồ sơ xuất khẩu lao động của Tý. Tý được sang Nhật làm lao công, buôn lậu cần sa. Có tiền, Tý gửi về cho Ngoại chuộc lại miếng đất; và cho Má, khuyên Má cho Lê và Mận qua Rạch Giá sống, ban ngày làm công nhân trong xưởng, ban đêm học Anh văn để sau này dễ tìm sinh kế. Nhờ vậy, Lê quen và thành hôn với ông Việt kiều. Mận – ngoài việc học Anh Văn – lại cảm thấy thích đọc sách báo và nghe “đài nước ngoài” để vun bồi cho số kiến thức quá kém cõi của nàng. Mận đáp bằng tiếng Anh:

        -Làm ơn cho tôi một ly nước cam.

Vừa uống nước cam, vừa nhìn qua khung cửa sổ, Mận tự hỏi, đất đai của nước Mỹ còn thừa biết “cơ man nào mà kể”; vậy mà Mỹ không cho Trung cộng thuê hoặc “bán bớt” cho Trung cộng – giống như đảng và “nhà nước” c.s.V.N. đã và đang thực hiện – lấy tiền “xài cho đả”? Mỹ ngu thiệt!

Bất chợt Mận tự hỏi: Ủa, nếu “Mỹ ngu như dzậy” thì tại sao dân tộc nào – kể cả kẻ “thắng” Mỹ, như người c.s.V.N. thường huênh hoang “tự sướng” – cũng đi học Anh văn và đều muốn qua Mỹ sống; hoặc “chí ít” cũng tìm cách gửi con cháu sang Mỹ học “cái ngu của Mỹ”?

Bằng cớ c.s.V.N. đã cho người sang Mỹ học “cái ngu của Mỹ” là: Theo đài VOA, phát thanh ngày 03 tháng 06 năm 2019, phi công đầu tiên – giấu tên – của Không Quân c.s.V.N. theo học chương trình của Không Lực Hoa Kỳ hơn 02 năm; nhưng vì bị trở ngại về Anh ngữ cho nên không được tốt nghiệp. Người thứ hai là thượng úy Đặng Đức Toại đang tu nghiệp tại Căn Cứ Không Quân Columbus, Mississippi. Người thứ ba là trung úy Doãn Văn Cảnh, hiện đang theo học Chương Trình Lãnh Đạo Hàng Không. 

Hôm nghe phần phát thanh của đài VOA về chàng phi công của c.s.V.N. không được tốt nghiệp sau hơn 02 năm tu nghiệp tại Mỹ, Mận tự hỏi: Tại sao c.s.V.N. lại ngu, không chịu “bôi trơn” hoặc lo thủ tục “đầu tiên” để ban giám khảo của Không Quân Hoa Kỳ “nâng điểm” – như thầy cô bên Việt Nam thường “nâng điểm” cho học trò và sinh viên Việt Nam – để anh phi công đó được tốt nghiệp? Tốt nghiệp từ chương trình của Không Quân Mỹ danh giá lắm chớ “giỡn” sao mà hà tiện! Ngu!

Khi phi cơ ở vào cao độ vừa phải, Mận thấy nhà cửa san sát – dường như “nhà liền đất?” nhiều hơn “nhà liền kề?” – nhưng không sơn phết màu mè rực rỡ, chói lọi như nhà bên Việt Nam. Bên Việt Nam, đi vào các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Dalat, Nha Trang, Saigon, v.v…thì sẽ thấy những dinh thự, những mộ phần màu sắc rực rỡ, trông nham nhở không thua gì gương mặt “bự” son phấn của mấy cô gái làm trong các tiệm “cà phê mùng”, “bia ôm” và mấy “em chân dài”! 

 ******

Thấy xe chạy “vèo vèo” trên xa lộ cả tiếng đồng hồ mà không phải dừng lại để trả tiền, Mận ngạc nhiên, hỏi Lê:

     -Sao không có trạm thu tiền nào hết vậy, chị?

     -Thu tiền gì?

     -Tiền xử dụng “đường cao tốc”.

     -Chỉ một vài xa lộ thu tiền thôi; nhưng dọc hai bên xa lộ đó – cũng như dọc hai bên các xa lộ không thu tiền – đều có đường cho người nào không muốn lái trên xa lộ thì lái trên đường đó.

     -Xa lộ là cái gì?

     -Freeway, “đường cao tốc”.

Vì có người anh rể và đứa cháu ngồi trong xe, Mận không dám nói ra nhưng lại thầm nghĩ: “Đường cao tốc” như mạn lưới, đã không thu tiền như BOT ở Việt Nam mà còn làm thêm hai đường song song cho người nào không muốn lái trên xa lộ được xử dụng, đúng là Mỹ ngu thiệt!

Nghĩ rằng Mận đi đường xa, mệt, ít muốn nói chuyện, Lê gợi chuyện tiếp:

     -Nghỉ ngơi vài ngày rồi tập lái xe, đi học làm “móng” (tay), kiếm tiền, đặng còn lo đường chồng con chớ ở vậy hoài sao, Mận?     

Sau “cái ngày ôn dịch” được mấy năm, Mận “trổ mả” thành một thiếu nữ hiền thục, xinh xắn, làm cho vài anh công an, bộ đội cụ Hồ và một anh cựu Nghĩa Quân – hồi xưa đóng trong đồn gần ngã ba sông Cái Lớn – “phải lòng”. Ai trong xóm cũng nhận thấy Mận có nhiều cảm tình với anh Nghĩa Quân. Rồi Mận và anh Nghĩa Quân yêu nhau. Mỗi chiều “hai đứa” thường hẹn hò, đi chầm chậm dọc bờ sông. Rồi, rất bất ngờ, tin anh Nghĩa Quân bị “công an nhân dân” bắt giam về tội phản động, cấu kết cùng “thế lực thù địch” với ý đồ lật đổ “nhà nước” được công an “tung” ra. Trong khi gia đình anh cựu Nghĩa Quân và Mận chưa biết phải khiếu nại nơi nào để cứu anh thì lại nhận được tin anh Nghĩa Quân đã “tự tử ?” chết trong tù!

Nỗi đau thương còn đọng mãi trong trái tim vụn vỡ và cũng vì thương Má một đời cơ cực và thương Ngoại tuổi già quạnh hiu, Mận không muốn lập gia đình. Mận đáp:

     -Thôi, em ở vậy, ráng đi làm kiếm tiền giúp Má, giúp Ngoại; khi nào Ngoại “về với Ông Bà” rồi tính.

     -Hồi đó tao nói Má làm hồ sơ gửi qua để tao bảo lãnh Má và Ngoại luôn mà Má không chịu làm.     

Mận nhớ, năm đó, sau khi nói chuyện điện thoại với Lê, Má hỏi ý kiến Ngoại. Ngoại bảo Ngoại “hỏng” đi đâu hết. Ngoại “bám trụ” ở đây để khi “về với Ông Bà” Ngoại sẽ được chôn trong mảnh đất của Ông Bà Tổ Tiên. Ngoại không như ông Hồ Chí Minh và người c.s.V.N., đưa cả mấy triệu dân Việt Nam vào chỗ chết chỉ để đánh Mỹ “kíu” nước. Mỹ đi, mang theo những người đã làm việc cho Mỹ, vợ và con lai của Mỹ. Còn Trung cộng, để rồi coi, Trung cộng lấy vợ Việt Nam, sinh con đẻ cái ở đây, cũng giống như Việt cộng hồi xưa – trước khi tập kết ra Bắc – “cấy” lại miền Nam biết bao nhiêu “hạt giống đỏ” để phá hoại miền Nam. Sau này Trung cộng cũng làm “y chang” như vậy. Nếu bây giờ người Việt trong nước cứ “im re”, vì nghe c.s.V.N. chối “bai bải” là “hỏng” có chuyện bán hoặc cho Trung cộng thuê đất. Tới một ngày nào đó người mình “sáng mắt” ra thì sẽ có trận Thiên An Môn ngay trên đất nước Việt Nam cho mà coi!

Mận ngạc nhiên, hỏi:

-Sao Ngoại biết mấy chuyện đó, tài vậy?

Ngoại bảo:

-Tao không biết đọc mà tao biết nghe. Mấy “bà già trầu” buôn bán ngoài chợ “chồm hỗm”, tối hôm trước con cháu lén nghe “đài nước ngoài”, bàn tán sao đó, ngày hôm sau – lúc xế trưa, ế hàng – mấy bả bàn tán, nói cho nhau nghe; vậy là tao nghe, rồi tao “để bụng”.

Ngoại không chịu rời nơi “chôn nhau, cắt rún” thì làm sao Má đành lòng bỏ Ngoại mà đi!

     Thấy Mận như đang chìm vào vùng ký ức nào đó, Lê lại gợi chuyện:

     -Mận! Về nhà nhớ tập nói tiếng Anh với cháu Andy cho quen, nha!

     Nhớ ngày trước Lê cho Ngoại và Má biết Andy bị tật bẩm sinh, Mận xoay sang hỏi nhỏ Lê:

     -Cháu có thay đổi gì được không, chị?

     -Không! Nó sinh ra như vậy thì chịu thôi!

     -Nếu vậy thì làm sao cháu đi học được mà chị biểu em tập nói tiếng Anh với nó?

     Chồng của Lê giải thích:

     -Ở đây, tùy theo mức độ khuyết tật, có các lớp riêng cho học trò tiểu học và trung học; lên đại học thì – tùy tiểu bang – nhà trường sẽ có một chuyên viên vào lớp, vừa nghe giáo sư giảng bài vừa đánh máy vào computer; sau đó in bài giảng rồi trao cho sinh viên khuyết tật.

     -Trời đất! Một đất nước mà lo cho dân đến như vậy thì… “hết biết”!

     Im lặng một chốc, Mận chợt nhớ, vội hỏi Lê:

     -Có phải con chị bị ảnh hưởng chất độc da cam không, chị?

     -Bậy, mày!

     -Bên Việt Nam, đứa bé nào ra đời mà “có vấn đề” đều bị c.s.V.N. đổ thừa là vì ảnh hưởng chất độc da cam của Mỹ.

     -C.s.V.N. muốn “níu áo” Mỹ, đòi bồi thường chiến tranh đó mà. Còn lâu! Khi hai bên “wuýnh” nhau thì tận dụng mọi phương tiện. C.s.V.N. áp dụng chiến thuật biển người – một chiến thuật man rợ, vô nhân đạo nhất của loài người, do c.s.V.N. học của Trung cộng từ thời Điện Biên Phủ – thì Mỹ rải chất độc da cam để quân của cụ Hồ không có nơi ẩn nấp. “Kẻ chín lạng, người mười phân” chứ c.s.V.N. có nhân từ gì đâu!

     Là một người ít nói, nghe Lê và Mận đối đáp, chồng của Lê mỉa mai một cách cay đắng:

     -Theo anh, chất độc da cam đã ảnh hưởng đến những người c.s.V.N. có “sáng kiến” cũng như có “công lao” vẽ bức tranh Đạo Pháp và dân tộc được trưng bày vào ngày Lễ Phật Đản năm 2019 tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam, tọa lạc tại Sóc Sơn, Hà Nội mà thôi! (2)

     Lê ngạc nhiên:

     -Sao kỳ vậy?

    -Đạo lý của người Việt Nam là thờ kính Ông Bà Cha Mẹ. Từ ngày ông Hồ Chí Minh xuống tàu làm bồi cho Tây rồi du nhập vào Việt Nam chủ thuyết cộng sản để giết người Việt thì đảng c.s.V.N. “tôn” ông Hồ là “Bác”. Sau đó, thấy dân không phản đối, c.s.V.N. “thăng chức” cho ông Hồ Chí Minh lên làm “Cha già dân tộc”. Bây giờ đảng và người c.s.V.N. – những kẻ có tư tưởng bệnh hoạn, tâm trí rối loạn, mất nhân tính và khối óc đen thui như bùn – vì bị chất độc da cam hủy hoại não bộ cho nên mới dám đặt hình của tên đồ tể khát máu Hồ Chí Minh ngang hàng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni! Đây là sự xúc phạm Phật giáo không thể tha thứ được!

Nghe anh rể phân tích, Mận buồn quá, thầm nghĩ: Đất nước Việt Nam, trên nguồn thì Trung cộng xây đập, ngăn sông Dương Tử, “thắt họng” vựa lúa miền Nam; cao nguyên thì Trung cộng khai thác “bauxite”; ngoài biển thì Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, xây đảo nhân tạo và cho quân đội giả ngư dân trên những chiếc thuyền đánh cá được trang bị vũ khí để đuổi/bắn/đâm chìm ghe của ngư dân Việt Nam; bờ biển thì Trung cộng xây cao ốc/cơ xưởng, thải chất độc hủy hoại môi trường, làm cá chết “biết cơ man nào mà kể”; đất liền thì công an và quân đội nhân dân “giải phóng mặt bằng”; lòng sông và bờ sông thì “cát tặc” (3) hoành hành! Còn chỗ nào trên Quê Hương cho người Việt Nam sống hay không, Trời!!!

 

ĐIỆP MỸ LINH

https://www.diepmylinh.com/

1.- An Nhiên, RFA

2.- Gió Bấc, RFA.

3.- Những chữ trong ngoặc kép “…” đa số là tiếng của c.s.V.N.; số còn lại là thổ ngữ của người địa phương.   

Thursday, August 26, 2021

Cùng Nhau Cầu Nguyện - Thơ Minh Lương - Youtube Marian Tran

Bằng Chứng Đức Mẹ Là Trinh Nữ - Nguyễn Thị Saigon


Thánh Kinh cho chúng ta biết, Đức Mẹ Maria là Trinh Nữ. Ở bài này, xin chia sẻ về cuộc đối thoại rất lý thú giữa Linh mục giáo sư, và sinh viên phật tử:

- Thưa Cha! Có phải Cha là một nhà Khoa học? Một người có cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học?

-- Con nói đúng! Và con cũng nên biết rằng phải mất một thời gian thật dài để đạt được cấp bằng đó.

- Vậy thưa Cha! Làm sao một nhà Khoa học như Cha lại có thể tin những chuyện như Thánh Kinh chẳng hạn, được viết ra bởi những người mơ mộng hão huyền, đặc biệt là Tân Ước được viết bởi những người đánh cá vô học?

-- Lert à! Như con nói đó! Không những Cha tin Kinh Thánh mà còn tin từng chữ trong Kinh Thánh nữa! Con nói đúng, tác giả của Kinh Thánh là những người không hề biết về Lượng Giác Học, không biết về Hóa Học hay Hóa Học Hữu Cơ, nhưng họ biết và sống chung với Chúa Giêsu. Hơn nữa, họ có ơn Chúa Thánh Thần, nếu không họ cũng chỉ giống như Cha với con thôi, có khi còn tệ hơn Cha với con nữa. 

Tôi nói xuôi:

-  Con vẫn không thể tưởng tượng được làm sao một nhà Khoa học như Cha lại có thể tin những chuyện như thế!

-- Cha biết con đang phân vân và thắc mắc! Cha giải thích thế này: Con không cho rằng Cha dốt hơn con chứ? Và cũng chẳng ai trao cấp bằng Tiến sĩ Khoa học cho một người dốt nát. Con nói Kinh Thánh được viết do những người mơ mộng và thất học thế mà cả trăm triệu người như Cha vậy, có người còn giỏi hơn nữa kìa, họ đều tin và tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bây giờ, như con chẳng hạn: thông minh và học thức, sao con không viết một vài cuốn sách như thế và con thử viết đi xem bao nhiêu người tin vào những điều con viết. Riêng Cha, Cha không tin sách con viết, nếu Cha tin, Cha sẽ là người dốt. Người tin là người dốt, chứ người viết không phải là người dốt.                                                                                                   

Với lý luận này, tôi bị dồn vào chân tường không lối thoát, để chấm dứt câu chuyện, tôi đứng lên kiếu từ: "Thưa Cha! Khuya quá rồi, con phải về phòng Cha ạ! Chúc Cha ngủ ngon! Chào Cha!" và tôi bước ra cửa. 

Vào một lần khác, tôi thắc mắc về “Đưc Trinh Nữ Maria”, và Cha Dan lên tiếng:

-- Đức Trinh Nữ Maria đã làm sao con?

- Đức Trinh Nữ Maria không làm sao con cả, nhưng tại sao Cha lại gọi Maria là Trinh Nữ? Con không hiểu được!

-- À! Đây là bài toán con không tìm được giải đáp! Dễ hơn bài toán Hình học nhiều Lert ạ! Con có thể tìm được giải đáp nhanh hơn một bài toán Hình học với những đường thẳng, tam giác, hình vuông, hình tròn... Nếu muốn, con hãy nghe và cố gắng hiểu hơn là tìm cách lý luận.

- Thưa Cha! Con không muốn lý luận, ngay cả lần trước đề cập đến vấn đề Thánh Kinh, con cũng không lý luận. Con hỏi chỉ vì con muốn biết. 

Với tôi, vấn đề Đức Trinh Nữ Maria đã đi vào quên lãng, không biết tại sao tôi lại hỏi nữa.

-- Chúng ta hãy qu xuống và đọc một kinh nguyện trước khi bắt đầu.

 Cha Dan đứng lên và tôi như một phản ứng đứng dậy theo.

-  Nhưng thưa Cha, con không cầu nguyện đâu!

Cha Dan gắt lên với tôi:

-- Con có điên không? Một kinh nguyện không làm hại con đâu! Hơn nữa, làm sao một người có thể tìm hiểu về Chúa mà lại không có sự trợ lực của Chúa Thánh Thần.

Cha Dan quì xuống, làm dấu Thánh Giá và bắt đầu: "Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến...." 

Tôi cũng qu xuống nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào, tại sao cầu nguyện và cầu nguyện với ai. Tuy nhiên tôi cũng thì thầm:  "Tôi không biết Chúa Thánh Thần là ai và nếu có Chúa Thánh Thần nào ở đâu đó, có thể giúp tôi hiểu được về Đức Trinh Nữ Maria..."

Cha Dan đã cầu nguyện xong và đứng dậy. Tôi đứng dậy theo và cùng ngồi xuống:

-- Lert! Chắc con đã biết người ta được tạo nên bình thường bằng cách nào rồi chứ?

- Thưa Cha vâng, con biết!

-- Cha cũng nghĩ là con đã biết, cha con là Bác sĩ mà! Một tế bào giống đực, liên kết với một tế bào giống cái và đó là nguyên cớ tạo nên một con người. Câu hỏi kế tiếp đó là lấy tế bào giống đực và tế bào giống cái ở đâu để tạo nên con người đầu tiên? Con không trả lời được câu hỏi đó dĩ nhiên. Nếu con trả lời được, con giỏi hơn Cha vì Cha không trả lời được.

-  Nhưng thưa Cha! Cái câu chuyện của ông Adong nào đó đâu có liên hệ gì đến Đức Trinh Nữ Maria?

-- Lert! Có liên hệ chứ! Để giải thích, chúng ta phải biết bắt đầu từ đâu. Con không nghĩ tổ tiên của chúng ta là loài khỉ như Julian Huxley đã nói chứ? Nhưng cứ cho tổ tiên của Julian Huxley là loài khỉ đi, vậy con khỉ đầu tiên từ đâu xuất hiện? Ông ta giải thích con khỉ đầu tiên xuất hiện từ một con sứa một tế bào. Vậy ta có thể nói thủy tổ của con người là một con sứa, như thế con sứa một tế bào đầu tiên ấy từ đâu mà có. Thật là khôi hài nếu Huxley hay bất cứ người nào nói rằng con sứa này do cát biển sinh ra từ đáy biển. 

Tôi không có một phản ứng nào. Cha Dan nói tiếp:

-- Vậy chúng ta dù muốn dù không, cũng phải trở lại với người đầu tiên xuất hiện trên trái đất: Ông Adong. Nếu con không thích tên Adong, chúng ta hãy gọi là "A" đi.

Cha Dan dừng lại, tôi vẫn không có ý kiến gì để nói, Cha lại tiếp tục:

-- Bởi vì "A" phải được sinh ra do một người hay một sinh vật nào đó. Ta cứ gọi người hay sinh vật đó là "C" đi. Con biết đó! Giống như môn học Hình học, hãy vẽ một đường thẳng từ "C" tới "A"... 

Tôi vẫn im lặng. Cha Dan lại tiếp:

-- Tốt! Con nhất định không nói gì tối nay!

Tôi lên tiếng:

-  Thưa Cha! Cha Pat dạy con môn luận lý học và tam đoạn luận. Con biết Cha sẽ lý luận rằng Chúa dựng nên con người. Nhưng điều con muốn biết là tại sao lại gọi Maria là Trinh Nữ cơ mà!

-- Cha biết Cha Pat dạy con môn Anh Văn! Nhưng con biết và ai cũng tin rằng Thiên Chúa dựng nên con người.

- Thật là đáng buồn Cha ạ! Con không tin chuyện đó! Nhưng con không chống lại lý luận của Cha cho rằng "A" phải do "C" mà có.

-- Bây giờ con chịu lên tiếng rồi đó! Tốt! Vậy nếu "C" là động lực đầu tiên và có thể là cuối cùng thì "C" phải tự mình mà có, không ai tạo ra "C" cả! Như thế, "C" là nguyên cớ tạo nên "A". Vậy theo con "C" là gì? 

Tôi không nói được vì lý luận của Cha Dan quá vững chắc. 

-- Con không chống điều này và hình như con cũng không chấp nhận. Bây giờ nếu "C" sinh ra "A", sinh làm sao chúng ta không biết nhưng chắc chắn không do sự kết hợp giữa hai tế bào giống đực và giống cái. Vậy con có thể cho Cha biết "C" có thể tạo ra Chúa Giêsu Kitô cũng bằng cách đó không? Cách như thế nào chúng ta cũng không biết, và như vậy, Đức Maria có thể được gọi là Trinh Nữ không?  

Đức Mẹ Maria là Trinh Nữ, là niềm tin đúng đắn, có nền tảng trong Thánh Kinh, và hợp với lý trí của hằng triệu nhà khoa học tin có Thiên Chúa. 

“Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.”


Nguyễn thị Saigon

*Người Công Giáo thờ Đức Mẹ?


(2) Người Công Giáo có thờ Đức Mẹ không? - YouTube