Monday, November 10, 2025

Mê Làm Ca Sĩ! - Sỏi Ngọc


Hỡi cố nhân ơi chuyện thần tiên xa vời

Tình đã như vôi mong gì còn chung đôi

Cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ

Đừng níu thời gian cho thêm sầu vương mang

(Cỏ úa- Lam Phương)

Tôi thì thầm hát theo tiếng hát của ca sĩ Thanh Hà trong một đĩa hát mà bà Hoa chủ tiệm nails mở lên cho cả tiệm cùng nghe. Bàn chân khá lớn của bà khách người da màu để trên lòng tôi, đã ngâm nước cho mềm da, bây giờ tôi chỉ việc cắt da xung quanh mấy ngón chân và massage bàn chân. Cũng may là bà khách này thuộc giới thượng lưu, nên bàn chân thường xuyên được chăm sóc, bà đến tiệm chỉ để thay màu móng mới và được làm massage, bà cho tips khá hậu hĩnh, nên mỗi khi ai bắt số được làm cho bà là điều may mắn.

Bàn chân khổ lớn size 9.5, gác lên đùi một người phụ nữ Á Châu bé nhỏ, ngón chân cao sát mắt, tôi phải đổi chiếc ghế cao hơn cho có khoảng cách để dễ nhìn chứ không thì những ngón chân dài bự của bà đâm thẳng vào mũi!

Tôi đã làm quen ở tiệm này được một năm rồi nên không còn cái cảm giác tự ái, hờn dỗi như lúc đầu mới vào; hồi đó, hễ ai gác chân lên đùi tôi để làm móng là tôi cảm thấy như họ không tôn trọng mình, vùng vằng đứng dậy, và nước mắt tự ti trào ra….

Bài hát Cỏ Úa của Lam Phương hôm nay vang lên làm lòng tôi quặn thắt một nỗi niềm chua xót, thân phận tôi cũng giống như cọng cỏ úa tàn, đúng với câu cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ, ôi sao mà y chang cái đời lầm lỡ của tôi.

Bất giác một giọt nước mắt tủi thân lăn dài xuống má, bà khách đang nhắm mắt thư thái hưởng thụ, giật mình vì giọt nước mắt nóng hổi của tôi bỗng rơi xuống bàn chân, thấy tôi chảy nước mắt, bà vội rụt chân lại, ngồi thẳng lên, giọng lo lắng:

– Cô… có sao không?… có… chuyện buồn à?

Tôi vội lau đi dòng lệ nóng, lắc đầu:

– Dạ không!… xin lỗi bà… tôi… tôi…


Bà mở to cặp mắt nhìn tôi, rồi ra chiều hiểu chuyện, bà nói nhỏ với tôi:

– Tôi… sẽ gởi cô tiền tips kha khá nhé, đừng buồn nữa… Chiều nay về hãy ghé chợ mua đồ ăn ngon làm sẵn tự thưởng cho mình, đừng làm cơm cho mệt người.

Không biết làm sao giải thích cho bà hiểu, tôi lí nhí:

– Tôi…cám ơn bà nhiều…

Yên lặng cố nuốt nỗi buồn, tiếp tục gục mặt xuống bàn chân to dài của bà, vừa vuốt, vừa xoa từng ngón, gót và lòng bàn chân cho bà, tôi toát cả mồ hôi!

Ký ức đưa tôi trở về cách đây hai năm, khi còn ở quê nhà:

Đã 47 tuổi, chưa lập gia đình, và cũng chưa từng có bạn trai, tôi không hề cảm thấy cô đơn, học xong đại học Kinh Tế ngành tài chánh, đi làm cho ngân hàng lớn tại Saigon, tôi tự nuôi thân, nuôi gia đình ba mẹ; họ hàng trong nhà mỗi lần gặp đều muốn làm mai cho tôi, chưa biết “đối tượng” là ai mà tôi đã nhất định từ chối, chỉ thích độc thân, tự do cho khỏe, cho dù là phụ nữ tôi vẫn không thích sống phụ thuộc vào ai.

Cho đến khi ba mẹ lần lượt qua đời năm tôi 49, vô cùng đau buồn, cảm thấy lẻ loi, lúc ấy mới tự trách “ phải chi mình có chồng, thì bây giờ mình không cô đơn như thế này”

Chị Huệ, người làm cùng ngân hàng, một hôm rủ tôi đến nhà chị ăn cơm tối, xong rồi hát karaoke nhân dịp có người em từ Mỹ về chơi thăm nhà, tôi vốn mê ca hát, nên khi nghe bạn rủ, tôi ok ngay!

Sau khi ăn uống xong, tất cả mọi người kéo qua phòng văn nghệ nhà chị Huệ với ánh đèn xanh đỏ, người em trai chị Huệ, Hiếu mở đầu chương trình với giọng hát trầm ấm, da diết thu hút ánh mắt tôi. Anh còn độc thân, hơn tôi 2 tuổi, đang làm việc tại Mỹ, về Việt Nam thăm nhà một tháng; tôi mê giọng hát anh, rồi mến con người anh hồi nào không hay

Mỗi chiều đi làm về, ăn cơm xong là tôi đều bay qua nhà chị hát hò đến khuya, anh Hiếu chỉ cho tôi kỹ thuật lấy hơi, cách ngắt nhịp, nhả chữ… làm tôi cảm tưởng như mình đang luyện tập để thi vào trung tâm Asia hay Thúy Nga không bằng, anh nói:

– Cái gì mình đam mê phải học đến nơi đến chốn, hát thường thôi thì ai hát mà chả được, bên Mỹ anh cũng phải trả tiền cho thầy luyện giọng cho anh đấy, mặc dù anh chẳng thi giọng ca vàng ở đâu cả!

-….

– Giọng em nhẹ nhàng, cao trong lắm, em chỉ cần tập cách ngắt nhịp, tập hơi thở, và để hồn vào bài hát là ngon lành, thành ca sĩ hồi nào không hay.

Tôi trố mắt, dỏng tai nghe anh phân tích giọng ca của tôi, anh khuyến khích tôi đừng bỏ qua những sai lầm nhỏ, mà phải rút kinh nghiệm để hát ngày càng hay hơn, y như ca sĩ sắp lên sân khấu vậy.

Ba mươi ngày anh ở nhà chị Huệ, chúng tôi có dịp đi chơi, tìm hiểu nhau nhiều hơn, rồi hai ngày trước khi anh về lại Mỹ, chúng tôi đi phòng trà ca hát, anh nói tặng tôi Bài Tango cho em của Lam Phương:

Giờ mình có nhau rồi, đời đẹp vì tiếng em cười.

Vượt ngàn trùng qua bể khơi, dắt dìu cùng về căn nhà mới.

Ta xây vách chung tình, nhiều chông gai có tay mình.

Xin cảm ơn đời còn nhau, ghi sâu phút ban đầu bằng bài tango cho em.

Giọng hát, phong cách chàng như hút hồn tôi, một phụ nữ lớn tuổi, chưa chút kinh nghiệm về tình trường; chàng hào hoa quá, mùi nước hoa nhẹ nhàng phảng phất, chàng galant mở cửa xe cho tôi mỗi lần ra vào; khi tôi lên hát thì chàng tặng tôi bằng vài đóa hồng đỏ chói mua ngay tại rạp, chiều chuộng săn đón làm tôi tưởng mình trẻ lại như thời 18-20.

Trên đường về nhà, chàng nắm lấy tay tôi:

– Anh đã tìm được người trong mộng… Anh sẽ đón em sang Mỹ nhé! Em có bằng lòng… làm vợ anh không?

Hôm ấy trên trời ánh trăng sáng vằng vặc, rọi xuống khuôn mặt chàng trắng bệch, nhưng ánh mắt thật sáng long lanh, tôi nhìn thấy cả bóng dáng tôi trong ấy, sự thành thật và cả niềm tin.

Tôi gật đầu, không suy nghĩ, lắp bắp:

– Em… em …

Chưa nói thành câu, chàng đã ôm lấy tôi, mạnh dạn đặt lên môi tôi một nụ hôn đầu đời mà tôi mãi ghi nhớ cho đến ngày tôi bán tất cả mọi thứ ở Việt Nam, quyết theo chàng dzìa dinh…tại Mỹ.

Sau một năm chờ đợi giấy tờ thủ tục bảo lãnh vợ chồng, chị Huệ có nhắc nhở tôi đi học tiếng Anh, học một nghề tay trái riêng cho mình để lỡ có gì còn xoay sở, tôi tự tin nói với chị:

-Tiếng Anh của em cũng khá vì thi thoảng có đọc tài liệu bằng tiếng Anh trong sở làm, còn nghề thì em sẽ tiếp tục làm ngân hàng, em đã có bằng bên này rồi. Em sẽ thực hiện ước mơ Mỹ của mình, em sẽ luyện hát, lỡ một ngày nào đó em trở thành ca sĩ thì sao, cả thế giới sẽ biết đến em, chị chờ mà xem!

Chị Huệ để mặc tôi ngồi trước hiên nhà nói huyên thuyên mọi ước mơ của tôi trong lúc cao hứng, hy vọng ngút ngàn, còn chị lặng yên đứng lên đi dọn dẹp nhà cửa, lâu lâu chêm vô:

– Có chí thì nên, có công mài sắt có ngày nên kim mà, qua bển rồi thì ước mơ gì cũng thành sự thật…


-oOo-

Ngày tôi đặt chân đến Mỹ, tôi chỉ có mỗi chàng là người thân duy nhất, ra khỏi phi trường Houston vào tháng Bảy, nắng cháy da, nhưng quen với khí hậu nóng bức của Saigon, tôi thấy cũng không đến nỗi.

Xuống xe ở căn nhà bé nhỏ nằm trên đường Bellaire mà xe cộ chạy như mắc cửi, làm tôi vô cùng thất vọng, tôi tưởng phải là căn nhà to lớn thường thấy trong các phim ảnh; chàng đẩy cửa bước vào, bên trong chưa bật đèn, âm u, mùi ngai ngái, tôi đứng giữa bóng tối chật chội của căn nhà, xung quanh đồ đạc ngổn ngang, tôi lên tiếng:

– Ủa… nhà anh…

Tôi không dám nói hết câu, nghĩ bụng “từ mấy chục năm nay anh đi làm tiền bạc để đâu hết mà mua căn nhà ngay ngoài mặt đường, xe chạy văng bụi mù mịt, lại nhỏ như cái lỗ mũi?!”

Tôi bước ra phía sau, căn bếp nhỏ, được cái là ánh sáng chan hòa từ sau vườn tràn vào làm tăng thêm sức sống, mảnh vườn to rộng vuông vức, lớn gấp đôi căn nhà, không một cây ăn trái hay hoa lá gì cả, chỉ là mảnh vườn đầy ắp cỏ bị cháy nắng, so với những vườn của hàng xóm trồng nào là chanh, cam, quýt, lê, táo trễ xuống rơi đầy sân.

Trong bồn chén, một lô bát đĩa của cả tuần chưa rửa, tôi ngó quanh một hồi, nuốt cục tức nghẹn, thất vọng xuống, vén tay áo rửa chén, dọn đồ đạc ngổn ngang trên bàn, trong lúc chàng ra vườn vặn máy nước tưới đám cỏ khô.

Mới tháng đầu tiên, chàng đã không còn vẻ galant, lịch sự như hồi ở Việt Nam nhà chị Huệ nữa, phải nói chàng đã hiện “nguyên hình” con người thật với khuôn mặt nghiêm trang, dáng điệu uể oải, mệt mỏi mỗi khi đi làm về.

Thấy tôi đang tập hát karaoke, mở nhạc to, mặt nhăn nhó chàng với tay tắt ngay cái máy, càu nhàu:

– Sao em làm gì ồn ào vậy? không sợ phiền hàng xóm sao?… Xung quanh đây người Việt mình ở đông lắm!

– Em đang tập hát mà!… Anh có nhớ hồi đó anh nói em khi tập hát phải mở nhạc to, phát âm cho tròn chữ, phải tập ngắt nhịp, phải…

-…Anh mới đi làm về, anh mệt lắm, anh chỉ muốn nghỉ ngơi… Mình đi dọn cơm ăn đi em!

Chàng làm hứng hát của tôi tắt ngỏm, rồi những ngày nghỉ tôi thủ thỉ rủ chàng đi phòng trà thì bị nghe:

– Anh chỉ có mỗi hai ngày nghỉ, một ngày chở em đi chợ, một ngày còn lại anh phải nghỉ ngơi để mai có sức đi làm, em cứ đòi đi đây đi đó, thì… em tự học lái xe đi! Ở đây ai cũng tự lo thân, ai cũng đi làm để tự chi tiêu, mua sắm cho mình, em đâu thể ở nhà mãi như thế được…

Tôi mở hai mắt thật tròn to nhìn anh, người đã từng nói với tôi những lời ngọt ngào, mê hoặc nào là “chỉ một mình anh đi làm là đủ”, “ở Mỹ cuối tuần đi shopping, ngắm cảnh đẹp” hoặc “em sẽ thực hiện ước mơ Mỹ của em” v.v. Tất cả chỉ là ảo mộng thôi sao! Tôi như bị ném từ đám mây cao xuống đất!

Hiểu, nhưng đã trễ!

Tôi thất vọng, không thể nào quay lại Việt Nam được nữa, nhà đã bán, tôi chả còn gì ngoài vài chục ngàn Mỹ kim đem qua đây. Bây giờ tôi mới biết mảnh bằng đại học ngành tài chánh của tôi như mảnh giấy lộn, vì tiếng Mỹ tôi nói người ta không hiểu, mà tôi cũng chả hiểu hết những gì người bản xứ nói; còn mộng làm ca sĩ càng xa vời, vì tôi vừa lớn tuổi lại vừa không có sắc!

Lòng tự trọng cũng không cho phép tôi quay ngược về quá khứ, mà chỉ có con đường duy nhất: tiến lên phía trước đầy thử thách.

Tứ bề thọ địch, tôi lại nén cái tự ái tự cao tự đại tự ti xuống thật sâu, nhờ chồng dạy lái xe; tôi thề sẽ phải tìm ra một công việc cho bản thân mình, đừng để bị người ta xài xể, khinh miệt, nói chạm tự ái!

Trong lúc chồng đi làm, buồn chán quá tôi đi dạo trên đường Bellaire, xem hàng quán ra sao, có thể làm việc gì được trong tương lai. Vừa giận chồng, vừa trách bản thân đã không nghĩ đến những tình huống khó khăn có thể xảy ra ở xứ người để chuẩn bị sớm trước đó.

Bất chợt tôi dừng lại ở một tiệm nails, đang dáo dác nhìn ngó, thấy bộ dáng tôi như thế nào mà chị chủ tiệm lên tiếng hỏi ngay:

– Chị muốn… tìm việc làm hả?… mới từ Việt Nam sang hả?

Tôi ngập ngừng:

– Tôi… qua được 3 tháng rồi, tôi… muốn…

– Ở đây đang cần người, nếu chị muốn có thể thử việc liền ngày mai… chị thích làm nails không?…

Một thoáng suy nghĩ, tôi nói chắc nịch:

– Vâng!… chị dạy tôi chứ?

-oOo-

Hai năm sau, với tất cả nỗ lực thay đổi bản thân, tôi đã biết lái xe, mua chiếc xe cũ, bớt tù túng và không phụ thuộc vào chồng mỗi cuối tuần đi chợ nữa, không những tự lo bản thân, mà còn giúp chồng trả tiền ăn uống hàng ngày, sắm sửa đồ đạc; tôi bắt đầu có một khoản tiền tiết kiệm, còn anh lo trả tiền bill hàng tháng, điện nước, thuế nhà, bảo hiểm xe cộ.

Hiếu hết lầu bầu, có vẻ «nể» tôi ra mặt, anh bớt căng thẳng, cười nhiều hơn nhưng vẫn khép kín, không muốn ra ngoài bầu bạn.

Tất cả giờ giấc, tâm huyết của tôi, đổ vào hết cho tiệm nails, số khách theo tôi ngày càng đông, tôi vẽ những hình nhỏ, hoặc đặt hạt kim cương, đá nhỏ trên móng tay khách, tôi đam mê nghệ thuật tạo hình trên móng, nhiều người xếp hàng đặt lịch với tôi chật kín, tôi là nhân viên được nhiều tiền thưởng nhất trong tháng của tiệm; chị Hoa đề nghị để lại một cửa tiệm cho tôi quản lý, ban đầu chị chỉ lấy vốn còn tips thì để hết lại cho nhân viên tiệm.

Mới năm thứ hai ở Mỹ, tôi đã được cộng đồng nơi đây tin tưởng, khách đến tiệm vui vẻ, cười nói, họ xem tôi như người thân, rủ thêm bạn bè đến làm móng, làm tóc, dần dần tiếng tăm của tôi nổi trội ở khu mall Bellaire.

Có những buổi tối, sau khi ăn uống xong, Hiếu vào phòng đọc sách, tôi ra vườn sau chăm chút thăm nom những cây bầu bí đang vươn những đọt non, cành cây vươn dài mỗi ngày; từ ngày đến căn nhà này, tôi đã trồng thêm chanh, cam, lê, táo tàu, đào, tôi rất yêu cuộc sống bận rộn này, yêu không khí tự do của nước Mỹ, con người xởi lởi, chân thật của tiểu bang Texas, tôi quyết định sẽ xây dựng cuộc sống của mình ngày càng tốt hơn, và cũng sẽ nắm tay Hiếu dần bước ra khỏi cái vỏ ốc tự ti mặc cảm thua kém của anh trong cộng đồng người Việt nơi đây.

Tôi không còn giận anh nữa mà ngược lại biết ơn anh đã đặt thẳng vấn đề để cuộc sống của chúng tôi thoải mái, hài hòa hơn.

Một buổi sáng cuối tuần, ánh nắng lung linh xuyên qua những khe lá của cây đào, hai vợ chồng yên lặng ngồi uống café sau hiên nhà, tôi khẽ khàng:

– Em định sẽ xây thêm căn nhà mình cho dài và rộng ra thêm ở phía sau để làm phòng … giải trí, xem phim, mình có thể cùng nhau hát khi rảnh rỗi … như hồi xưa …

Theo dõi biểu cảm trên khuôn mặt anh, tưởng anh sẽ chống đối; nhưng không, anh cười xuề xòa:

-Nhờ có em đi làm thêm, đã giúp thu nhập của gia đình mình khá hẳn lên, nếu để dành đủ tiền, anh cũng muốn thực hiện những mộng ước của em…

Tôi tròn miệng ngạc nhiên lẫn hạnh phúc vô cùng khi nghe anh nói về tương lai:

– Thật sao!…  thật là anh còn muốn hát lại sao?

– Thực sự anh chỉ muốn mình có những giờ giải trí sau khi mình dư tài chánh, dư dả thì «chơi» mới yên lòng chứ… Hồi đó em mới qua, chưa có nghề nghiệp, chưa biết lái xe, anh thì như ngồi trên đống lửa, còn em thì chỉ lo đi chơi, shopping, hát karaoke thì tương lai lấy gì sống?!

-Oh thì ra anh không phải chán ghét em, mà anh muốn «dạy» cho em biết cuộc sống phải lo tích góp trước rồi mới lo hưởng thụ sau phải không?

Anh choàng tay ôm lấy hai vai tôi, đầu kê sát vào trán tôi ngọt ngào:

– Vợ anh rất giỏi, đã thực hiện được cái ý của anh muốn rồi đó!

Khoảng cách đôi ta ngày xưa chỉ một con đường

Mà nỗi nhớ ai ơi dài vô tận

Như biển xanh có bao giờ hết mặn

Như trái tim này anh xin dành tặng riêng em

(Tình xưa-Đình Văn)

SN (Montreal, Oct’25)

Trong Bóng Trời Mù - Đỗ Công Luận

Sunday, November 9, 2025

Tinh Hoa Thất Nghiệp – Hoàng Thảo Nguyên

 

Vào một chiều muộn, khi ngồi uống cà phê tại phố Saint Georges, quận 9 Paris, tôi trò chuyện với Clara, cô phục vụ bàn trẻ tuổi đến từ Rennes, khi cô vừa tan ca.

Chúng tôi bàn luận từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, tới dự thảo luật ngân sách 2026 của Chính phủ Lecornu. Do vậy, tôi không ngạc nhiên khi nghe cô giới thiệu mình là cựu sinh viên Rennes School of Business, một trường thương mại có tên tuổi tại Pháp.

Cuộc trò chuyện này khiến tôi cũng nhớ lại cuộc trò chuyện tương tự với một sinh viên trường Kinh tế Quốc dân, khi bạn đang chở tôi lách qua những hàng xe máy tan tầm trên đường Láng.

Nếu tới Bắc Kinh hay sang New York, tôi đều có thể sẽ gặp những câu chuyện tương tự.

Những câu chuyện giống nhau tại những quốc gia khác nhau đang vẽ ra cùng một bức tranh: “sự sụp đổ của giá trị học vấn” – khi lạm phát bằng cấp, trí tuệ nhân tạo và bất tương xứng cung – cầu lao động cùng lúc phá vỡ mô hình “học để thành công” đã thống trị hơn một thế kỷ.

Khi mà thế giới đang bàn luận sôi nổi về việc đang có hay không khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ, thì có một cuộc khủng hoảng xuất hiện từ lâu và âm ỉ trầm trọng hơn từng ngày: khủng hoảng hậu bằng cấp. Trong đó các nạn nhân đối mặt gần như cùng lúc ba cú sốc.

Cú sốc đầu tiên: Lạm phát bằng cấp và thất nghiệp trí thức

Thế giới đang chứng kiến một thế hệ “thạc sĩ thất nghiệp”: những thanh niên 25-30 tuổi, học 5-7 năm, tốt nghiệp trường top, mang nợ sinh viên, hiện phải làm phục vụ hay giao hàng.

Nguyên nhân tới từ sự mở rộng ồ ạt của đại học khiến bằng cấp phổ cập tới mức mất chức năng phân biệt. Tại Pháp, 26% người trong độ tuổi 25-34 có bằng thạc sĩ hoặc trình độ tương đương, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 16% của OECD (theo Education at a Glance 2025: France). Nhưng cấu trúc việc làm không thay đổi nhiều. Khoảng 19% người lao động (25-65 tuổi) bị đánh giá là over-qualified (trình độ học vấn cao hơn so với yêu cầu công việc).

Giống như chính phủ phát hành quá nhiều tiền, xã hội đang phát hành quá nhiều bằng cấp. Khi cung vượt cầu, tấm bằng không còn là “đảm bảo nghề nghiệp” mà trở thành “hàng hóa mất giá”.

Tác động không chỉ là kinh tế, mà là tinh thần. Thế hệ trẻ từng được dạy “nếu học giỏi, con sẽ có tương lai”. Giờ đây, họ cảm thấy bị phản bội bởi chính cam kết đó khi bản thân bị tụt hạng xã hội dù bằng cấp đầy mình.

Từ đó, một khủng hoảng niềm tin lan ra toàn xã hội. Người không có bằng cảm thấy bị gạt ra ngoài, người có bằng lại thấy công sức học hành trở nên vô nghĩa.

Cú sốc thứ hai: Trí tuệ nhân tạo (AI) và hồi kết cho độc quyền tri thức của con người

Nếu “lạm phát bằng cấp” là ngòi nổ, thì AI là chất xúc tác làm cuộc khủng hoảng này lan ra nhanh hơn, rộng hơn, sức công phá lớn hơn.

Laurent Alexandre và Olivier Babeau – hai tác gia người Pháp – mô tả thời điểm 30/11/2022, ngày ra mắt ChatGPT 3.5, như “ngày mà thế giới cũ sụp đổ”.

Theo họ, AI không chỉ là công nghệ mới, mà đã “khai sinh ra nền văn minh mới”: lần đầu tiên trong lịch sử, con người không còn độc quyền sản xuất tri thức. AI có thể lập luận, viết, sáng tạo, phân tích – và làm nhanh hơn, rẻ hơn, không mệt mỏi.

Chúng ta đã mất ‘độc quyền đối với lợi tức thu được từ tri thức’.
Những người từng tin rằng học vấn là lá chắn trọn đời đang bị đặt ở tuyến đầu của sự thay thế.

Laurent Alexandre nói.

AI làm đảo ngược trật tự giai tầng. Các công việc trí óc – từng được coi là đỉnh tháp xã hội – giờ bị AI lấn át: phân tích dữ liệu, viết báo cáo, tư vấn, kế toán, pháp lý… tất cả đều nằm trong vùng nguy hiểm. Trong khi đó, các công việc tay nghề, kỹ thuật, chăm sóc, ẩm thực… ít bị đe dọa hơn.

Hệ thống đại học vốn xây dựng trên nền tảng “đào tạo người lao động trí óc” trở nên lỗi thời. Trong thời AI, tri thức không còn hiếm – nó được sản xuất hàng loạt chỉ bằng một dòng lệnh.

Vì vậy, giá trị mới không nằm ở “biết nhiều”, mà ở “biết ứng dụng”, “biết sáng tạo” và “biết thuyết phục”.

Bằng cấp chỉ còn là một tín hiệu cũ kỹ. Một tấm huy chương chocolate.
Giá trị con người tương lai nằm ở sức hút cá nhân, khả năng kết nối và sáng tạo.

Olivier Babeau nói.

Cú sốc thứ ba: Thừa tinh hoa – bất tương xứng cung cầu lao động

Nhà nghiên cứu Peter Turchin (Đại học Connecticut) đưa ra khái niệm “sản xuất thừa nhân tài”: khi xã hội sản xuất quá nhiều người học vấn cao mà không có đủ vị trí quyền lực, sự cạnh tranh sẽ trở nên tàn khốc.

Turchin so sánh với trò chơi ghế nhạc: số người chơi (người học cao) ngày càng tăng, nhưng số ghế (vị trí cao cấp) không đổi. Khi nhạc dừng, nhiều người bị bỏ lại – họ là những “tinh hoa thất thế”, vừa bất mãn, vừa nguy hiểm.

Trong lịch sử, chính nhóm này đã góp phần tạo nên các phong trào cách mạng: 1848 ở châu Âu, 1917 ở Nga, 1968 ở Pháp.

Nhưng lần này, nguy cơ còn lớn hơn: trí thức thất thế được trang bị thêm mạng xã hội và AI – họ có thể biến bất mãn cá nhân thành phong trào tập thể, nhanh hơn bao giờ hết. Khi người có học không còn cảm thấy xã hội cần mình, nền tảng ổn định của quốc gia bị lung lay.

Ba cú sốc này có thể dẫn tới sự sụp đổ của mô hình giáo dục đương đại

Từ thế kỷ XIX, giáo dục được tổ chức theo logic tuyến tính: học – thi – tốt nghiệp – đi làm.

Những năm 80 của thế kỷ trước, kiến thức học ở tuổi 20 sẽ dùng tới tuổi 60. Nhưng theo OECD, tuổi thọ trung bình của một kiến thức ngày nay chỉ còn… hai năm, so với 30 năm vào thập niên 1980.

Điều này nghĩa là: đại học không còn đủ nhanh để theo kịp thế giới. Sinh viên ra trường với tri thức đã cũ. Người học xong bằng thạc sĩ, tiến sĩ có thể đã lỗi thời ngay khi cầm bằng. Chưa bao giờ nhân loại học nhiều như hôm nay, nhưng năng lực thực tế lại giảm.

Tất nhiên, tri thức không phải đang bị phủ định, mà tri thức đơn thuần đang phải nhường chỗ cho năng lực. Trong nền văn minh mới này, người thành công không nhất thiết phải học lâu, nhưng phải học liên tục, học suốt đời.

Giáo dục đại học trong thế giới mới cần tái sinh theo hướng: học – làm – học tiếp – sáng tạo – dạy lại.

Cơn “khủng hoảng bằng cấp” ở phương Tây không phải tai nạn, mà là kết quả tất yếu của một mô hình giáo dục lỗi thời trong thế giới biến động.

Việt Nam đang đứng ở ngã ba, giống phương Tây 15 năm trước: tỷ lệ học đại học tăng nhanh, thị trường việc làm chậm chuyển đổi – doanh nghiệp thiếu nhân lực tay nghề, còn sinh viên ra trường “không xin được việc” – học nghề bị đánh giá thấp. Chúng ta đang ở giai đoạn có thể học từ chính sai lầm đó để chuyển hướng kịp thời.

Chính phủ đang triển khai sáp nhập các trường đại học công lập nhằm tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học Việt Nam theo hướng tinh gọn, hiệu quả và hội nhập. Mục tiêu là giảm tình trạng trường nhỏ, manh mún, trùng lặp ngành nghề, tập trung nguồn lực để hình thành các đại học đa ngành, đa lĩnh vực có năng lực nghiên cứu và đào tạo mạnh hơn, đủ sức cạnh tranh trong khu vực.

Tuy nhiên, sáp nhập chỉ là bước đi về tổ chức, chưa thể bảo đảm chất lượng nếu không song hành với cải cách chương trình, đổi mới phương pháp đào tạo và gắn chặt với phát triển con người. Theo tôi, quá trình sáp nhập cần đảm bảo các mục tiêu sau:

Các chương trình học cần thiết kế lại để dạy người học cách tư duy, đặt câu hỏi, giải quyết vấn đề thay vì chỉ truyền đạt thông tin. Mỗi môn học phải trả lời được câu hỏi “kiến thức, kỹ năng này giúp sinh viên làm được điều gì mà máy móc không thể làm”.

Đại học phải trở thành “phòng thí nghiệm xã hội” nơi sinh viên tham gia dự án thật, giải quyết vấn đề thật. Khi đó, vai trò của doanh nghiệp rất quan trọng, có thể ngay từ khâu góp ý thiết kế chương trình.

Đầu tư hiện đại hóa hệ thống trường dạy nghề.

Tăng tính linh hoạt của hệ thống để cho phép người học có thể chuyển đổi giữa học nghề – đại học – học nâng cao suốt đời.

Truyền thông lại hình ảnh người lao động tay nghề cao như lực lượng xương sống của nền kinh tế, chứ không phải tầng lớp “thấp hơn” trí thức.

Các buổi hướng nghiệp cần được tổ chức chính quy trong chương trình học, với nội dung bám sát nhu cầu thị trường.

Giải pháp không phải là học ít đi, mà là học khác đi: học sâu hơn, linh hoạt hơn, nhân văn hơn, và thực tế hơn.

Đó là con đường để trí tuệ Việt Nam không bị thay thế trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

.

Hoàng Thảo Nguyên  (Luật gia, hòa giải viên thương mại)

VnExpress (03/11/2025)

Căn Phần - Người Phương Nam

Kén Chồng Cho Con - Phạm Thành Châu

Hình minh họa


(Kính tặng đại tá tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên)

(Chuyện thật được tiểu thuyết hóa (roman vérité).
Nhân vật trong truyện: “hắn” “tôi” không phải là tác giả)
 -------
Ở xứ Mỹ nầy, thời đại văn minh mà nói chuyện cha mẹ kén chồng cho con thì nghe lạ tai. Vậy mà chuyện đó lại xảy ra. Chẳng phải ông bà giàu có, sợ gặp thằng rễ đào mỏ, mà cũng chẳng phải cô gái thuộc loại ngây thơ, e thẹn, kín cổng cao tường, không dám tiếp xúc với ai. Sự thực, cô đã trên 30. Cô cũng xông xáo vào xã hội để kiếm sống, cũng nói năng giao thiệp rộng rãi. Cô lại đẹp nữa. Vậy mà gặp cậu nào còn độc thân là ông bà vui vẻ mời ghé nhà. Chẳng thấy ai quí khách bằng ông bà, nhưng rồi, hình như không đạt tiêu chuẩn nào đó, ông bà lại mời chàng khác ghé thăm, chuyện vãn. Những chuyện trên hắn chỉ nghe trong cộng đồng người Việt bàn tán thế thôi. Ông bố cô gái, hắn biết, vì trước bảy lăm (1975), hắn là nhân viên dưới quyền ông. Cả đến cô gái, hắn cũng biết nữa, nhưng hiện nay những tiêu chuẩn chọn khách đông sàng của ông bà thì ai cũng mù tịt. Đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi...? Tất cả chỉ là giả thiết. Và vẫn còn trong vòng bí mật. Có một điều là bọn con trai, từ trẻ đến lớn tuổi đều suýt soa là cô quá đẹp. Đẹp dịu dàng, quí phái, thấy cô chỉ muốn ngắm mãi rồi thở dài vì biết mình không hy vọng gì.

Xin dài dòng về những điều hắn biết về ông bà và cô gái:                                              
Năm 1973 hắn tốt nghiệp đốc sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH, được bổ về làm phó quận một tỉnh miền Trung. Lúc đó ông ta là đại tá tỉnh trưởng. Trong thời gian làm việc ở quận, thỉnh thoảng hắn phải về tỉnh họp. Hắn thấy ông có một phong thái rất đặc biệt. Ông như một ông vua con với bá quan. Thân mật nhưng có khoảng cách rõ ràng. Ông hết lòng với dân nhưng phục vụ dân như một thiên mệnh hơn là bổn phận, tưởng như chức tỉnh trưởng do trời ban cho chứ không phải do tổng thống bổ nhiệm, đúng ra ông giống như “ngài quận công” em ruột “đương kim hoàng đế” ngày xưa vậy. Chẳng bao giờ ông giữ kẻ điều gì. Ông muốn là làm. Ông có một thói quen buồn cười. Khi làm việc ở tòa Hành Chánh tỉnh, ông thường đến các ty, phòng nội thuộc. Vừa nói mấy câu là ông vỗ vỗ túi áo rồi hỏi “Có thuốc không?” Ai cũng biết trước nên thủ sẵn một gói thuốc ông thường hút, đưa ra, ông lại hỏi “Có quẹt không?” Đưa quẹt cho ông, đốt thuốc xong, ông bỏ tất cả vào túi áo mình rồi đi nơi khác. Có điều lạ là không ai biết ông vất thuốc với quẹt ở đâu mà ngay sau đó chính ông tìm cũng không ra, rồi lại hỏi “Có thuốc không?” Mà chẳng phải ông nghiện thuốc, chỉ bặp bặp vài hơi là cắm điếu thuốc xuống cái gạt tàn, nói mấy câu, lại đốt điếu khác, hút tiếp, lại dụi bỏ. Ngồi họp mà có ông là hắn được cái thú đếm xem ông hút bao nhiêu điếu thuốc trong buổi họp. Đến ngày mất nước (1975), ông không bỏ chạy, ông đi tù. Lúc ở trại tù cải tạo Long Thành 15 NV hắn có gặp ông. Vẫn vẻ phong lưu, bất cần thiên hạ nên trông ông chẳng mất phong độ gì cả. Sau đó ông "được" đày ra Bắc. Chẳng biết bao lâu, cuộc đời dâu bể. Khi hắn qua Mỹ, ở Virginia, tình cờ gặp ông một lần. Chuyện nầy hồi sau sẽ kể rõ.
Còn chuyện hắn biết cô con gái của ông đại tá tỉnh trưởng (trước 1975) cũng có nguyên do. Năm đó, gần đến Tết, tay thiếu tá quận trưởng của hắn ngồi than thở là tết nhất mà không có quà cáp cho xếp thì thật khó coi. Hắn ta rầu rỉ bảo:                                                
- Nhưng trong túi “moa” (tôi) tài sản chỉ mấy nghìn, biết mua cái gì bây giờ? Một cành mai thì chắc có đứa đem đến rồi, mà thứ mai chấm trần nhà kia, tiền đâu chịu thấu. Một cặp bông hồng hay vạn thọ thì “hẻo” (tệ) quá!

Hắn đề nghị mua một món đồ cổ, chẳng ai biết trị giá của nó nhưng trông đã đẹp lại quí. Thế là hắn được giao nhiệm vụ đó. Hắn đến tiệm đồ cổ, chỗ chân cầu Gia Hội (thành phố Huế) mua một cái tô, không biết cổ thực hay giả, lơn tơn đến dinh tỉnh trưởng. Ông đại tá không có nhà vì là giờ hành chánh, chỉ có cô gái ra tiếp. Cô mới 15, 16 mà đẹp kỳ lạ. Cô như nụ hồng hé nở, ngây thơ, tinh khiết. Cô học trường Đồng Khánh, từ dinh tỉnh trưởng, cô chỉ đi mấy phút là đến trường. Chiều đó hắn ngồi tán tỉnh tía lia, khi ra về, em cho hắn ôm hôn lên má, rồi ôm cái tô ra về. Hắn hẹn với em vài hôm sau sẽ đến nữa. Đến hẹn, hắn lại ôm cái tô đến. Lính gác cổng thấy xe quận quen thuộc, không bận tâm. Em tươi cười, mừng rỡ chờ đón hắn.                           
Gặp em được mấy lần thì ông tỉnh trưởng về sớm.  
- “Moa” (ta) nghe mấy bữa nay “toa” (cậu) cứ ôm cái tô đến trò chuyện với con bé Mai  của moi mãi. Rứa là đủ rồi hỉ! Chờ ít năm, con bé lớn chút nữa, lúc đó mỗi lần đến đây, toa cứ nộp một cái tô, cái dĩa cổ chi đó là được. Moa hứa với toa nhưng không bảo đảm gì cả nghe!                  

Dù sao thì hắn cũng được em cho ôm hôn mấy lần và cả hai cũng có tặng hình cho nhau gọi là “Để kỷ niệm những ngày mới quen nhau”. Hình em mặc váy đầm, tóc thắc bím, ôm búp bê. Hình hắn tặng em là cảnh hắn đứng vênh mặt trước trường Hành Chánh, chụp hôm tốt nghiệp, coi rất bảnh trai. Sau tấm hình hắn ghi cho em một câu đúng điệu nhạc vàng “Anh hứa yêu em suốt một đời”.     
Một lần, ôm hôn em, hắn thì thầm “Em làm vợ anh nghe! ” Có lẽ em không biết rõ  “làm vợ” là làm gì, nhưng em vẫn ngước nhìn hắn cười và gật đầu.

Đáng lẽ chuyện tình của hắn với em sẽ còn dài, nhưng sau đó sập tiệm (miền Nam bị đô hộ 1975). Hắn đi tù, ông (đại tá) bố em, cũng đi tù. Em như cánh chim giữa cơn bão, phiêu bạt về phương trời nào hắn không rõ. Hình em tặng, hắn cũng đánh mất từ lâu. Cho đến khi nghe chuyện ông bà kén chồng cho em, hắn vẫn không hình dung được em ra sao, vì lâu quá, nhưng vẫn nhớ là em rất đẹp. Và nếu trước kia, đứng trước em hắn tự tin bao nhiêu thì nay hắn không dám gặp cả em nữa vì mặc cảm tự ti. Ra tù, thân tàn ma dại, qua xứ Mỹ, hắn cũng chẳng hơn gì con gà mắc mưa, hắn đứng bán McDonald!                                                                            

Cho đến một sáng chủ nhật, hắn ghé tiệm chạp phô mua ít vật thực. Vừa ra khỏi xe, hắn thấy một chiếc xe nhỏ chạy trước, xe cảnh sát chớp đèn chạy sau. Hai xe ngừng lại trước tiệm chạp phô. Tay cảnh sát xuống xe đến hỏi thăm sức khỏe người lái xe, có lẽ vi phạm giao thông gì đó. Hóa ra đó là ông bà đại tá tỉnh trưởng của hắn ngày trước. Hắn thấy tay cảnh sát Mỹ xì xồ mấy câu nhưng ông vẫn tỉnh bơ, chẳng nói năng một tiếng, cứ ngồi nhìn tay cảnh sát như người xem TV nhìn cái quảng cáo. Không vui, không buồn, không sợ, không xun xoe, và cứ trơ ra như thế. Có lẽ tay cảnh sát tưởng ông không biết tiếng Mỹ, lại già cả, nên lên xe bỏ đi. Lúc đó ông mới nhìn hắn cười chúm chím rồi hai ông bà vô tiệm. Hắn có thể đến chào hỏi, tự giới thiệu để chuyện trò nhưng kẹt vì biết ông bà đang kén rễ nên hắn nghĩ tốt hơn đừng để họ tưởng mình có ý đồ gì. Nghe nói có mấy tên bác sĩ, kỷ sư đẹp trai, đi xe đắc tiền còn bị loại, sá gì đến hắn mà đèo bòng, nên hắn phe lờ.
Trong lúc hắn đứng trước quày đồ khô thì ông ta đến bảo:                      
- Toa thấy moa có nhanh trí không, làm rứa là hắn chịu thua, mình khỏi bị ticket (giấy phạt).                          

- Tôi thấy, chỉ đại tá mới biết cách đó. Cái khó là giữ vẻ mặt sao cho tay cảnh sát vừa chán nản vừa thông cảm mới được. Tôi mà làm thế, hắn còng tay ngay.                                             
Ông ta ngạc nhiên:                                                                      - Ủa, sao toa biết moa? 
Lúc đó hắn mới bảo là hắn có làm phó quận trong lúc ông làm tỉnh trưởng. Thế là cả hai vui vẻ chuyện trò. Lát sau bà vợ ông ta đến, sau khi giới thiệu nhau, họ đã trở nên thân mật. Đàn bà đều giống nhau, thích tò mò chuyện đời tư người khác.
- Chớ vợ con mô mà đi chợ một mình?
- Tôi chẳng có vợ con gì cả. Như lúc nãy ông đại tá biết, tôi ra trường năm 73, đến năm 75 (1975) sập tiệm. Tôi đi tù về, không ai thèm nhìn, đến khi có vụ HO (tù cải tạo đi Mỹ) thì chẳng hề quen biết mà cũng có người kêu gả con cho, tôi chán quá, không thèm lấy vợ nữa.   
Ông ta bảo: 

- Moa mà như toa đi chợ chi cho mệt. Ghé tiệm, quán ăn nào đó, ăn xong trả tiền, khỏi chợ búa phiền phức.    - Nhưng tôi còn bà mẹ, mọi khi tôi đưa bà cụ đi chợ, mấy hôm nay bà cụ mệt, dặn tôi mua các thứ về bà cụ nấu.

Chuyện trò đến đấy thì hắn xin cáo từ, ông bà có mời hắn ghé nhà, cho số nhà, số điện thoại đàng hoàng. Hắn không có thì giờ thăm viếng linh tinh, vả lại tuổi tác chênh lệch mà gia cảnh cũng không thích hợp nên hắn quên luôn. Bẵng đi một thời gian, một sáng chủ nhật, đi chợ, hắn lại gặp ông bà. Họ coi bộ mừng rỡ lắm, nhất định mời hắn ghé thăm nhà, uống trà nói chuyện cho vui. Nể tình, hắn theo họ về nhà. Đó là 1 căn apartment, chẳng giàu sang gì, nhưng cách bài trí, sắp xếp trong nhà ra người phong nhã, trí thức. Lúc ngồi ở phòng khách, cô gái của ông bà bưng trà ra mời khách. Hắn không dám nhìn sợ bất nhã, nhưng thoáng thấy, hắn nhận ra ngay cô bé ngày xưa và cô vẫn đẹp, còn đậm đà, chửng chạc hơn trước. Thực ra hắn biết thân phận mình nên dửng dưng. Sáng hôm đó, ông bà nghe hắn kể lại những nhận xét, cảm tưởng của hắn lúc ông ta làm tỉnh trưởng, họ cười như chưa bao giờ vui đến thế. Dĩ nhiên hắn chẳng dại gì nhắc đến chuyện hắn tán tỉnh cô con gái của ông bà, coi nham nhở quá, vả lại cô ta mà nghe được, ghét hắn ra mặt thì chẳng vui gì. Những lần sau đó, ông bà có gọi điện thoại mời hắn đến uống trà trò chuyện. Hắn không thích lắm nhưng có cô gái ra mời khách, nghe mấy tiếng “Mời chú ạ!” ngọt như đường, hắn đâm ra mong được nghe cô mời trà để ngắm hai bàn tay búp măng, trắng tinh, dịu dàng.
Một lần nhân chủ nhà vô ý, hắn nhìn quanh tìm cô ta thì y như rằng, cô đăm đăm nhìn lại và tặng hắn một nụ cười. Hắn chới với, ngất ngây như say rượu. Một nụ cười đẹp hơn tất cả các nụ cười trên thế gian. Cả tuần lễ sau, hình ảnh người đẹp cứ ở mãi trong đầu hắn. Nhưng hắn đã lớn, lại ở tù ra nên chín chắn chuyện đời chứ không bộp chộp như mấy cậu thanh niên. Giá như hắn tốt nghiệp đại học Mỹ, có job thơm, hắn đã đường hoàng nhào vô một cách tự tin. Về ngoại giao thì hắn đã có chút cảm tình của ông bà rồi, đối với cô ta, nếu không mặc cảm hắn đâu có khù khờ, ú ớ như bây giờ. Thế nên tim hắn rung động nhưng đầu óc hắn tỉnh táo. Hắn dặn lòng “Yêu thì cứ yêu cho đời có chút hương vị, nhưng chớ dại mà biểu lộ cho người ta biết, chắc chắn bị từ chối, lại rước thêm cái xấu hổ vào thân. Nhớ nhé! ”
Cho đến một buổi sáng, hắn nghe điện thoại reo:          

- Thưa chú, ba mạ cháu mời chú qua uống trà.
Các cô gái Huế mà pha giọng miền Nam nói chuyện thì nghe như chim hót, ngọt ngào, ngây thơ không thể tả. Hắn giả giọng Huế hỏi lại: 

- Chớ ba mạ cháu ở mô rứa?   

- Dạ, ở nhà. 
- Còn cháu ở mô? 
- Dạ, cũng ở nhà.                                                                 

- Rứa là biết rồi hỉ. Cám ơn cháu, chú qua ngay bây chừ.
Hắn tự hỏi, tại sao ông bố không gọi mà để cô gái gọi hắn? Khi hắn đến, mọi việc vẫn như trước, người đẹp ra mời trà, rồi chuyện trên trời, dưới đất với ông bà. Khi giã từ, bà lại hỏi:
- Bà cụ có mạnh khỏe không?
- Dạ, cám ơn. Những người lớn tuổi không bịnh nầy thì bịnh kia. 

Hắn tố thêm một đòn về gia cảnh của hắn: 

- Tôi đi làm không đủ tiêu, bà cụ phải giữ trẻ cho người ta. Tôi thật xấu hổ, không nuôi nổi mẹ.                      Tưởng ông bà sẽ dội ngược không ngờ lại hỏi địa chỉ và bảo sẽ đến thăm. Kể dài dòng chỉ thêm mất thì giờ. Đại khái họ đến thăm lúc hắn đi làm. Mẹ hắn chất phác nên gần như ông bà nắm vững gia phả và đời tư của hắn. Theo mẹ hắn kể, ông bà cứ suýt soa rằng hắn có hiếu, họ rất quí trọng những người con có hiếu. Ông bà cũng nói về gia đình họ, về cô con gái đã lớn mà không chịu lấy chồng. Cứ bảo sợ gặp người không tốt, bỏ cha mẹ già không ai săn sóc tội nghiệp. Mẹ hắn vừa kể vừa cười coi bộ hắn lọt mắt xanh của gia đình kia rồi. Hắn không nói gì, sợ mẹ buồn, nhưng hắn bắt đầu nghi ngờ về thái độ của họ. Họ có điên mới gợi ý gã cô con gái  xinh đẹp như hoa cho một thằng không ra gì như hắn. Còn cô ta, nếu bằng lòng thì thần kinh cũng không hơn gì bố mẹ.Nhưng rõ ràng, họ đã lộ ý rồi. Hắn đánh cờ tướng loại khá. Vì không biết ý định của ông bà, nên một lần được mời đến uống trà, hắn đánh nước cờ cầu may bằng cách báo với họ ý định sẽ đi tiểu bang khác làm ăn, ở đây sống khó khăn quá (Hắn chuẩn bị đi thực). Xong hắn chờ đối phương đi nước cờ “tiếp chiến”. 
Hôm đó, chủ nhật đầu năm, cộng đồng Việt Nam có lệ chào quốc kỳ (Việt Nam Cộng Hòa) trước chợ Eden (tiểu bang Virginia). Tối thứ bảy, đi làm về, hắn được điện thoại của mẹ cô gái gọi: 
- Sáng mai Tuấn có đi chào cờ ngoài Eden không?
- Dạ cháu cũng chưa có ý định, phải đưa bà cụ đi chợ, e trễ mất.
- Tuấn cố gắng đưa bác và em Mai ra Eden, sáng mai lúc 9 rưỡi. Xe của em bị hư, còn ba nó phải ra sớm, chuẩn bị trước cho buổi lễ.                                                             

- Dạ, cháu sẽ cố gắng đưa bác và cô Mai ra đúng giờ.

Nước cờ đến đây đã rõ mục đích. Họ đẩy cây xe ngon lành (cô gái) đến trước miệng con chốt (là hắn), nhưng nguyên nhân vẫn còn trong vòng bí mật. Ông bố đã lùi một bước để bà mẹ đứng ra đạo diễn, rủi thất bại cũng giữ được tướng an toàn. 
Sáng đó, thấy hắn ăn mặc tươm tất, mẹ hắn lại cười. Đàn bà nhạy cảm chuyện nầy lắm, huống gì đó là một bà mẹ. Bà biết hắn đã yêu cô gái. Chính hắn cũng không hiểu mình yêu cô ta từ lúc nào. Tình yêu không đến trực tiếp từ cô gái mà đi vòng từ bố mẹ cô ta. Hắn không cần biết nguyên nhân, nhưng sự sắp xếp của họ khiến hắn cảm động và hắn tin chắc rằng sự sốt sắng đó đã được thúc đẩy từ cô gái cưng của họ. Nhưng hắn với cô ta đâu có tình ý gì với nhau bao giờ?

Đến nơi hắn để hai mẹ con vào đứng với đồng bào. Hắn thối thác chào quốc kỳ. Khi mới đặt chân lên đất Mỹ, lần đầu thấy lại lá cờ vàng ba sọc đỏ, hắn đứng khóc ngon lành như một đứa trẻ. Ngày Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, hắn cũng khóc cả buổi mà không hiểu sao lòng mình tan nát đến như vậy. Thời đi học, mỗi đầu tuần đến trường, hắn đã chào cờ, hát quốc ca... Tình yêu nước đến lặng lẽ trong tim hắn theo thời gian như tình yêu thương mẹ, khi mất nước, mất mẹ mới thấy mình bơ vơ. Kẻ mất nước như người mất hồn, như người thất tình. Thế nên hắn sợ mọi người thấy hắn ứa nước mắt khi hát quốc ca. Một lý do nữa là hắn nghĩ. Đứng cạnh cô thì thích quá rồi, nhưng rủi cô xích ra xa hoặc bỏ đi chỗ khác thì có nước độn thổ mới hết nhục. Ông bà có tử tế với hắn nhưng chuyện cô yêu hắn là viễn vông, vô căn cứ. Cho nên khi nghe hắn bảo sợ bị xúc động khi chào cờ phải đi tránh chỗ khác, bà mẹ thông cảm nhưng cô gái xụ mặt lại. Thấy cô như giận, hắn mừng trong bụng, muốn đổi ý nhưng đã lỡ rồi nên đành vào một tiệm sách tìm đọc vớ vẩn gì đó nhưng hồn vía để cả vào người đẹp ngoài kia. Nghe chào cờ xong, hắn đi ra, định lò dò theo trò chuyện với cô gái nhưng mẹ cô lại nhờ hắn đưa bà về sớm, còn cô gái thì ở lại với bố. Hắn đành vâng lời. Về đến nhà, bà mẹ lại bảo hắn vô nhà nhờ chút chuyện. Hắn lại vâng lời. Hắn ngồi ở phòng khách. Chẳng cần rào đón, sau khi hỏi hắn sẽ đi tiểu bang nào, ngày nào đi? Đột nhiên bà vào thẳng vấn đề. Bà nói về cô con gái hiếu thảo của bà vất vả, tần tảo để thăm nuôi bố trong tù. Qua xứ Mỹ, nói gì cô cũng không chịu lấy chồng, sợ bỏ cha mẹ già không ai săn sóc. Cô ra điều kiện chỉ lấy người có hiếu với cha mẹ thôi. Nay thấy hắn thương mẹ, cô tỏ ý vâng lời. Hắn nghe mà tưởng mình nằm mơ. Đời nay mà có cha mẹ hạ mình năn nỉ gã con gái xinh đẹp, nết na cho một thằng chẳng ra gì như hắn!? Hắn biết ông bà sốt ruột thật vì cô gái đã lớn mà cứ ở vậy, nhưng lý do chữ hiếu hình như là cái cớ thôi, chứ nguyên nhân nội vụ thì chưa rõ. Thế nên hắn xin phép bà được gặp riêng cô Mai để nói chuyện thông cảm nhau trước khi hắn nhận ân sủng đó. Bà mẹ chịu liền.
 
Thế rồi một buổi chiều, hắn đến gõ cửa, cô ra mở cửa. Cô chào hắn mà không cười, vẻ mặt nghiêm trang, nhưng hắn nhận được từ đôi mắt cô những tia nhìn như reo vui.
- Chào chú ạ!
- Chú đến thăm Mai.                                                            

-Dạ,mời chú vào.                                                                                             

Cô lùi lại, hắn bước vào, cô gần như đứng sát bên hắn. Cô mặc một bộ đồ lụa trắng, hơi rộng nên trông thướt tha. Mặt cô bầu bỉnh, có đánh chút phấn hồng, mắt đen nhánh. Vì cô thấp hơn hắn nên khi cô ngước nhìn, đôi mắt cô đẹp hết sức, vừa long lanh vừa như ngạc nhiên điều gì.  
- Có ông bà cụ ở nhà không?
- Dạ không. Mời chú ngồi.   
 Cô ngồi đối diện. Cô rót trà rồi mở hộp bánh ra:
 - Mời chú!
 Hắn cầm tách trà lên nhấm nháp rồi làm bộ suýt soa như bị nóng lắm. Bấy giờ cô mới cười:
- Trà còn nóng, cháu vừa mới pha.
Hắn cầm tách trà nửa chừng và nhìn cô. Cô cúi mặt xuống. Chúa ơi!  Cô đẹp thế kia, trong trắng thế kia sao lại chịu đi bên cạnh cuộc đời bầm dập của hắn được? Thật khó tin!
- Mai biết vì sao chú đến thăm Mai không?
- Dạ không.
- Thế mạ có nói chuyện nầy với Mai không?
- Dạ có. 
Không khí như căng thẳng, hắn phải sửa giọng nhẹ nhàng hơn: 
- Chú xin lỗi đã làm Mai bối rối. Bây giờ chú đề nghị thế nầy, mình kể chuyện linh tinh gì đó cho vui. 
- Dạ
- Trước hết chú kể chuyện của chú cho Mai nghe. Chú học hành chánh, ra trường làm phó quận được hơn một năm thì đi tù 6 năm. Ra tù chú làm đủ nghề đạp xích lô, bán vé số... Qua đây chú đi làm trong tiệm McDonald. Kể ra thời đi học có vui chút đỉnh, đi làm cũng vui nhưng sau đó chán ngấy, hết đi tù thì làm những nghề mạt hạng, qua Mỹ, cũng chẳng khá hơn. (Hắn rào đón trước) Một mình, kiếm sống còn vất vả, họa chăng có cô nào điên mới chấp nhận sống với chú.   
- Cháu thấy, ở đây, có nhiều cặp vợ chồng cũng lao động chân tay mà vẫn sống đầy đủ, hạnh phúc.     
- Mai nói vậy, sao Mai vẫn sống độc thân?
 - Sau năm 75 (1975), cháu chưa đến tuổi trưởng thành thì bị họa mất nước. Tảo tần vì đời sống, lo thăm nuôi ba trong tù hơn chục năm, tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện yêu đương. Qua Mỹ, vì cuộc sống, cháu cũng phải đi làm. Sáng đi, chiều về, chẳng có thì giờ tiếp xúc với ai mà nói chuyện lập gia đình.                                        
Rồi cô lắc đầu, trầm ngâm:
- Thực ra, lòng cháu đã nguội lạnh từ lâu rồi, chẳng có ai làm cháu xao xuyến.
- Chú đoán. Hoặc Mai đang mang một mối tình câm, hoặc đã bị phụ tình. Đúng không?                
Cô ngước nhìn hắn vẻ bí mật:  

- Cháu bị cả hai, nhưng không bị phụ tình. Bị người ta “vô tình” thì đúng hơn.  
Hắn làm bộ bất mãn:
- Tay vô tình nầy thật đáng trách, và cũng đáng tiếc nữa. Mai có thể cho cho chú tên người đó không?             
Cô nhìn hắn, buồn buồn:
 - Cháu đã gọi đó là “người vô tình” rồi mà!
- Vẻ buồn rầu của Mai làm chú nhớ lại ánh mắt của một cô bạn nhỏ ngày xưa, cũng nhìn chú lưu luyến khi chú từ giã cô ta để ra về. Chuyện đã lâu. Nay thì cô ta đã quên chú rồi!                      
Thấy buổi trò chuyện kéo dài mà không đi đến đâu, hắn quyết định từ giã:                     
- Chú đến thăm Mai, có lẽ là lần cuối. Ít hôm nữa, chú sẽ đi sang tiểu bang khác.           
Cô nhìn hắn, vừa ngạc nhiên vừa tức giận: 
- Vậy chứ mạ cháu dặn chú đến gặp cháu vì chuyện gì?  
Hắn bối rối:
- Mạ Mai bảo chú đến gặp Mai để biết rõ tình cảm của Mai đối với chú? Nhưng thấy Mai chuyện trò, tâm sự với chú như với người bạn nên chú không dám hỏi. Điều chú phân vân vì sao Mai để ý đến chú, có cảm tình với chú? Trẻ và đẹp như Mai, biết bao người xứng đáng với Mai. Sao Mai lại chọn chú? Vì không rõ lý do, nên chú không dám nhận những cảm tình của Mai ban cho chú.
- Cháu đã nói từ lúc nãy đến giờ mà chú vẫn không hiểu cháu. Cháu đã nói. Từ nhỏ đến lớn, cháu chỉ yêu một người thôi. Nếu không có vụ mất nước, cháu và người ấy đã nên vợ chồng từ lâu rồi. Đâu đến nỗi gần như suốt đời cháu phải đi khắp nơi tìm người ta. Nước Mỹ mênh mông...      
Rồi cô úp mặt vào hai bàn tay khóc nức nở, đôi vai run lên...Hắn ngồi chết sững:       
- Cho chú xin lỗi Mai. Thú thật. Đời chú quá vất vả. Chú không còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện tình cảm với ai. Tình yêu của Mai dành cho chú thật kỳ lạ. Giống như là một chuyện cổ tích.                                            Cô lau nước mắt: 
- Cổ tích sao được. Chú chờ cháu.  
Cô đứng lên, vào phòng một lúc rồi đi ra, tay cầm một tấm hình, trao cho hắn:             
- Chú xem đi!  Hình ai trong đó? 
Hắn ngạc nhiên kêu lên:
- Ôi! Hình chú đây mà! 
Đó là tấm hình hắn đứng vênh mặt trước trường Hành Chánh hôm tốt nghiệp. Sau tấm hình là câu (thề non hẹn biển) “Anh hứa yêu em suốt một đời”                                  

Cô hằn học:                   
- Chú chú, cháu cháu! Bộ xưng “anh” sợ bị lính bắt hay sao?
Hôm đám cưới, vợ chồng hắn phải đi từng bàn tiệc chào mừng, cám ơn quan khách, bà con, bạn bè. Mỗi nơi cô dâu chú rể phải uống với khách một ly rượu nhỏ. Vợ hắn chỉ thấm môi nên hắn phải uống hết. Nhiều ly nhỏ thành ly cối. Hắn không biết uống rượu nên say mềm. Bố vợ hắn cũng say. Ông say vì vui nên nói hơi nhiều. Khi khách khứa đã về cả rồi, ông đến bên cạnh, vỗ vai hắn lè nhè:
- Cụ mi rứa là tốt phước. Không có ai chung tình như con bé Mai của moa. Cụ mi biết không? Hắn hành vợ chồng moa đi tìm cụ mi chết xác luôn. 4 năm đi 4 nơi. Nam Cali tìm cụ mi, Bắc Cali tìm cụ mi, xuống Texas tìm cụ mi, qua đây tìm cụ mi.Chỗ mô moi cũng phải dẫn hắn tham gia cộng đồng, các buổi hội họp để tìm cho ra cụ mi. Hắn nói moa có hứa với cụ mi rồi thì phải tìm cụ mi cho hắn. Nhưng moa có nhớ hứa hẹn gì, khi mô đâu? Mà vợ chồng moa đâu biết cụ mi là ai, mặt mũi ra răng. Tấm hình cụ mi chụp tặng hắn, đã mấy chục năm, có ai trẻ mãi không già? Rứa mới chết chớ!  Rứa là gặp đứa mô cỡ tuổi cụ mi cũng rước về nhà cho hắn nhận diện. Cũng may! Hắn còn đòi đi Canada và Úc tìm cụ mi nữa đó. Mà moa nói có ai đi HO qua đó đâu?!


Đáng lẽ, chuyện tôi kể còn dài, nhưng phải tạm ngưng ở đây, vì tôi nghe vợ tôi nôn ọe, ói mữa gì trong phòng tắm. Trăng mật cho cố, bây giờ ói mật xanh, mật vàng!  Tôi phải vào với cô ấy, xem sao!


Phạm Thành Châu 

Con Đường Phượng Tím Jackaranda - Người Phương Nam

Con đường phượng tím này là đường 7th avenue ở suburn tên Campsie là một khu dân cư đông đúc chớ không phải là địa điểm du ngoạn ngắm hoa dạo cảnh. Nhưng đặc biệt con đường thứ bảy ở đây từ bao giờ đã được trồng một hàng cây phượng tím, tuy quanh năm chẳng thấy gì đặc sắc, chỉ là những cội cây già đầy lá không bắt mắt một ai. Nhưng từ cuối tháng mười tới đầu tháng mười một, con đường này bỗng biến thành con đường thơ mộng đẹp nhứt trong vùng khi những chùm hoa chuông nho nhỏ yêu kiều bừng nở chi chít trên cành in lên nền trời xanh một màu tim tím huyễn mộng như sương khói, và mặt đường thì như được trải thảm hoa khiến ai đi ngang qua cũng không khỏi ngẩn ngơ đứng lại ngắm nhìn. 
Quả là tuyệt tác của thiên nhiên!



Một gia đình đi ngang ghé lại chụp hình


















Người Phương Nam

Saturday, November 8, 2025

Phiếm: Già Dịch - Hoàng Đức

 
Hình minh họa (internet)

Tôi hoàn toàn mù tịt về xuất xứ của hai chữ "Già Dịch". Chẳng biết danh từ kép này do ông, bà nào "sáng chế" ra để miệt thị những đấng liền ông ít nhất cũng đến tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh" chứ dưới năm mươi thì ai dám gọi là lão già.

Đấy là tôi nói đến cái chữ "già" theo như quan niệm tuổi tác ngày nay chứ như thời xa xưa lúc nền y học đang còn phôi thai thì mấy ai sống thọ đến tuổi năm mươi. Chẳng thế mà trong sách truyện ngày xưa khi mô tả một người đàn ông ngũ tuần thì bao giờ cũng là: "một ông hay lão già trạc tuổi năm mươi" hay trang trọng hơn thì sẽ là "một lão trượng tuổi ngoài năm mươi" hoặc là trong các bài luận văn của học trò bậc tiểu học: "Nhà em có "nuôi" một ông nội tuổi năm mươi".

Các vì vua chúa của ta và Tàu cũng thế, dù hưởng không biết bao nhiêu là của ngon vật lạ trên đời, phục dụng không biết bao nhiêu là phương thuốc thần diệu mà rốt cục cũng chẳng mấy vị sống quá năm mươi. Có lẽ vì ông vua nào cũng xài phương thuốc của vua Minh Mạng nước ta: "Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử" nên sức lực chóng hao mòn và ông nào cũng muốn "thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt", nhấn hết ga, tận hưởng lạc thú trên đời cùng tam cung lục viện nên ông vua nào cũng chóng già dù cố gắng kéo dài tuổi thọ bằng cách sai người đi tìm thiên niên hà thủ ô hay thiên niên tuyết sâm hay linh chi thảo, các vị thuốc hiếm quý trong truyền thuyết. Thời xa xưa, tuổi thọ thật ngắn ngủi nên mới có câu "thất thập cổ lai hy".

Bây giờ, với tiến bộ của y học, tuổi thọ của con người đã gia tăng quá sá quà sa, so với thời xưa. Chỉ cần lật báo hàng ngày, tò mò đọc các cáo phó sẽ thấy ngay các cụ quy tiên đa số đều quá tuổi bảy mươi, thậm chí có vị còn vượt qua con số trăm năm trong cõi người ta. Phải dài giòng văn tự loạn bàn về "cái già sồng sộc nó thì theo sau" như thế để thấy rằng bây giờ muốn gọi ai bằng ông già thì ít nhất người đó cũng đang đi trên đường số 7. Dĩ nhiên trong hạng tuổi này có cụ vẫn còn phong độ và nhất định bảo đối tượng đừng gọi anh bằng chú.

Tôi có ông bạn tuổi đời 6 bó, thân thể còn tráng kiện, mặt mày phương phi, quắc thước, dáng dấp còn "ngon cơm" lắm, chỉ phải cái tội lười biếng không chịu làm đẹp, níu kéo tuổi xuân "bán nguyệt nhất kỳ đáo thẩm mỹ viện", nửa tháng một lần đến mỹ viện nhuộm tóc nên mới thoáng nhìn sơ qua, ai cũng biết là tuổi không còn "xoan" nữa. Lúc về thăm quê hương, một hôm, sau khi chễm chệ trên xích lô dạo chơi thành phố, nơi chôn nhau cắt rún, lão ta nhảy xuống xe, trong bụng nghĩ là phải "bo" cho anh chàng đạp xe một ít tiền xài chơi nên hỏi anh chàng bao nhiêu tiền cuốc xe vừa rồi. Anh chàng đạp xe kính cẩn thưa:

"Ôn cho bao nhiêu cũng được."

Dân Huế, chỉ dùng chữ "Ôn" để gọi các cụ già khú đế, gần đất xa trời vì thế ông bạn tôi lòng hậm hực, không vui và tiền "bo" bị giảm bớt khá nhiều theo như ông ta thuật lại cho tôi nghe. Phải chi anh chàng đạp xe xích lô bảo là "Anh cho em bao nhiêu cũng được" thì chắc chắn là có món tiền "bo" lớn rồi. Ông bạn tôi như vậy là đã lọt vào danh sách của những ông già dịch rồi đó, quý vị có biết không?

Già, là bắt buộc, dù không thành văn tự, trên dưới 60 tuổi đời. Còn "dịch" thì thật là thiên hình vạn trạng vì trên đời có rất nhiều thứ dịch như dịch tả, dịch hạch, dịch cúm người và hiện nay là dịch cúm chim vv....Tôi dịch y chang chữ "bird flu", xin quý vị đừng xuyên tạc chữ chim nhé. Tiếng Việt Nam ta vốn giàu nên chỉ có một sự vật mà có thể dùng không biết bao nhiêu từ ngữ để diễn tả. Vậy để được mang danh là "già dịch" các lão già phải có những hành vi hay ngôn từ mang không nhiều thì ít tính chất "dịch" trong đó mới xứng đáng với hai chữ có tính cách miệt thị nhưng đôi lúc cũng là một lời mắng yêu, rất dễ thương và xúc động lòng già khiến cho "bần đạo thấy phơi phới trong lòng".

Thử tưởng tượng được một kiều nữ mắng: "cái anh già dịch này nữa..." kèm theo một cái nguýt mắt dài bằng một cây số thì dù bạn đang đi trên đường số 6, số 7 hay số 8, tôi chắc bạn cũng sẽ động lòng xuân mà nhoẽn miệng cười phô hàm răng trắng bóng đều đặn như hạt bắp Cồn xứ Huế vì người già ở Mỹ ai cũng được quỹ an sinh xã hội tặng cho một hàm răng để cười với đời, cười thôi, chứ dùng răng này ăn không ngon bằng nhai với hai hàng nướu trần.

Thật khó xác định như thế nào thì gọi là "già dịch". Cũng những ngôn từ đó, những hành vi đó, nhưng xuất phát từ một thanh niên thì không bị buộc tội là "dịch". Trái lại nếu là một trưởng lão thì lại bị mắng là "già dịch". Đúng là không công bằng! Không còn gì là "kính lão đắc thọ" hết. Thời đại văn minh nên tôn ti trật tự trong xã hội bị đảo lộn tùng phèo! Thôi thì cũng đành chịu vậy!

Thông thường, theo ngâm cứu vừa sâu vừa rộng của tôi, (chứ không phải "sâu sát" như ngôn ngữ của mấy ông ngoài Bắc) hai chữ "già dịch" nhắm vào những ông già có hành động và ngôn từ mang tính chất trăng hoa, trai gái, bờm xơm kiểu "ông thầy", những hành động và lời ăn tiếng nói liên quan đến vấn đề "sex" (nhập gia tuỳ tục, nhập giang tuỳ khúc, mình qua xứ Mỹ nên xài tiếng Mỹ cho vui đời tỵ nạn) hay nôm na văn chương hoa lá cành là những vấn đề liên quan đến tình dục. Tỷ dụ như một anh già bảy mươi lò mò về Việt Nam nhờ mối mai, quăng tiền dollars ra để dụ dỗ gái tơ hay cưới vợ bé, vợ mọn thì chắc chắn một ngàn phần trăm sẽ bị gọi là "già dịch" không chạy trốn đi đàng nào được hết. Kể ra thì cũng khổ cho mấy ông già còn động lòng xuân, tuy tuổi già nhưng tâm hồn còn non trẻ. Ngày xưa, cụ Nguyễn Công Trứ gặp gái tơ trên cánh đồng trống đã khai báo lý lịch tuổi tác là: "Ngũ thập niên tiền nhị thập tam" đâu có nghe ai dám bảo cụ là "già dịch" đâu mà trái lại còn khen ông cụ có số đào hoa, bay bướm, phong lưu mã thượng.

Tuổi tuy già mà chưa cần đến các loại thuốc trợ lực như rượu thuốc ngâm tắc kè, rắn mối, rắn hổ mang, cóc nhái, ễnh ương hay hải cẩu bổ thận hoàn, sâm nhung, Viagra, Cialis, thì tại sao lại không cho mấy ông già này tiến thêm một bước nữa mà lại bắt mấy lão ta phải dậm chân tại chỗ chờ ngày thường xuyên thấy quả lắc đồng hồ ngày đêm miệt mài chỉ 6 giờ. Thế có phải là bất công không?

Thiếu gì trường hợp "Lão bạng sanh châu!" Nói thế thôi, chứ mấy ông cụ này chỉ hăng tiết vịt một đôi lúc thôi, chứ đa số chỉ đốt pháo xì, đạn dược lép cả rồi nên vì vậy mới bị mắng là "già dịch". Các ông già này dù cho có xài hỗn hợp Viagra cọng thêm rượu thuốc Minh Mạng thì cũng không thể nào "nhất dạ lục giao sinh thất tử" được. Quý vị thường nghe "sinh ngũ tử" chứ chưa bao giờ nghe "sinh thất tử" vì quý vị quên rằng y học ngày nay tiến bộ vượt mức, nếu kết hợp Đông Tây y vào với nhau thì lục giao rất có thể sinh 7 nhóc con vì có một lần sinh đôi. Quý vị không tin tôi ư ? Ngày nay, các người hiếm muộn đến gặp các bác sĩ chuyên khoa sẽ được họ đề nghị cho một cặp sinh đôi tức là "mua một biếu một" chỉ trả tiền cho một lần giúp thụ thai mà sinh được một cặp trai hay gái tuỳ thích. Thế thì có phải là lục giao sinh thất tử không nào?

Trên đây là một loại già dịch rất phổ thông đại chúng. Còn nhiều loại nữa vì chữ dịch mang rất nhiều biến thể. Tôi xin kể hầu quý vị một loại dịch khác:

Số là có hai ông già Việt Nam ngồi nhấm nháp trong một tiệm ăn, thấy cách đó mấy bàn một cô gái mắt xanh, tóc vàng đang ngồi xô lô. Hai ông bèn hứng chí phê bình văn nghệ, văn gừng vung vít bằng tiếng mẹ đẻ, bàn loạn lung tung về núi đồi sông lạch của thiếu nữ hơ hớ tuổi xuân. Một lát sau, thiếu nữ khi rời quán hàng, đi ngang chỗ hai ông già ngồi, đã đứng lại phán rằng:

"Hai bác ăn nói trây quá! Già không nên nết, đúng là già dịch!"

Hai lão già thiếu đường cắt mặt quăng cho chó gậm vì nãy giờ tưởng thiếu nữ là Mỹ chính gốc hay ít nhất cũng là Mễ trắng ăn đậu quanh năm, ai dè cô ta là dân Việt đeo contact lense màu xanh da trời, và nhuộm tóc blonde.

Câu chuyện thật 100%, hai ông già này hiện đang chơi Tennis với người kể câu chuyện tiếu lâm tân thời này. Dân Viêt Nam ta ở bên Tây, thuở chưa có ngày 30 tháng Tư, lúc mà dân Việt Nam ta chưa sinh sống nhiều ở ngoại quốc như ngày nay, thường cuối tuần hay tụ tập tại tiệm ăn để tha hồ văng tục vô tội vạ bằng tiếng mẹ đẻ để xã soupape, để vơi đi ẩn ức tình dục và để ôn lại ngôn ngữ của quê hương sợ một ngày nào đó quên mất tiếng mẹ đẻ. Hai ông già dịch trong câu chuyện trên đây cũng đang xã soupape, không ngờ lại bị tổ trác, ngậm đắng nuốt cay, có miệng mà như ngậm hột thị chẳng nói năng gì được trước mặt cô gái mang hai giòng máu Việt Mỹ trong người mà máu cha mạnh hơn máu mẹ nên mới làm cho hai ông già mắc mớp.

Cũng là "già dịch" nhưng dễ thương hơn, tức là thành phần "trí thức" hơn, thưòng hay tụ họp nhau để ăn uống, tán láo và ôn lại những kỷ niệm thời xa xưa, tán gái cua đào, lăng nhăng đủ ba mươi sáu thứ chuyện trên trần thế, nhắc lại chuyện xưa tích cũ đại loại như là:

"Tao mới gặp con XYZ, trời ơi, ngày xưa nó đẹp như thế, tau mê nó như điếu đổ thế mà ngày nay tau không thể ngờ nhan sắc tàn phai thảm hại khiến tau phải tự bảo từ nay nhất định không muốn tìm gặp lại cố nhân nhan sắc một thời để khỏi phải ngậm ngùi tiếc thương."

Lão già phát ngôn như trên, cùng một trang lứa với tôi, lão ta ngậm ngùi vì vết thời gian hằn rõ nét trên gương mặt giai nhân nhưng lão ta quên nhìn mình trong gương để thấy rằng thời gian cũng đã không buông tha cho lão ta. Đúng là thấy người mà không ngẫm đến ta. Nhưng đấy mới là cái dễ thương của ông bạn già, ông chỉ nghĩ đến tha nhân mà quên bản thân. Nhưng ông ta vẫn bị gán cho hai chữ "già dịch" nếu có người nghe được những phát ngôn của ông liên quan đến một vấn đề mà người ta không muốn cho những ông già tuổi ngoại lục tuần bàn loạn đến vì đã qua rồi cái thời vàng son tuổi ngọc mộng mơ. Thật là bất công không thể nào nói hết được! Tức chết đi được mà phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ bây giờ về than thở với vợ ư? Đừng có chơi dại mà tâm sự với vợ về những chuyện này. Chắc chắn 100% là sẽ không được thông cảm mà trái lại còn bị nguýt xéo kèm thêm một tiếng "hứ" kéo dài như còi xe lửa và sẽ vuốt mặt không kịp với hai chữ "già dịch" tuôn ra ngay lúc đó.

Tôi tự hỏi tại sao chỉ có lũ đàn ông chúng tôi bị mắng "già dịch" mà các bà thì lại "bình an như người lành dưới thế" Hoạ hoằn lắm mới nghe được 3 chữ: "bà già giết giặc", nhưng ý nghĩa miệt thị nhẹ nhàng hơn nhiều.


Riêng tôi, tôi chỉ thích được nghe mắng yêu, đặc sệt giọng Nam Kỳ Quốc: "Thật là cái anh dịch dzật gì đâu...!" Nghe ra âu yếm làm sao! Quý vị có đồng ý với tôi không? Nếu đồng ý thì cố gắng đi kiếm cho ra người có thể mắng bạn như thế cho lòng xuân phơi phới, thấy mình vẫn còn đường tương chao tức là còn nước, còn non, còn cô bán rượu anh còn say sưa.


Hoàng Đức