Saturday, November 8, 2025

"Tư Duy Con Cua" Trong Kỷ Nguyên Vươn Mình Của Tô Lâm - BS. Lê Bá Vận

Tư duy con cua “Crab Mentality” trong Đảng gây ảnh hưởng gì trên Kỷ nguyên Tô Lâm vươn mình?

 

Cố TBT Nguyễn Phú Trọng trong gần 3 nhiệm kỳ đã để lại ‘dấu ấn’ cho sự nghiệp chính trị là Kỷ nguyên ‘Nguyễn Phú Trọng, người xây lò đốt tham nhũng’. Bộ trưởng Công an, Tô Lâm được giao nhiệm vụ điều khiển hoạt động của lò ngay từ đầu, là CEO, giám đốc điều hành.

Nguyễn Phú Trọng qua đời ngày 19 tháng 7, 2024. Tô Lâm, tân chủ tịch nước tạm đảm nhiệm thay thé, rồi chính thức được bầu Tổng bí thư ngày 3 tháng 8, 2024.

Theo gót người tiền nhiệm, nhằm tạo ‘dấu ấn’ cho kỷ nguyên/thời đại cầm quyền của chính mình trong nhiệm vụ lãnh đạo đất nước, Tô Lâm khởi xướng khẩu hiệu chính trị “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ” (KNVMCDT hoặc KNVM).

KNVMCDT thực chất là gì, có gì mới lạ, đặc hiệu? TBT Tô Lâm phát biểu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh đó là kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. (25/11/2024 - Chinhphu.vn). Thì ra thế! là Đảng, cnxh, dân giàu…

Để xây dựng chiến lược cho KNVM, TBT Tô Lâm đề ra bảy định hướng chiến lược:

*1) -Cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; *2) -Tăng cường tính Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; *3) -Tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu quả; *4) -Cán bộ (phát triển đội ngũ có năng lực); *5) -Chống lãng phí; *6) -Chuyển đổi số (ứng dụng kỹ thuật số); *7) -Kinh tế tập trung xây dựng mô hình xhcn giàu mạnh. (Báo Thanh Niên - 04/11/2024 14:22 GMT+7). Nói chung là những chiến lược quen thuộc.

KNVM được phát động đúng lúc để kỷ niệm 80 năm ngày thành lâp nước VNDCCH năm 1945 và 40 năm “đổi mới” năm 1986 chấm dứt thời bao cấp. Năm 1986, Việt Nam đối mặt khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng: lạm phát phi mã, thiếu lương thực, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân rất khó khăn... (Đổi mới toàn diện để cứu nguy đất nước - Báo Nhân Dân điện tử. Aug 22, 2025). https://nhandan.vn/buoc-ngoat-lich-su-de-viet-nam-vuon-minh-post902820.html


Những thuận lợi về triển khai KNVMCDT.

*1) Việt Nam, dân tộc anh hùng, có Bác và Đảng lãnh đạo tài tình, sáng suốt, luôn chiến thắng.

*2) TBT Tô Lâm tích cực chào hàng sản phẩm KNVM. Ông nói chuyện và viết bài quảng bá rầm rộ cho chủ đề KNVM, HỘI NHẬP QUỐC TẾ, nhắc lại Nghị quyết số 22-NQ/TW về “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị.

+ Có những bài viết lấy lại đề tài xưa: - *HỌC TẬP SUÔT ĐỜI.  - *THANH NIÊN là trụ cột  - *Sức mạnh của ĐOÀN KÊT  - *HÀ NỘI sẽ đi đầu…” - *Tp HCM sẽ vươn lên….”

+ Đa số là những bài viết tổng quát kể lại về bác, đảng, xhcn, đổi mới, thành tích kinh tế...

Mỗi bài viết dài từ 3,000 - 3,500 chữ, Tác giả nói các ý lui tới, dẫn chứng cặn kẽ Nghị quyết các Đại hội Đảng VII - XIII, Bộ Chính trị và lời Bác dạy, vận dụng thường xuyên các từ ngữ đặc sản: Đẩy mạnh, nâng cao, tăng cường, phát huy, làm tốt, chủ động nắm bắt, sáng tạo, đột phá, đổi mới, hội nhập, bước ngoặt, rà soát, khắc phục, chống Mỹ, Đảng ta, sáng suốt, tài tinh…

*3) Tình hình chính trị, xã hội trong nước sáng sủa? Tham nhũng cơ bản đã bị lò đốt của cố TBT NP Trọng thiêu rụi. Công an dẹp tắt các chống đối, bóp nghẹt các tranh đấu về nhân quyền.


Những khó khăn, vướng mắc về triển khai KNVMCDT.

*1) KNVM thành công hay không là tùy thuộc ở sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất và tư duy con người. Tất nhiên không thể nhảy vươn lên khi ăn thì đói, 2 chân bì bõm lún sâu trong đám ruộng bùn lầy. Bác Hồ, bác Tôn, bác Giáp, bác Duẩn… hồi đó đánh giặc rất giỏi, thí mạng, song hết giặc thì trị nước dở ẹc, hỏng bét, cứ làm như đang đánh giặc, kỷ luật sắt nhà binh, ngăn sông cấm chợ, dân tình xác xơ, kết quả năm 1986 Đảng phải kêu gọi đổi mới toàn diện để cứu nguy đất nước.

Hiện nay đã 80 năm qua từ ngày lập chế dộ, năm 1945, Cộng sản diễu binh sang trọng. Song làm kinh tế với đầu óc bần cố nông. Nay chưa ai chết đói, chết rét song đời sống khó khăn, thiếu thốn đối với đại bộ phận nhân dân. Buôn bán ế ẩm, thất nghiệp lan tràn (cả sinh viên ra trường), hàng Tàu, hàng nhái tràn lan, môi trường độc hại, bão tố, lũ lụt tàn phá thường xuyên do thiên tai và nhân tai. Sản xuất thì ‘gia công, lắp ráp’. Quốc sách là ‘xuất khẩu lao động, cô dâu. Bên cạnh vẫn có người sang giàu, có tiền đầu tư mua nhà, mua đất, gửi con đi du học, mua quốc tịch…

*2) Tổng Bí thư Tô Lâm nói chắc: chúng ta đi sau thì phải biết đi tắt, đón đầu khoa học công nghệ, nếu không cứ "đi theo người ta thì lúc nào cũng “lũn cũn” đi sau".

https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-yeu-cau-di-sau-thi-phai-di-tat-don-dau-ve-khoa-hoc-cong-nghe-102250215170723725.htm     Báo Điên tử Chính phủ. Thứ hai 27/10/2025.

Tuy nhiên đi tắt theo lối mòn, ngắn đường song đi chậm rì, đến khi ra được khúc quanh nơi đường lớn thì xe hơi người ta (chở các thành tựu khoa học) đã vụt qua, biệt tăm tích, phí công đón đầu! Thực tế muốn đón đầu phải di chuyển nhanh hơn người ta.

Vừa rồi trường ĐH Bách Khoa Hà Nội danh tiếng cả nước, trong nghiên cứu, sản xuất đã thử nghiệm kế sách ‘đi tắt đón đầu’. Robot 2 chân tự đi, nhập từ Trung Quốc về, ĐH Bách khoa Hà Nội dán logo của mình chồng lên, che dấu logo Trung Quốc sản xuất, để đem trưng bày.

https://giaoduc.net.vn/doc-gia-phan-anh-robot-nhap-ve-dh-bach-khoa-ha-noi-dan-logo-chong-len-logo-nha-san-xuat-post254930.gd    (Giáo Dục Việt Nam 12/10/2025 19:35)


Hình ảnh trong clip là đám đông (phần lớn là trẻ em) háo hức vây quanh một con robot 2 chân dán logo của ĐH Bách khoa Hà Nội đang vận động. Clip được quay tại triển lãm Thành tựu đất nước nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 (triển lãm A80). Nhiều người nhận ra đây là robot Trung Quốc, giá bán rao trên mạng 30.000 USD


Tính gian trá hầu như đã xâm nhập vào cốt tủy người Việt, do tham nhũng dẫn đường.

Gian dối thành tích đang là quốc nạn nan y Việt nam. Nhớ lại vụ kít test thời dịch Covid-19. Và bao nhiêu bê bối khác trong ngành Y té, Giáo dục! Trường ĐH danh tiếng với hàng trăm tiến sĩ, phó tiến sĩ, giáo sư mà robot 2 chân phải đi mua, dán nhãn mác Viêt Nam để lừa thiên hạ. Đây phải chăng là thành quả Tô Lâm thu hoạch, KNVM cũng là KN Con Cua/Tự Sướng?

*3) Xuất thân công an gốc, cha truyền con nối, Tô Lâm cai trị không khỏi theo lối công an, điều tra, theo dõi, bắt bớ, gieo rắc kinh hoàng, gây thù chuốc oán. Tham nhũng thì như cỏ dại mùa xuân mọc lại um tùm. Các nhóm lợi ích chống đối ngày càng nhiều, bất bình, ganh tị, cố níu kéo xuống bác trùm công an Tô Lâm đang mưu đồ vươn mình ngoi lên cao.

Đó là giàu thì ghét, nghèo thì khinh, giỏi thì đố kỵ, ngu thì chèn ép, là một triết lý nhân sinh sâu sắc về tâm lý ganh tị và sự cản trở lẫn nhau trong xã hội. Là tư duy/tâm lý/hiệu ứng/qui luật con cua, nổi tiếng (Crab Mentality - Lối tư duy thiển cận. Thà đạp đổ còn hơn để người khác ăn được) https://phunuvietnam.vn/tam-ly-con-cua-khong-an-duoc-thi-dap-do-20221118174145948.htm (PhụnữViệtnam – Cơ Quan Trung Ương Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam. 19/11/2022 - 07:16 (GMT+7).



  

Trong đầu mỗi người đều có một con cua giơ hai càng lớn ra ngoài. Hình cua trong xô níu kéo nhau.


Nguồn gốc của crab mentality. Thuật ngữ này được nhà văn Philippines Ninotchka Rosca phát minh khi bà quan sát hành vi của những con cua được thả vào một cái xô. Ninotchka nhận thấy nếu bà thả một con cua vào xô hoặc chậu, nó sẽ dễ dàng bò lên được. Nhưng nếu thả vài con cua vào đó, không con nào bò lên được vì sẽ bị các con khác kéo xuống. Kết cục tất yếu là cả bầy cua sẽ cùng mắc cạn mà chết, do chúng cản trở lẫn nhau trong việc tìm cách thoát khỏi cái xô.

 

  (Bầy cua thả trong rổ cạn không đậy nắp vẫn không mất con nào). Một con thoát ra ngoài giỏ.

  Đây được gọi là quy luật/hiệu ứng/tư duy/ tâm lý con cua”, Crab Mentality nổi tiếng.

 

Khi bạn muốn làm một điều gì thì khó khăn lớn nhất chính là vượt ra khỏi đám đông còn lại. Tư duy con cua là tâm lý cộng sản. TBT Tô Lâm cũng xem như môt bác cua trong giỏ. Muốn bò ra ngoài tất ông phải bẻ càng hoặc giết nhóm cua níu kéo, là trưởng công an, ông làm dư sức. Song ích gì! Sự níu kéo quan trọng còn là tình trạng yếu kém về kinh tế, suy đồi phong hóa, đạo đức tác động như một vũng sình lầy kéo đôi chân lún sâu thêm lúc ông vùng vẫy cố vươn lên.


Lời Kết. Đoàn kết tạo sức mạnh “Unity makes strength”. Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết chống xâm lăng. Điều náy không có nghĩa chúng ta vẫn giữ đoàn kết lúc hết giặc, ngày nào đất nước còn đặt dưới sự cai trị của Cộng sản. Sau 80 năm cai trị -Cộng sản vẫn xa vời không hòa giải được dân tộc. Xóa tên Sài Gòn chúng gây thêm thù hận muôn đời lẽ ra không đáng có. Sau 1975 chúng ra sức phá hoại kinh tế, đánh sập tư sản, tịch thu, cướp đoạt, đổi tiền, ngân cấm mua bán, kinh tế mới đem con bỏ chợ… hiện nay thì đảng viên trên dưới, làm láo, báo cáo hay, tham nhũng qui mô to hơn lăng Bác, làm kiệt quệ đất nước.


Tô Lâm giải thích KNVM là tiến đến dân giàu, nước mạnh, văn minh, công bằng… luận điệu ‘tự sướng’ cũ rích, đang nghe chưa kịp bùi tai thì đã vỡ mộng vì cái đuôi thắt cổ muôn đời vẫn là: “dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản…” kèm viễn ảnh tham nhũng, lãng phí phá hoại kinh tế, đạo đức…   Còn nữa! 7 định hướng chiến lược của Tô Lâm nói về Đảng, tăng cường, tinh gọn, sáp nhập… song bổ nhiệm 9 phó thủ tướng, hồ ly 9 đuôi, quẩy mạnh dẹp địch, chia ăn. https://vnexpress.net/linh-vuc-cong-tac-cua-9-pho-thu-tuong-4956448.html


Chế độ hiện tại sản sinh mọi thứ tệ hại cho đất nước: tham nhũng, lãng phí, gian dối thành tích, lường gạt, ích kỷ, đố kỵ, chèn ép… điển hình thâm nhiễm nặng ‘tư duy con cua’, Crab mentality.

Khái niệm KNVM là cũ, từ năm 2013, các bước định hướng chiến lược không có gì mới lạ.

Để trở về bản chất thuần lương của tổ tiên phải làm khác, triệt hạ Lăng Ba Đình, nguồn gốc ô nhiễm, xú uế, xóa bỏ HP điều 4, loại bỏ độc quyền phe phái, tái lập tranh đua công bình.

‘Tư duy con cua’ không còn, dân tộc ta đoàn kết, vươn mình sánh vai tiến bước cùng năm châu.

 

Lê Bá Vận

­____

Tô Lâm phát biểu mâu thuẫn: “Chúng ta có hàng thẳng, lối thông thì bây giờ phải bước đều, bước vững chắc vào kỷ nguyên mới"… “ Nhìn ra thế giới nhiều nước anh em bạn bè phát triển nhanh quá, bỏ xa chúng ta, chúng ta phải tập trung chạy thật nhanh, phải vươn mình để đuổi kịp thế giới”.

#574 - Bộ Y Tế Mỹ Nói Gì Về Ăn Mỡ, Chất Béo? Có Nên Kiêng Ăn Trứng? Chất Trong Đồ Ăn Cần Tránh Xa - BS. Phạm Hiếu Liêm

Tưởng Niệm Một Con Người Chính Trực - Lê Nguyễn

 

Sau 54 năm ngày mất của một con người chính trực mang tên Ngô Đình Diệm, người dân miền Nam không bao giờ quên 9 năm ngắn ngủi dưới chính thể Đệ nhất Cộng hòa mà đời sống kinh tế luôn vững vàng, ổn định. Đặc biệt hơn cả, ngày nay, những thế hệ sinh ra từ gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam cần hiểu rõ những gì cha ông mình đã trải qua, đã được chính thể Ngô Đình Diệm đối xử như thế nào.

Theo những con số thống kê chính thức vào năm 1956, dân số miền Nam chỉ có 12, 366 triệu người, như vậy, trước khi tiếp nhận đồng bào di cư từ miền Bắc vào, dân số miền Nam chưa đến 11,5 triệu người. Vậy mà, vào những năm 1954-1955, ông Diệm và bộ tham mưu của ông đã lo chu toàn cho cuộc sống của thêm gần một triệu người vượt cả ngàn cây số để vào Nam. Ông cho thành lập ba Phủ Tổng ủy quan trọng đặc trách những vấn đề liên quan đến đồng bào di cư miền Bắc. Phủ Tổng ủy Di cư lo tiếp nhận đồng bào mới đến, ổn định tạm thời cuộc sống của họ; Phủ Tổng ủy Dinh điền phụ trách thành lập các khu dinh điền, khu trù mật tại những địa phương còn nhiều đất rộng, chưa canh tác hết, để đưa đồng bào đến định cư lâu dài; và Phủ Tổng ủy Hợp tác xã và Nông tín nhằm cung cấp tín dụng hỗ trợ đời sống của đồng bào các khu dinh điền, khu trù mật, giúp họ có vốn liếng canh tác làm ăn trong khuôn khổ các hợp tác xã được lập ra vì mục đích công ích.


Vào thời điểm đó, nhiều khu vực hoạt động tốt, đời sống người dân ổn định và ngày càng phát triển, như khu định cư Hố Nai, Biên Hòa, khu trù mật Hậu Mỹ, quận Cái Bè, khu trù mật Vị Thanh – Hỏa Lựu thuộc tỉnh Chương Thiện, tách ra từ các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Kiên Giang (Rạch Giá)…

Đặc biệt khu dinh điền Cái Sắn nằm trong phạm vi hai tỉnh Kiên Giang và An Giang (Long Xuyên), mỗi gia đình được cấp một khoảnh đất ngang 100 mét, dài một cây số, day mặt ra một con kênh đào, cứ hai nhà đâu lưng nhau giữa 2 con kênh đào cách nhau 2 cây số. Để có một khu vực vuông vắn như thế, chính quyền đã phải di dời nhiều hộ dân địa phương, phần lớn theo đạo Hòa Hảo, đến nơi khác, đất không tốt bằng. Song do chính sách đúng đắn nhằm hỗ trợ đồng bào di cư, không dính dáng gì đến quyền lợi cá nhân hay bè phái, đồng bào địa phương sẵn lòng hi sinh một phần quyền lợi riêng của họ. Năm 1968, khi tôi xuống tham gia chính quyền ở quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang, trong đó có phần lớn khu dinh điền Cái Sắn, từ kênh 1 đến kinh 10, đồng bào di cư Cái Sắn đã có của ăn, của để, lúa thóc đầy bồ, tắc-ráng (loại xuồng máy đuôi tôm nhỏ) chạy ngang dọc các kinh đào như đi trẩy hội.

Những năm tháng khó khăn ban đầu, vừa ổn định chính trị, vừa bình định các tổ chức vũ trang chống đối quyết liệt (Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài…), vừa tiếp nhận và lo cho cuộc sống của hàng triệu đồng bào chân ướt chân ráo vào Nam, nếu không có những bộ óc sáng suốt, vì dân, và một đội ngũ công chức biết xả thân vì đại cuộc, miền Nam không thể nào có một bộ mặt ổn định 9 năm liền.


Trong những ngày qua, trên một vài trang Facebook, một số bạn trẻ bị đầu độc bởi những thứ văn hóa phẩm “bưng bô”, xuyên tạc, lên án cái gọi là ‘tình trạng tham nhũng” của thời ông Diệm. Xin thưa, nếu thời đó có tham nhũng chăng, thì cũng chỉ bằng 1% của thời đại chúng ta đang sống. Không kể những quan to chức lớn nuôi tham vọng xây biệt phủ, mua nhà nước ngoài hay cho con đi du học, tham nhũng ngày nay được nhiều công bộc sử dụng như một loại biện pháp “chữa cháy” trước đồng lương thấp kém, đời sống khó khăn.

Thời ông Diệm, một công chức trung cấp nuôi sống được cả gia đình 4-5 miệng ăn. Khoảng đầu thập niên 1960, học sinh, sinh viên, công chức xa nhà ăn cơm tháng trả khoảng 500 - 600 đồng, trong khi lương tháng một viên chức mới tốt nghiệp đại học gần 7 ngàn đồng, phụ cấp một dân biểu Quốc Hội (tất nhiên là chuyên trách hoàn toàn) 25 ngàn đồng/tháng, một dược sĩ cho thuê bằng mỗi tháng 20 ngàn đồng.

Nhìn vào các con số thống kê chính thức (của Viện Quốc gia Thống kê VNCH) công bố vào thập niên 1960, mới thấy tiếc nhớ đời sống kinh tế - xã hội dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Niên khóa 1955-56, tổng số sinh viên – học sinh chỉ ở mức 665.000 (lấy số tròn), đến niên khóa 1963-64, đã lên tới con số 1.936.000 người, tăng gần gấp 3 lần; tổng chỉ số giá tiêu thụ (trên cơ sở giá tháng 12/1963 là 100) của giới lao động vào năm 1954 là 74,5, vào năm 1962 là 94, và vào năm 1970, sau gần 7 năm chính quyền nằm trong tay các quân nhân, là … 664, tức mức đắt đỏ cao gấp 9 lần chỉ số năm 1954 và 7 lần chỉ số năm 1962! Thịt heo năm 1954 giá 2,4 đồng/kg, 8 năm sau (1962) chỉ tăng thêm 2 cắc, giá 2,6 đ/kg, một viên chức cấp thấp, lương 2.000 đồng/tháng mua được khoảng 770 kg thịt heo, tính theo thời giá trung bình 70.000 đồng/kg thịt heo, khoản tiền trên bằng với gần 54 triệu đồng.

Năm 1962, tôi thi đỗ vào Học viện Quốc gia Hành chánh với học bổng 1.500 đồng/tháng, trả tiền cơm tháng cho người cô 500 đồng, còn 1.000 đồng bỏ túi, đi xe buýt 1đồng/ chuyến, ăn tô hủ tiếu 5 đồng, tiêu hoài không hết.

Nhắc chuyện khu dinh điền, khu trù mật thời chính quyền Ngô Đình Diệm, xin kể hai giai thoại:

- Những năm 1955-1960, tình trạng an ninh tại miền Nam còn khá ổn định, hầu hết sinh viên tốt nghiệp Học viện QGHC đều được bổ nhiệm làm Quận trưởng tại địa phương. Khoảng năm 1958-1959, ông Nguyễn Đình Xướng, cựu sinh viên khóa 1 QGHC, làm Quận trưởng Cai Lậy, chịu trách nhiệm xây dựng khu trù mật Hậu Mỹ. Một ngày nọ, ông Diệm đi kinh lý, chứng kiến sự tổ chức tinh tế, khoa học của khu trù mật, hết sức khen ngợi ông Quận trưởng, khi trở về đã thăng ông Xướng làm Tỉnh trưởng Vĩnh Bình (Trà Vinh), đến khi quân sự hóa lãnh đạo cấp tỉnh (khoảng 1959-1960), ông Xướng còn được tiếp tục làm Tỉnh trưởng với cấp bậc Thiếu tá giả định. Con đường thăng tiến của viên chức này luôn suôn sẻ, sau Tỉnh trưởng Vĩnh Bình là Tổng thư ký Bộ Nội vụ, rồi cuối cùng là Tổng quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống, mãi đến tháng 6.1975, mới chịu dừng lại, với cương vị người bạn tù cải tạo cùng một nhà, một đội với người viết bài này tại trại Long Thành.

- Thời ông Diệm, số công chức như ông Xướng khá nhiều, nhưng không phải không có đôi trường hợp bê trễ, tắc trách. Người ta kể rằng lần nọ, Phủ tổng thống loan báo chuyến kinh lý của Tổng thống đến tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân) thăm một khu trù mật ở đây. Quan chức nghe tin rụng rời vì công việc tổ chức khu trù mật chưa hoàn tất theo tiến độ đã trình. Cuối cùng, họ chọn một hạ sách là chờ đến sáng ngày Tổng thống đến, đi nhổ cây xanh ở những nơi xa, đem trồng hai bên đường. Khi ông Diệm ngồi xe trên đường về tỉnh, thấy hai bên đường cây xanh tốt, bèn dừng xe lại, đến gần những cây trồng, trầm trồ khen ngợi, chẳng ngờ cây trồng cạn quá, chỉ mới đụng qua đã bật gốc. Nhận ra mình vừa bị lừa, cụ giận lắm, nhưng chưa biết thể hiện thái độ bằng cách nào, sẵn chiếc nón nỉ đội trên đầu, cụ nhấc lên và quẳng mạnh. Ông Tỉnh trưởng Bình Tuy là Thiếu tá Lê Văn B. đi cạnh Tổng thống đã kịp nhảy tới, hai tay chụp gọn chiếc nón, nhanh và chuẩn xác như thủ môn Buffon thời hiện đại. Giai thoại này tôi nghe kể lại từ anh Trần Văn K. P., Trưởng ty Y Tế Bình Tuy, có mặt trong phái đoàn đón cụ Diệm lúc bấy giờ.


LÊ NGUYỄN

2.11.2017

Đăng trên trang 8 Sài Gòn

Mỗi Năm Bảo Lũ - Đỗ Công Luận

Friday, November 7, 2025

Gói Mắm Tôm


“Đã là con gái,

“Đến tuổi dậy thì ì..ì..

“Cô nào trông...cũng...đ...đẹp!...ẹp...”

Tôi vừa nghêu ngao ê a, ư ử những câu thơ, vừa cảm phục nghĩ rằng không biết những câu thơ này của ai và tôi đã thuộc lòng từ bao giờ mà hôm nay bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến, ngâm nga một cách thích thú và cảm thấy nó đúng vô cùng.  Càng đúng hơn nữa, khi mà lúc này tôi lại hay nghĩ đến Kim, cô bé Gia Long có đôi mắt tròn đen ngây thơ vô tội vạ mà tôi mới gặp hai tuần trước trong chiến dịch quyên góp cứu trợ nạn lụt miền Trung. Thích chí qúa tôi buột miệng: 

- Chí lý! chí lý! đã là con gái thì đẹp là cái chắc. Lại đến tuổi dậy thì nữa thì cô nào mà chả đẹp! Thật là đúng! Đúng không thể chê vào đâu được.  Hoan hô nhà ông thi sĩ đại tài!

Nhưng, sau khi thốt ra câu cuối cùng tôi bỗng khựng lại một giây và cảm thấy có một cái gì bất ổn. Vâng, đúng vậy. Ở đời luôn có những cái NHƯNG quái ác, những định luật bất quy tắc vì tôi liên tưởng đến Mai và Tuyết, hai đứa em gái của tôi. 

Nghĩ đến hai đứa em tôi, tôi mới thấy rằng cái nhà ông thi sĩ nào đó đã có những câu thơ mà mới vài phút trước đây tôi cho là bất hủ, là chí lý, là đúng thật là đúng thì bây giờ, trong trường hợp này nhà thi sĩ ấy lại sai thật là sai!

Thật ra hai đứa em gái tôi không được đẹp cũng chẳng phải là lỗi của chúng nó mà thật sự là lỗi tại tôi.  Nghe các cụ nói khi người mẹ mang thai nếu nghĩ đến hay thương mến ai thì đứa bé trong bụng sẽ giống người đó. Vậy là khi mang thai các em tôi, mẹ tôi chắc phải thương mến tôi ghê gớm nên bọn nó giống tôi như đúc.

Tôi nghĩ  rằng ông bà cụ nhà tôi không chỉ là những người sành tâm lý mà lại còn biết tiên đoán cả chuyện tương lai và rất giàu kinh nghiệm nên đã “trông mặt đặt tên” cho hai đứa em tôi.   Các cụ biết trước rằng đứa em lớn của tôi sau này nó sẽ rất đồ sộ nguy nga nên đặt tên cho nó là Mai.  Một cái tên thôi, đủ nói lên những kỳ vọng mà cha mẹ đặt để ở con mình.  Đặt tên con gái là Mai, cha mẹ tôi đã hy vọng là khi lớn lên, con mình có cốt cách của một cành mai “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” hay “mình hạc xương mai”.  

Nhờ kinh nghiệm của những năm làm cha mẹ nên điều tiên đoán ấy thật quả không sai một tý nào.  Mai càng lớn càng... sổ sữa.   Đến khi  được mười sáu tuổi thì nó đã sổ sữa đến mức tận cùng.  Thế là điều mong ước mà ông bà cụ nhà tôi ước mong nơi Mai thì đã bất thành.  Chắc là lúc tâm niệm, cha mẹ tôi đã không coi ngày nên chạm phải ngày vía, mất linh.  Vì thế, càng lớn, Mai càng không có chút gì là mình hạc xuơng mai mà ngược lại, nó ... vĩ đại đến nỗi có những ngộ nhận rất thường.  Một hôm, Hảo, người bạn cùng lớp lần đầu đến nhà tìm tôi.  Mai ra mở cửa, Hảo vội vàng cung kính: 

- Chào chị ạ, thưa chị cho em gặp Tường. 

Thấy Hảo gọi mình bằng chị một cách kính cẩn và còn tỏ ra khép nép thì Mai lại nghĩ là Hảo chọc quê mình nên nó bực lắm.  Mai mở cửa cho Hảo, nguýt dài một cái và xụ cái mặt ra. Vốn đã mát da mát thịt, mặt Mai lúc bình thường đã không nhỏ nay lại xụ ra nên càng “vĩ đại” hơn. Không thèm nhìn Hảo, Mai nói cụt ngủn: 

- Đi vắng rồi! 

- Thưa chị, chị có biết bao giờ Tường về không ạ? 

- Không biết! 

Thấy thái độ của Mai như thế, Hảo lại vụng về luống cuống hơn:

- Vậy... thưa chị.... cho em...

Hảo chưa đứt lời thì bỗng nghe Mai hét tướng lên:

- Có gì thì nói đi! Thưa thưa với gởi gởi hoài, phát mệt! 

Bị bất ngờ đối xử một cách lạnh lùng tàn nhẫn trong khi cố gắng lễ phép hết mình,  Hảo hoang mang và bất nhẫn đứng im chưa biết phải phản ứng ra sao.  Thấy vậy, Mai bỏ vào trong nhà để Hảo đứng bơ vơ ngơ ngác một mình với những thắc mắc là không hiểu mình đã làm gì lầm lỗi để cho bà chị của Tường giận mình như vậỵ 

Nghe tiếng Mai hét, bà cụ tôi không hiểu chuyện gì vội từ nhà bếp chạy lên. Thấy nét mặt Mai hầm hầm bực bội đi vào và thấy Hảo đứng trơ vơ ngoài phòng khách, đoán hiểu phần nào, cụ ôn  tồn chữa ngượng cho cả hai: 

- Chào cậu. Mời cậu ngồi chơi. Em Tường nó đi với ông nhà tôi chắc đến tối mới về, cậu có cần gì, tôi nhắn lại. 

Hảo chưa kịp lấy lại hồn vía sau cuộc gặp gỡ với Mai nên nói không có gì nhắn.  Hắn vội chào mẹ tôi rồi lỉnh mất. 

Hôm sau vào lớp, vừa thấy tôi Hảo đã trả thù: 

- Trời đất qủy thần ơi, thằng Tường có bà chị kinh khủng qúa chúng mày à!  Bà ấy vĩ đại lắm, lại xấu không chịu được.   Đã thế, bà ấy còn có nghề bán mắm tôm.  Hôm qua, tao đến tìm thằng Tường, bị bà ấy cho ăn mấy gói mắm tôm.  Khiếp qúa! Kinh khủng quá!

Quang thật thà: 

- Thằng Tuờng làm gì có chị? Chắc mày vào lầm nhà thì có!

Lâm chen vào đùa cợt:

- Ông cụ non như mày vào lầm nhà được ăn mắm tôm là phúc lắm đấy con ạ. Ai chứ mày vào lầm nhà tao, tao cho ăn đấm!

Lâm quay lại tôi:

- À, mà bà nào ở nhà mày mà ghê qúa vậy Tường? Sao không báo động cho chúng tao đề phòng với hả?

Tôi ngượng ngùng chậm rãi phân trần:

- Làm gì có bà nào? Con em tao chứ ai. Nó tức mình vì bị thằng Hảo cung kính gọi nó là chị xưng em lại  còn  khúm  núm thưa  thưa  gởi gởi,  nó nghĩ  là thằng Hảo thấy nó to con rồi chọc quê nó nên nó nổi sùng!

Cả bọn cuời ầm lên. Thế là từ đấy tôi có điều gì không ăn ý với lũ bạn là bọn nó lại lôi chuyện “gói mắm tôm” ra để làm áp lực với tôi.  Vốn bản tính dĩ hòa vi qúi lại nể bạn, thương em, tôi không muốn tụi bạn mình thêm mắm dậm muối nói những điều oan ức cho Mai nên tôi luôn nhượng bộ.  Nhưng tụi nó cũng đâu có để Hảo yên thân, hễ Hảo làm gì không vừa ý thì bọn nó la lên:

- Tường ơi, mày về xin "bà chị" mày "gói mắm tôm" cho thằng Hảo giùm tụi tao được không?  Nó có vẻ nghiền món mắm tôm của chị mày nặng rồi Tường à. Không tin, đến đây mà xem nó đang lên cơn nghiền nè! 

Lúc đầu chúng tôi còn bò lăn ra cười với nhau mỗi khi có dịp chọc ghẹo nhau như thế.  Nhưng sau bị tụi bạn ghẹo  trước mặt cả mấy cô nữ sinh trường bạn đến thăm, làm mấy cô này chả hiểu ất giáp gì cả,  cứ nhìn Hảo và tôi dò hỏi làm Hảo mắc cở, nổi sùng.  Nhất qủi, nhì ma thứ ba học trò, lời các cụ nói thật chẳng sai chỗ nào, càng thấy Hảo nổi sùng thì tụi bạn càng thấy trò chơi của mình thành công và càng làm tới. Trong đó, chỉ vì là anh của Mai,  tôi cũng là nạn nhân của bọn "thứ ba" này.   Sau thấy tức giận không giải quyết được thì Hảo đành phải xuống nước:

- Tao van tụi bay, tụi bay muốn làm gì cũng được nhưng đừng đề cập đến vụ “gói mắm tôm” trước mặt bọn con gái, làm tao muốn độn thổ luôn. 

Đứa em gái út của tôi là Tuyết.  Mẹ tôi sanh nó vào đúng đêm Ba Mười Tết.  Thời đó ở ngoại ô chưa có đèn điện nên đêm Ba Mươi đã tối lại tối hơn.  Cả nhà chỉ có một cái đèn dầu le lói nên khi bà Mụ nắm đầu nó lôi ra thì chỉ nghe tiếng khóc oe oe chứ chẳng nhìn thấy nó đâu.  Mẹ tôi nói ước gì nó trắng như cuộn bông gòn Bạch Tuyết để nhìn cho rõ mặt.  Chắc  vì nghĩ thế, mẹ tôi bèn bàn với bố tôi đặt tên nó là Tuyết.  Ông cụ thấy có lý nên bằng lòng ngaỵ  Hôm sau, sáng sớm Mồng một Tết,  bố tôi khăn áo chỉnh tề đến chúc tuổi ông Xã trưởng và làm giấy khai sinh ngay cho nó.

Khác với Mai, Tuyết thì gầy ốm tong teo và đen bóng. Vì gầy qúa, hai mắt của nó trở nên to thao láo và lộ ra như mắt con cá vàng.  Hàm răng của nó vêu vẩu trắng toát khoe ra lúc  nào trông cũng như cười, nổi bật hẳn trên màu da đen thui của nó.  Gía lúc sanh ra mà nó có hàm răng như  thế này thì chắc mẹ tôi đã  nhìn thấy và sẽ đặt tên nó khác đi.  Nhưng Tuyết  lại hiền hơn con chị.  Nếu có ai gọi nó là “cây sậy” hay “chiếc đũa mun” thì nó cũng chỉ “cười” với “nụ cười hàm tiếu sẵn nở trên môi” chứ không hề  giận dỗi ngúng nguẩy như Mai.

Bạn bè Tuyết  còn bảo là Tuyết có tài đóng kịch, nhất là môn cải lương.  Chỉ nghe nói thế thôi, còn thật sự tôi chưa bao giờ được nghe nó ca hát gì cả.  Chỉ có một lần Phúc đến nhà tôi để đi chung xe đạp đến lớp vì xe của Phúc bị hư,  Tuyết ra mở cửa.  Với bản tính vui vẻ cố hữu và “nụ cười trời cho”, Tuyết nói một câu rất...cải lương: 

- Chào anh Phúc, nghe anh Tường em nhắc anh hoài, khen anh học giỏi vậy mà hôm nay em mới được gặp anh. Thật là hữu xạ tự nhiên hương!  Mời anh vào, anh Tường em đang chờ anh ở trong nhà ấy! 

Tôi đang bỏ mấy cuốn sách vào cái túi da bỗng phì cười. Tôi có nhắc tên của Phúc ở nhà hồi nào đâu.   Hơn nữa, xạ ở đâu ra mà tự nhiên hương như vậy?  Cái con bé này mồm miệng qúa! Giữa trưa tháng Năm oi ả, Phúc như được uống một ly nước dừa xiêm mát lịm, chàng theo chân Tuyết vào nhà ngồi chờ tôi ở chiếc ghế sa lông và lòng thì cứ ngẩn ngơ mãi với “nụ cười muôn thuở” của “chiếc đũa mun”.  Đến khi tôi bước ra, tằng hắng, Phúc mới tỉnh khỏi cơn mê hồn trận. Tôi cười với Phúc:

- Mình đi thôi, Phúc! 

Đến giờ nghỉ chuyển môn, Phúc quảng cáo:

- Thằng Tường có cô em gái dễ thương hết sảy tụi bay ơi! Đứa nào muốn nộp đơn làm em rể nó thì phải đứng xếp hàng sau lưng tao đấy nhé!

Hảo vội vàng phản đối:

- Mày điên nặng rồi hả ? Có điên thì điên một mình mày thôi Phúc ơi!

Rồi Hảo gào lớn hơn cho mấy đứa còn chưa chú ý lắm vào câu chuyện:

- Ê! tụi bay đừng đứa nào nghe thằng Phúc xúi dại nghe. Tao hả, thằng Tường mà tình nguyện gả em gái nó cho tao, tao còn kêu lính bắt và đòi bồi thường thiệt hại nữa kià chứ ở đó mà xếp hàng!

Cảm thấy Tuyết bị tổn thương, Phúc cự nự:

- Ê, ăn nói vừa thôi, thời buổi này phát ngôn bừa bãi ở tù đó con ạ! Người ta như thế mà mày chê!  Để tao xem bồ mày đẹp đến cỡ nào cho biết! 

- Chả đẹp đến cỡ nào cả, nhưng nếu tao có bồ, tao sẽ không bao giờ chọn một bà mập ú, mặt như cái bánh bao chiều lại còn chanh chua kinh khiếp như em thằng Tường cả! 

Quang cười cười: 

- Đừng mạnh miệng qúa Hảo, coi chừng ghét của nào trời trao của nấy đó! 

Hảo nhún vai trả lời Quang trong lúc Phúc nhìn Hảo ngơ ngác hỏi: 

- Mày nói cái gì lạ vậy Hảo?  Em thằng Tường đâu có ghê gớm như vậy đâu?  Cô bé xinh xắn, nước da bánh mật và ngọt như cục đường phèn, dễ thương như chiều chủ nhật!  Có mày lúc nào cũng đòi hỏi tuyệt hảo.  Hèn chi tên mày là Hảo cũng có lý do. 

Hảo phá lên cười cay cú: 

- Ối giời đất ơi, ối làng xóm ơi, ối tụi bay ơi, em thằng Tường to bằng cái thùng phuy đựng nước.  Mỗi bước chân em đi thì rung chuyển cả ngôi trường Nguyễn Trãi này.  Em mà lườm cho một cái thì dù đang mùa Xuân hoa cũng héo, phán ra câu nào thì câu ấy sặc mùi mắm tôm thế mà thằng con nhà Phúc khen được là xinh xắn ngọt ngào dễ thương thì có chết không cơ chứ!.... Liệu, mày cầm sách vở giùm tao để tao rảnh tay đưa thằng Phúc vào nhà thương Biên Hòa tĩnh dưỡng!


Phúc cảm thấy Tuyết bị xúc phạm một cách nặng nề và chính chàng cũng bị xúc phạm. Chỗ bạn bè với nhau, chàng bị xúc phạm còn có thể châm chế  nhưng Tuyết bị xúc phạm thì không thể nào tha thứ được! Nghĩ thế, mặt cậu đỏ gay, vừa toan phản pháo thì giáo sư đã vào lớp và kêu gọi vãn hồi trật tự.


Sau mùa thi tú tài toàn phần năm đó, lũ chúng tôi đứa thì lên đại học tiếp tục dùi mài kinh sử, đứa thì lên đường nhập ngũ để làm người hùng của em gái hậu phương. Có đứa may mắn hơn được cha mẹ gởi đi ngoại quốc du học. Riêng tôi thì sau hai năm học Khoa học, chán qúa thi vào Hải Quân để dệt mộng hải hồ.  Chúng tôi, sáu đứa ngồi hai bàn liền nhau trong suốt hai năm dài, từ đó, chỉ còn gặp gỡ nhau qua những bì thư nhỏ.

 

Lần lượt một vài đứa chúng tôi có vợ, có con. Vì hoàn cảnh phải thay đổi chỗ ở luôn luôn, vì bận rộn của công việc, chúng tôi dần dần mất liên lạc với nhau.  Chỉ có Quang và tôi là thỉnh thoảng còn gặp gỡ.  Quang phục vụ ở chi khu Hội An còn tôi sau bốn năm theo Tuần Giang Đỉnh tôi đổi về đất liền, ngay căn cứ Hải Quân Đà Nẵng. 

Một buổi chiều vừa ở văn phòng về, Trung, đứa con trai thứ hai vừa lên ba tuổi của tôi cầm một phong thư  đưa cho bố.  Cu cậu bập bẹ từng tiếng:

- Bố, thư. Ông nội.  Bà nội.  Mẹ đọc. Bố đọc.

Tôi cởi áo ngoài vắt trên thành ghế rồi ẵm bổng Trung lên hôn vào cổ nó làm Trung nhột cười khanh khách. Sau đó tôi đặt cu cậu ngồi trong lòng tôi và mở thư ra đọc.

 

Gia Định ngàỵ... tháng... năm....

Hai con thương yêu của bố mẹ,

Cu Lớn, cu Nhỏ và bé My yêu qúy của ông bà nội, 

Bố mẹ viết thư thăm vợ chồng con và lũ nhỏ.  Gia đình con khỏe mạnh bố mừng.  Bố mẹ mới nhận được thư của vợ chồng con Tuyết hôm kia, sau thư của vợ chồng con hai ngày.  Tụi nó báo tin mừng là đứa con thứ hai của chúng nó sẽ chào đời vào khoảng tháng Hai năm tới. Chồng nó, thằng Lộc mới đổi về tiểu khu Kiến Hòa.

Đặc biệt thư này bố mẹ báo cho các con một tin mừng là bố mẹ đã định ngày cho nhà trai làm đám hỏi con Mai.  Chú rể tương lai của nhà mình có cái tên đẹp lắm: Hảo, Nguyễn Ngọc Hảo. Hảo tốt nghiệp kỹ sư điện ở Nhật về được mấy năm nay và hiện làm Phó Giám Đốc nhà máy điện Thủ Đức.  Kể ra thì cũng là duyên nợ với nhau hay sao ấy chứ con Mai nhà mình từ chối hết đám này đến đám khác, mẹ mày cứ giục giã vì không muốn nó muộn màng.  Cho đến hôm nó đi dự  đám cưới bạn nó, cô giáo Huệ.  Huệ là em họ của Hảo và thế là hai đứa nó gặp nhau.  Chúng nó thư từ qua lại đã bảy tám tháng rồi và nhà trai mới đến xin  hỏi cưới hôm qua.  Nghe nói xưa Hảo cũng học ở Nguyễn Trãi như con, không biết con có biết Hảo không? Vậy nhớ đến ngàỵ... tháng.... các con liệu mà thu  xếp đem bày nhỏ về ăn đám hỏi cô Mai nó.


Bố mẹ chúc các con khỏe mạnh, may mắn, lũ nhỏ hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn.

Bố mẹ 

T.B. Ông bà nội nhớ Cu Lớn, Cu nhỏ và bé My lắm. Tụi con nhớ về thăm nội nghen!


Chẳng phải moi móc lâu la trong trí nhớ tôi có thể đoán chắc 99% Hảo, thằng em rể tương lai của tôi chính là Nguyễn Ngọc Hảo, thằng bạn cũ của tôi trong những năm Đệ nhị,  Đệ nhất ở Nguyễn Trãi.  Là đứa bị con Mai đối xử rất ư là tàn nhẫn vô nhân đạo ngày nào và sự tích “mắm tôm” được khai sanh từ đó.  Là đứa mà từng to họng cay cú chê con Mai là thùng phuy, là xấu ghê xấu gớm,  xấu đau đớn không chịu được.  Là đứa đòi kêu lính bắt tôi và đòi bồi thường thiệt hại nếu chẳng may tôi lỡ dại tình nguyện gả em gái tôi cho nó.


Trong sáu đứa chúng tôi chỉ có mình Hảo là được đi du học ở Nhật vì nó học rất giỏi lại con nhà giàu.  Tôi chợt thấy vui buồn lẫn lộn khi nhớ đến đám bạn ngày xưa.  Buồn nhất là khi nghĩ đến Lâm.  Cũng như tôi, sau hai năm học  đại học, Lâm đi lính tàu bay.  Phi cơ thám thính của nó bị bắn rơi ngay trong phi vụ đầu tiên ở biên giới Việt – Lào.  Lâm được ghi là mất tích và đến nay vẫn không ai có tin tức gì về nó.  Liệu  thì hiện làm luật sư ở tòa án Saigon.  Nghe nói Liệu cưới vợ đã mấy năm nay và đã có một con.  Phúc sau khi lấy được bằng Dược sĩ  có đi dạm hỏi Tuyết nhưng không hiểu sao chuyện lại chẳng thành.  Nghe nói giờ này Phúc vẫn còn độc thân vui tính. Quang thì cưới vợ đã hơn ba năm nhưng chưa có con và từ ngày đổi về chi khu Hội An thì cuộc sống của Quang có vẻ an nhàn hơn tất cả.  Nghĩ đến Quang, nhớ đến lời nó nói với Hảo ngày nào: ”Đừng mạnh miệng qúa Hảo. Coi chừng ghét của nào trời trao của nấy đó!” tôi bỗng phá lên cười.  Quang hiền lành ít nói thật nhưng nói câu nào linh câu ấy.

 

Cũng may cho Hảo, sau lần thấy Mai đối xử không phải với Hảo, các cụ tôi bắt Mai ngồi nghe giảng suốt mấy tiếng đồng hồ.  Từ đó, nó đổi tính, chịu khó bơi lội, tập thể thao và đến ngày Mai thành cô giáo thì mọi người mới chợt nhận ra rằng điều ước của ông bà cụ nhà tôi đặt vào nó từ lúc mới sanh đã được bà tiên nào đó dùng đũa thần làm ước mơ biến thành sự thật.  Từ lúc nào không ai nhớ được, chỉ biết rằng Mai bây giờ đúng là một thiếu nữ dù đã qua "tuổi dậy thì" rồi thế mà "trông cũng đẹp", đúng như câu thơ bất hủ ngày xưa.  Không biết rằng sau những tháng thư từ tìm hiểu nhau như thế, Hảo có khám phá được một điều rất quan trọng rằng Mai, hôn thê của cậu ta  chính là cái thùng phuy, là "bà chị", là "gói mắm tôm" năm cũ hay không.

 

Không biết tác giả

Thơ Với Địa Danh Để Đọc Chơi

 

Lên này VẤP té hoài

Xuống nọ bỗng gặp loài chim CÔNG

Qua đó có DƯA trồng

Về uống rượu ngoài đồng thành ĐEN

Ghé GÒ DẦU HẠ ít tiền

Mở bao, vét túi mua liền một can

Cầm BÌNH ĐỊNH rót thêm tràn

Sợ nhầm BÌNH GIẢ sẽ loang mất dầu

BÌNH này TUY đã dùng lâu

Nhưng BÌNH chẳng LỢI mà sao còn cần

BÌNH tốt gấp TRIỆU lần

Mua BÌNH làm PHƯỚC cho dân buôn nghèo

Lựa HÀNG xin chớ kiết KEO

HÀNG XANH, hàng đỏ giá đều bằng nhau

rà gì hãy mua MAU

Nếu là dân xộp, giá CAO LÃNH liền!

Đổ dầu xong bước xuống thuyền

Mới hơi đã gặp TIÊN nâu nằm

Dân ghiền hiệp sức ĐỒNG TÂM

Qua RẠCH thăm MIỄU lâm râm khấn cầu

Chậm nhanh cũng bởi CÁI TÀU

Mắc CỒN, PHỤNG phịu đòi mau nổi gì

BA thằng nghiện ngập bất TRI

Đòi TRÀ, thèm thuốc, biết gì nhục VINH

Thuyền trôi cho tới BÌNH MINH

Nhìn sông nước đẹp, thấy mình CẦN THƠ

Xem đồng hồ tại CẦN GIỜ

Biết khi nào gặp SÓC chờ TRĂNG lên

CÁI BÈ thì chẳng có bền

Qua RẠCH đụng SỎI chênh vênh lật nhào

Còn RẠCH trồng GIÁ lên cao

CÁI BÈ thấp bé làm sao thấy đường

Thuyền thì ĐỊNH hướng tỏ TƯỜNG

BẾN xinh TRE mọc, BẾN thường đầy TRANH

Qua VÀM CỎ mọc nên thành

CÁI TÀU theo gió lướt nhanh trong chiều

Đường sông chẳng THUỘC bao NHIÊU

Nhưng nhờ THUẬN gió, xuôi chèo bình AN

Qua CẦU đò dọc, đò NGANG

Lái buôn nhường nhịn CHỨA CHAN tình người

Chào nhau hở CÁI RĂNG cười

THÁP tùng đánh cá chín MƯỜI thuyền vô

Chừng nào NÚI SẬP sông khô

Thì ta mới hết nhấp nhô thuyền tình.

 

ĐHA

Trận Núi Lé – Cuộc Chiến Cuối Cùng Của Lực Lượng Úc Tại Việt Nam - Đoàn Xuân Thu

(Hình tư liệu, tác giả cung cấp) 


Ngày 21 Tháng Chín năm 1971, tại tỉnh Phước Tuy (nay thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu), một trận đánh lớn diễn ra giữa lực lượng Úc và New Zealand (ANZAC) với quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tại Núi Lé, đánh dấu trận chiến cuối cùng của quân đội Úc trên chiến trường Nam Việt Nam.

Núi Lé là một đỉnh đồi nhỏ, nằm ở xã Quang Thành, huyện Châu Đức, cách thị trấn Bà Rịa khoảng 20 km về phía bắc. Với địa hình đồi núi thấp, rừng rậm và các thung lũng bao quanh, khu vực này được quân CSBV sử dụng để bố trí hầm hào kiên cố, phục vụ các hoạt động phòng thủ và phục kích, trở thành vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất của tỉnh Phước Tuy.

Vào thời điểm đó, việc rút quân Úc khỏi Việt Nam đã được công bố, dự kiến hoàn tất vào Tháng Mười Hai, 1971. Nhận thấy cơ hội, lực lượng Việt Cộng và CSBV tăng cường hiện diện về phía bắc tỉnh Phước Tuy, nhằm tiêu diệt hoặc ít nhất gây thương vong nặng nề cho các đơn vị ANZAC trước khi họ rút đi.

Nhận định tình hình, Bộ Chỉ Huy Úc triển khai Chiến dịch Ivanhoe, một chiến dịch trinh sát có áp lực, với mục tiêu xác định vị trí, tiêu diệt và làm suy yếu lực lượng CSBV trong khu vực.

Chiến dịch được triển khai bởi ba đại đội của Tiểu đoàn 4 RAR/New Zealand (B và D Đại Đội Úc, cùng V Đại Đội Bộ Binh New Zealand) phối hợp với một đại đội từ Tiểu đoàn 3, Sư đoàn Hoàng Gia Úc, các đơn vị Trung đoàn Kỵ binh số 3, Trung đoàn Pháo binh 104 Hoàng gia Úc và các lực lượng hỗ trợ khác.

Ngày 21 Tháng Chín, các lực lượng ANZAC tiến vào khu vực Núi Lé. Tuy nhiên, họ không biết rằng quân CSBV tại đây có khoảng 1.100 lính CS, được bố trí trong các hầm hào kiên cố với hệ thống phục kích phức tạp chờ sẵn.

Nhờ khéo léo sử dụng địa hình rừng rậm, các binh sĩ Úc – New Zealand đã tiếp cận mà không rơi vào các trận phục kích ban đầu của CSBV, làm thất bại một phần kế hoạch tiêu diệt quân ANZAC của đối phương.

Khi phát hiện hệ thống hầm hào, D Đại đội 4 RAR nhận lệnh phá hủy toàn bộ. Trận đánh cận chiến dữ dội nổ ra, trong đó các binh sĩ phải chiến đấu từng bước một, dựa vào pháo binh gần nguy hiểm, hỗ trợ không quân và lưỡi lê (bayonet).

Khác với các trận đánh trước đây, lần này họ không có xe tăng Centurion hỗ trợ trực tiếp, buộc binh sĩ dựa vào kỹ năng cá nhân và chiến thuật phối hợp chặt chẽ để tiến công.

Trận chiến nhanh chóng rơi vào bế tắc, khi cả lực lượng ANZAC và tiểu đoàn CSBV đều không chiếm được ưu thế tuyệt đối. Nhờ sự yểm trợ chính xác của pháo binh, các đơn vị Úc mới có thời gian tạm thời rút lui, ổn định lực lượng và chuẩn bị cho đợt tấn công tiếp theo. Vào ngày 23/9, D và V Đại đội tái chiếm khu vực hầm hào. V Đại đội bắt đầu tấn công hệ thống hầm hào CSBV lúc 11 giờ 05, di chuyển từng bước nhỏ trong mưa tẩm tã, xuyên qua các hố bom, hố pháo và cây cối ngã đổ. Đến 17 giờ 25, họ tiếp cận được hầm hào và phát hiện thi thể ba binh sĩ Úc từ Tiểu đội 11, đã hy sinh trong cuộc tấn công ngày trước. Lúc này, CSBV đã rút hoàn toàn khỏi hệ thống hầm hào.

Trong trận Núi Lé, 6 binh sĩ Úc đã hy sinh, gồm:
1. Private Brian Charles Beilken – D Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR
2. Private Ralph Niblett – D Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR
3. Private John William McDonald – D Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR
4. Private Robert James McKinnon – B Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR
5. Private Peter John McDonald – B Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR
6. Private Michael John McDonald – B Đại đội, Tiểu đoàn 4 RAR

(Hình tư liệu, tác giả cung cấp)


Ngoài ra, trận đánh còn khiến 30 binh sĩ khác bị thương. Trong trận chiến, Thiếu úy Garry McKay, bị thương nặng, đã được trao Huân chương Quân sự (Military Cross) vì vai trò lãnh đạo dũng cảm, và Đại úy Gilbert được trao Huân chương Dịch vụ Xuất sắc (Distinguished Service Medal) năm 2018 cho hành động quả cảm trong trận đánh.

Sau khi tiêu diệt hệ thống hầm hào và mở đường cho trực thăng hạ cánh, các binh sĩ New Zealand đã lập một hàng danh dự tạm thời để tưởng niệm các đồng đội đã hy sinh, trong khi D Đại đội tiến vào đưa thi thể các chiến sĩ tử trận ra khỏi chiến địa.

Trận Núi Lé là minh chứng cho kỹ năng, kỷ luật, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm của lực lượng Úc – New Zealand trong điều kiện khắc nghiệt, đối mặt với quân địch đông và địa hình rừng rậm hiểm trở.

Chỉ bốn tháng sau trận Núi Lé, gần như toàn bộ lực lượng Úc và New Zealand đã rút khỏi Việt Nam, để lại một tiểu đội Đại sứ quán tại Sài Gòn. Trận chiến này đánh dấu cuộc chiến lớn cuối cùng của Úc tại Việt Nam, đồng thời trở thành biểu tượng cho sự hy sinh và lòng dũng cảm của các binh sĩ đồng minh trong cuộc chiến vì tự do và hòa bình.

Ngày nay, trận Núi Lé vẫn được ghi nhớ trong lịch sử quân sự Úc và Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về giá trị của lòng dũng cảm, sự phối hợp chiến thuật, và tinh thần chiến đấu kiên cường. Những người lính Úc đã ngã xuống tại Núi Lé không chỉ chiến đấu vì lợi ích quốc gia, mà còn vì lý tưởng tự do cho tất cả các dân tộc, và xứng đáng được tưởng niệm, tri ân mãi mãi.

 

Đoàn Xuân Thu

(Melbourne)

Thu Đông Giao Mùa - Nguyễn Duy Phước