Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, September 23, 2026
Miss World 2026 Fashion Fest FULL SHOW | Best Looks, Runway & Standout Moments
Họ Đi Vào Bóng Tối Rồi Không Ai Gọi - Phạm Sơn Liêm
Sáng Lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Lê Thanh Xuân lái
xe đến nghĩa trang.
Nghĩa trang nước Mỹ rộng mênh mông.
Những hàng cờ nhỏ cắm bên từng ngôi mộ.
Những bó hoa.
Những người đứng lặng.
Có người đặt tay lên bia đá.
Có người cúi đầu.
Có người khóc.
Xuân đi chậm giữa những hàng mộ.
Ông không tìm tên ai.
Ông chỉ đứng đó.
Lặng im.
Bởi hôm nay, người Mỹ tưởng niệm những chiến
sĩ đã nằm xuống vì đất nước họ.
Còn Xuân …
ông nhớ đến những người của mình. Những người
lính Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt là những người bạn trong đơn vị Nha Kỹ Thuật.
Những toán viên các đơn vị công tác xâm nhập vào vùng địch.
Những người đi vào nơi không ai muốn đi.
Những chuyến đi không có tiếng kèn.
Không có hàng quân danh dự.
Không có vòng hoa.
Không có cả một lời tiễn biệt đàng hoàng.
Có người lên đường trong đêm.
Một chiếc máy bay.
Một chiếc trực thăng.
Một chiếc radio.
Một khẩu súng.
Một mật hiệu.
Và vài người biết họ đi đâu.
Nhiều khi… chỉ có vài người biết họ có tồn tại.
Xuân đứng trước một ngôi mộ của một người
lính Mỹ.
Ông đặt bó hoa xuống.
Rồi khẽ nói:
— Anh nằm đây có tên.
— Còn mấy thằng bạn tôi…
Ông ngừng lại.
— Nhiều đứa chẳng biết mình nằm ở đâu.
Gió thổi qua những hàng cờ.
Xuân cúi đầu. Những thước phim từ từ chạy…
kéo ông trở về một buổi chiều rất xa.
Ngày ấy, trước một chuyến công tác, một người
bạn nói với ông.
— Đi chuyến này xong, về làm một chầu nghen.
Xuân cười.
— Mày lo về được rồi tính.
Người kia cười lớn.
— Tao mà không về, mày phải kiếm tao.
— Kiếm ở đâu?
— Thì… kiếm…
Cả toán 4 thằng cười.
Không ai nghĩ đó là lần cuối cùng họ cười với
nhau.
Rồi toán đi.
Có người trở về.
Có người không.
Có người mất tích.
Có người bị bắt.
Có người nằm lại bên kia biên giới.
Nhưng trong trí nhớ của Xuân …
họ vẫn còn nguyên.
Vẫn trẻ.
Vẫn mang chiếc ba lô cũ.
Vẫn quấn khăn nơi cổ.
Vẫn nhìn nhau trước giờ xuất phát.
Vẫn câu nói quen thuộc:
— Đi nghen.
Chỉ hai chữ.
Không ai nói:
“Vĩnh biệt.”
Bởi người lính ngày ấy không quen nói lời cuối.
Xuân ngồi xuống chiếc ghế bên nghĩa trang.
Ông lấy trong túi ra một tấm hình cũ.
Bốn người.
Rồi năm người.
Những khuôn mặt trẻ đến đau lòng.
Ông nhìn từng người.
Gọi từng tên.
— Mày…
— Mày nữa…
— Còn mày…
Đến người cuối cùng, ông im lặng.
Rất lâu.
Ông không gọi tên. Bởi cái tên ấy đã nằm quá
sâu trong tim.
Nước mắt chảy xuống.
Xuân lấy tay lau.
— Tụi mày thấy không?
— Người Mỹ còn có một ngày để nhớ đến những
người đã chết.
Ông cười buồn.
— Còn tụi mình…
— Ai nhớ?
Gió vẫn thổi. Những lá cờ Mỹ bay phấp phới.
Xuân nhìn lên trời. Trong khoảnh khắc đó, ông không còn thấy nghĩa trang nước Mỹ
nữa.
Ông thấy một vùng rừng.
Một bãi đáp.
Một chiếc trực thăng đang bay thấp.
Khói.
Lửa.
Tiếng súng.
Và những người bạn của ông.
Những toán viên Nha Kỹ Thuật. Những người từng
bước qua chiến tranh trong im lặng. Họ không cần người đời biết hết những gì họ
đã làm.
Có những công việc… càng bí mật càng tốt.
Có những chiến công…
không thể ghi vào báo chí.
Có những người… đến tên thật cũng không được
gọi trong lúc thi hành nhiệm vụ.
Nhưng họ đã đi.
Đã chiến đấu.
Đã chịu đựng.
Và có người đã không trở về.
Xuân gấp tấm hình lại. Ông đứng lên.
Trước khi rời nghĩa trang, ông quay lại nhìn
những hàng bia trắng.
Ông nói rất khẽ:
— Hôm nay tôi nhớ các anh.
— Không chỉ những người nằm ở đây.
— Mà cả những người nằm lại trên quê hương Việt
Nam.
Ông ngừng một chút.
— Đặc biệt là các toán viên của Nha Kỹ Thuật.
— Những người đã đi vào bóng tối…
— rồi biến mất trong bóng tối.
Xuân cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống.
Giọt nước mắt cho quê hương.
Giọt nước mắt cho bạn bè.
Là giọt rơi khi gọi tên nhau…
không còn ai thưa.
Đứa còn.
Đứa mất.
Đứa lưu lạc phương nào.
Tóc bạc hết rồi.
Mà lời hẹn ngày xưa… vẫn còn bỏ dở.
Xuân bước đi. Sau lưng ông, những lá cờ vẫn
bay.
Ông biết mình không thể đưa những người bạn
trở lại.
Cũng không thể tìm hết những nấm mồ vô danh.
Nhưng ông còn nhớ.
Và đôi khi… đối với một người lính già, nhớ
được tên một người đã mất cũng là một cách giữ cho người ấy chưa bao giờ chết.
Một giọt chảy ngược vào tim.
Một giọt chảy xuôi theo năm tháng.
Và có những giọt nước mắt…
không bao giờ rơi hết.
Chúng ở lại.
Cho đến ngày người cuối cùng còn nhớ…
cũng nhắm mắt.
Phạm Sơn Liêm
Tuesday, September 22, 2026
Ma Thương, Cưới Khoái - Quianna Duyên Bùi
Quianna Duyên Bùi sinh trưởng tại Saigon, sang Mỹ định cư năm 17 tuổi, và hiện cư ngụ tại Bắc California. Cô từng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục. Đây là lần đầu tiên cô tham gia Viết Về Nước Mỹ. Bài viết kể về hai sự việc trong sinh hoạt đời thường- đám tang và đám cưới dưới cách nhìn chan chứa tình người của tác giả.
***
Mới
vào hè, tôi có dịp đi dự đám cưới của một đứa cháu gái và đám ma của một cô
giáo trong trường tôi. Cả hai đám đều có những điều đáng nhớ; chỉ khác nhau
chăng là yếu tố năng lượng đem đến cho người tham dự: đám cưới đem đến không
khí rộn ràng và tươi vui, trong khi đám ma diễn ra trong trang nghiêm và tĩnh lặng.
Lúc này ngồi viết lại, lòng tôi vẫn còn nao nao.
Đám Cưới
Đám cưới được tổ chức ngoài sân golf của một Câu Lạc Bộ Đồng Quê, cỏ xanh rì, trời xanh biếc, gió mát hây hây, nhìn xuống thấy thung lũng hoa vàng thật là tươi thắm. Lúc ấy tôi giật mình ngẩn người ra say sưa ngắm, thung lũng điện tử nơi mình sống thật sự vẫn rất xinh tươi với những cánh đồng vàng hoa cải trời, mà chỉ vì mình cắm đầu vào công việc “nên em chưa thấy xuân về đấy thôi”. Nay xuân đã qua và trời đang vào hạ, mình mới nhìn ra món quà mà đất trời trao tặng, bèn mở mắt thật to, cố đón nhận cho trọn vẹn.
Bước vào hàng ghế ngồi, cầm tờ chương trình trên tay lẩm nhẩm đọc, tôi thấy in tên cô dâu, chú rể, rồi phù dâu, phù rể, và có phù rể chính, Best Man, và phù dâu chính… Ủa, nhưng sao phù dâu chính lại để là Man of Honor chứ không phải Maid of Honor? "Bà mẹ quê" này bèn khều khều con trai ngồi hàng trên hỏi khẽ:
- Không lẽ thiệp đẹp và quan trọng như vầy mà họ lại in sai, để có cái lỗi to tổ chảng thế sao hả con?
Con trai thì thào giải thích:
- Đúng là “Man” đó, ảnh là bạn thân nhất của cô dâu nhưng ảnh là bong bóng (?), you know.
À ra thế, hiểu rồi, khổ thân thằng bé, cố gắng nói tiếng Việt cho “mấy người lớn” hiểu. Trước khi nhạc tà...răng...tăng...tăng trỗi lên, hai đoàn phù dâu, phù rể ngời ngời tiến ra để nghênh đón cô dâu, chú rể. Kìa, mình thấy anh phù dâu chính rồi! Anh ấy tròn tròn, đi đầu bên đoàn của các cô phù dâu, trông vô cùng duyên dáng trong bộ com-lê màu hồng phấn, cùng màu với áo váy của các cô. Anh ấy thật nhanh nhẹn, chăm sóc cô dâu và đám bạn phù dâu thật chu đáo, hòa nhã, đáng yêu với mọi người, không hề tỏ ra điệu bộ gì ẹo ẹo hết nha, và luôn khiêm tốn, tế nhị đứng lùi về phía sau một chút để không hút hết sự chú ý dành cho cô dâu trong buổi lễ.
Sau khi chú rể “nói câu thề nguyền” khá bài bản và nghiêm trang, thì cô dâu đã tỉnh bơ phán những câu khiến cử tọa ai cũng cười nghiêng ngả. Tôi nhớ loáng thoáng, xin ghi lại đây cho vui.
- I vow to love you, to be fair and honest with you - in video games as well as in life. Will you promise to protect me from spiders, rattlesnakes, and United Airlines staff, while loving me with all your heart? (Tạm dịch: “Em xin nguyện yêu anh, công bằng và thẳng thắn với anh trong trò chơi điện tử cũng như trong cuộc đời. Anh hãy hứa sẽ bảo vệ em trước lũ nhền nhện, rắn chuông, nhân viên của United Airlines, và “yêu em bằng nguyên trái tim anh”.)
Nội dung ‘thề nguyền” này đầy tính thời sự vì lúc đó vừa có vụ hành khách của hãng United Airlines bị nhân viên hung hãn lôi xềnh xệch xuống máy bay thật là khiếm nhã!
Rồi người ta bảo chàng rể bằng tiếng Anh:
-
Anh hãy hôn cô dâu! / You may kiss the bride.
Chàng bèn nâng mặt nàng lên hôn thật trìu mến. Nụ hôn vừa dứt, nàng đã hỏi ngay:
- Sao chưa thấy ai mời tôi hôn chàng? Quên tôi à?
Thế là “không để mất thì giờ quý báu của quan khách”, nàng mau lẹ nhón chân lên vin cổ chàng hôn một cái hôn hết sức tình tứ, ướt chèm nhẹp luôn.
Và
lúc đó, ở đâu bay ra một cái drone có gắn camera lượn vòng vèo thật
đẹp mắt trên đầu mọi người. Thì ra là anh phó nhòm đang dùng remote control để
điều khiển máy “wai phin” và “chộp hình”. Thấy của lạ, ai cũng ham, già trẻ lớn
bé gì cũng reo hò tở mở, vẫy cười toe toét, tạo dáng, làm duyên không biết mệt
mỏi.
Đám Ma
Duyên
đã đưa tôi vào nghề gõ đầu trẻ ở tuổi trung niên và nghiệp đã cho tôi gặp gỡ và
cùng học hỏi với hàng trăm thanh thiếu niên mỗi ngày trong một cuộc hành trình
12 năm.
“Để
đến hè” (…rồi sẽ đi khám bệnh, sẽ đi cắt tóc, sẽ đi làm răng, sẽ sửa nhà,
v.v..) là câu nói mà hầu như phần lớn các thầy cô giáo ở Mỹ - và có thể là ở
nhiều nơi khác - thường hẹn, thường khất cho công việc gì đó, hoặc cho chính bản
thân mình. Vì, quả thật, có lẽ bất cứ người thầy cô giáo yêu nghề nào cũng rất
sợ phải nghỉ giữa năm học, dù là để đi tu nghiệp, hội nghị, lo việc nhà, hoặc
lo cho chính bản thân. Tại sao thế? Có phải chăng vì mỗi khi vắng thầy cô thì
bao trẻ thơ sẽ mất bài vở, mất đà học tập, mất thói quen và nề nếp học mà cô thầy
đã khổ công giúp các em thiết lập.
Họa hoằn lắm mới có được một thầy cô giáo dạy thế là nhà giáo đã nghỉ hưu, nay
chỉ thỉnh thoảng vào giúp, mà lại dạy đúng môn của mình. Còn lại, đa số chỉ là
những người dạy thế vào trông giúp để giữ cho lũ trẻ bận rộn làm bài tập gì đó
cho qua ngày đoạn tháng và khỏi quậy banh lớp mà thôi. Thế nên soạn bài cho người
dạy thế thì phải kỹ lưỡng đến từng chi tiết, tốn gấp ba, gấp bốn lần thời gian
soạn bài cho chính mình, hy vọng người dạy thế sẽ giúp các em học được như ý
mình muốn. Bởi một khi học sinh đã có lỗ hổng kiến thức (mất căn bản), việc
học lên sẽ vô cùng khó khăn, nhất là ở các môn khoa học tự nhiên, nếu không may
mắn gặp được những bậc "đại sư phụ" đủ bản lĩnh và tận tâm để giúp
các em củng cố lại nền tảng.
Điều này khiến tôi chạnh nhớ và thầm biết ơn sự tận tâm của nhiều thầy cô thời trung học đã chấn chỉnh lại kiến thức vật lý, hóa học cho cấp lớp chúng tôi. Năm học 1974–1975 của chúng tôi phải kết thúc sớm vào đầu tháng Tư, khi chiến cuộc ngày càng khốc liệt. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi chẳng còn lòng dạ nào để nghĩ đến chuyện học hành. Đến tháng Chín, chúng tôi được lên lớp thẳng dù kiến thức còn dang dở. Thế là các thầy cô phải cặm cụi bù đắp lại những phần đã mất cho lũ học trò nhỏ. Dẫu thương học trò đến đâu, cũng có lúc các thầy cô phải thốt lên:
- “Mấy người” mất căn bản thê thảm luôn, “mấy người” ơi!
Ngày ấy, nghe thầy cô nói vậy, chúng tôi nhe răng ra cười với nhau. Bây giờ, tôi mới thật sự hiểu những tiếng than ấy chất chứa cả tấm lòng của người thầy.
Cô
Erika ở trường tôi là một trường hợp điển hình của cái điệp khúc “Để đến hè”
nói trên. Cô đau cái đầu gối đã lâu, từ sau Giáng sinh, nhưng cứ cố gượng, và hẹn
“để đến hè sẽ mổ”. Cô nhỏ hơn tôi hai tuổi, có ba con, gái đầu 20, trai
giữa 17, bị chậm phát triển, và gái út 14. Năm đó cô bơ phờ vì con trai bị
trầm cảm và có thể không đủ điểm các môn để tốt nghiệp trung học. Cũng may là
trường của con trai cô bế giảng trước trường chúng tôi một tuần và cuối cùng em
cũng xong xuôi. Những tuần cuối của năm học trông cô phờ phạc thấy rõ. Vừa thi
cuối học kỳ xong, còn một ngày nữa mới “đến hè”, thì cô phải nghỉ ngay để đi mổ.
Ngày
cuối cùng của năm học, tôi và các đồng nghiệp cùng bộ môn nhận được một tin nhắn,
ai nấy nghẹn lời: “Con là Susan, 14 tuổi, con gái út của cô Erika, dùng điện
thoại của mẹ con để báo tin cho quý vị biết… mẹ con vừa mới qua đời. Ba con sẽ
thông báo tin tức tang lễ ngay, trước khi mọi người đi nghỉ hè tản mác khắp
muôn phương.”
Thế
là ngay cuối tuần đó, chúng tôi đến viếng và tiễn cô ấy. Cũng là bãi cỏ
xanh rì và bầu trời xanh biếc. Một tấm bạt trắng dựng lên, những chiếc ghế trắng
xếp thành nửa vòng tròn quanh một chiếc bàn tròn nhỏ để tấm ảnh cô Erika gầy gầy,
mái tóc hoe đỏ dợn sóng xõa ngang vai, nét mặt hiền hòa, nụ cười quen thuộc, mặc
chiếc áo đầm vàng đơn giản. Tang quyến có khoảng tám người đứng bên chiếc bàn.
Tang lễ thật giản dị. Em gái, em rể, và hai cháu của cô Erika mở đầu bằng những
lời cầu nguyện, rồi đến những câu chuyện ghi lại những kỷ niệm lý thú của họ với
cô. Những giọt nước mắt nhẹ lăn xen kẽ với những tiếng cười. Con gái lớn của cô
đọc một bài thơ em viết cho mẹ qua màn lệ. Con gái nhỏ hát một bài, xen những
tiếng nấc, mà em đã hát thi chung với ban thanh nhạc ở trường để tặng mẹ. Con
trai giữa vốn bị tự kỷ, không diễn tả được cảm xúc của mình bằng lời, giơ lên tấm
tranh em vẽ về tình yêu của em dành cho mẹ rồi đến đặt bên ảnh mẹ.
Cuối cùng thì người bạn đời của cô bước lên và kéo ra cái giỏ kéo (roller bag) của cô và nói:
- Vật này hẳn không hề xa lạ với quý thầy cô đồng nghiệp của nhà tôi ở đây.
Chiếc giỏ kéo nghề nghiệp. Vâng, chiếc giỏ kéo đã theo gót các thầy cô giáo suốt quãng đời dạy học của họ. Đúng vậy, rất nhiều cô thầy dùng nó để “tha” đống bài vở, đồ đạc từ trường về nhà để chấm, soạn, rồi lại “tha” vào lớp để phát cho học trò. Lúc đó, trong tai tôi như chợt dội lên những tiếng bánh xe lạch cạch khi các đồng nghiệp của tôi và chính tôi kéo những chiếc giỏ trên những hành lang dài hun hút trong khuôn viên trường im vắng, khi bầy chim non đã bay về tổ ấm của các em…
- Đây là một trong những vật bất khả ly thân của nhà
tôi, chồng cô nói tiếp. Nó theo cô ấy vào tới bàn ăn, vô tận phòng ngủ, và cả
những chuyến đi chơi xa của gia đình. (Các thầy cô giáo đưa mắt nhìn nhau, chột
dạ quá, nghe có vẻ quen quen đối với chính bản thân họ!) Có lần, chúng tôi sắp
sửa để đi chơi hồ Tahoe và khi mọi thứ đã chất lên, đóng cửa xe xong, tôi rồ
máy, thì nhà tôi chồm dậy, bảo tôi ngừng lại và lật đật chạy vào nhà, lôi cái
giỏ kéo ra chất lên xe.
Chuyến đi thật vui. Trên đường, cô ca hát, đố chữ, chuyện trò với cha con tôi. Đến nơi, chúng tôi chèo thuyền, ăn uống ngoài trời, chơi bóng chuyền bên bờ hồ suốt một ngày. Tối về, ai nấy mệt nhoài, chắc hẳn sẽ ngủ thật ngon. Nửa khuya, tôi chợt thấy lành lạnh, thức giấc, trở mình không thấy nhà tôi bên cạnh, nhìn lên, tôi thấy cô ấy ngồi đó bên chiếc bàn, đối diện cửa sổ, trông ra mặt hồ. Tách cà phê một bên, cái giỏ kéo một bên, cô cứ lần lượt lôi ra từng xấp bài vở, đọc và chấm từng trang, từng trang. Ngoài kia, ánh trăng sáng vằng vặc, xuyên qua hàng thông, soi lên mặt hồ lấp loáng.
Các khách đến viếng lắng nghe đầy xúc động như thể hình dung ra phần nào đêm yên tĩnh của hồ Tahoe mà trong đó cô giáo Erika dáng nghiêng miệt mài bên chiếc đèn với ánh sáng hắt vào xấp bài vở cô đang chấm. Chồng cô ngưng vài giây như dằn cảm xúc trước khi nói tiếp:
- Hôm qua dọn dẹp bàn phấn nơi nhà tôi thường ngồi chải tóc vội vàng mỗi sáng trước khi đến trường, tôi thấy lọ dầu thơm hoa hồng của cô hẵng còn một ít đây. Tôi đã xịt lên áo mình và các con để lát nữa, khi người thân và bạn bè của Erika ôm và chia sẻ nỗi niềm này với chúng tôi, thì sẽ thấy như Erika vẫn ở bên chúng ta.
Nói đến đây ông nghẹn ngào đưa vội tay lên che đôi mắt rồi hạ giọng:
- Ôi, tôi đã làm điều ấy cho mọi người hay cho chính tôi?
Lặng lẽ, từng người bước đến bàn, ngắm di ảnh cô, thì thầm lời từ giã, ký tên vào sổ lưu niệm, ôm và thăm hỏi bốn cha con. Rời nghĩa trang, một số người ra về, một số theo tang gia về nhà cô Erika, ngồi quây quần, ăn bánh uống nước, trò chuyện thêm với nhau và với gia đình cô. Chia tay ra về, tôi và các đồng nghiệp nhìn nhau tha thiết và siết chặt tay nhau. Đối mặt với vô thường, những “cái mụ hắc ám”, những “thằng cha khó ưa” thường ngày bỗng nhiên hết hắc ám, hết khó ưa; những xích mích, tị hiềm bỗng trở nên cỏn con và vô nghĩa. Chúng ta có một mục tiêu chung cơ mà, là giúp con trẻ biết cách học hỏi, biết làm việc, biết thương yêu, biết đứng lên làm lại khi vấp ngã và biết sống tử tế.
Cả
hai đám kể trên, không ai phải xin xỏ chúng tôi “niệm tình tha thứ cho những
thiếu sót không tránh khỏi” vì quả thật, chúng tôi đã quá thương tang gia và
quá vui với hôn quyến, nào có ai còn nhớ là mình đã bị quên giới thiệu, không
được ngồi chỗ ngon lành, không được đón tiếp đúng mức, hay gì gì đó, để mà ở đó
trách với chê.
Trộm
nghĩ, thế nhân ơi, xin được đổi “ma chê, cưới trách” thành “ma thương, cưới
khoái” nhé, cho ngày vui được thêm rạng rỡ và cho ngày buồn cũng bớt cô
liêu.
Quianna Duyên Bùi
Ma Thương, Cưới Khoái - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ
Anh Phước chuyển
Người Sài Gòn - Trang Nguyên
Người Sài Gòn là như thế nào? Vài người lớn
tuổi cho rằng làm gì có người Sài Gòn tuy thành phố trải qua hơn 300 năm tuổi.
Để trả lời câu hỏi này không dễ dàng trong một bài viết ngắn chỉ dựa trên những
cảm nghĩ nhận xét chung chung.
Người sinh ra ở Sài Gòn, tức nhiên là người Sài Gòn. Người sinh sống ở các tỉnh khác về Sài Gòn lập nghiệp vẫn tự nhận mình là người Sài Gòn. Và không ít nhận xét của nhiều người cho rằng để nhận ra người Sài Gòn “thứ thiệt” hãy nhìn vào cách ăn vận. Tất nhiên, cách phân biệt này chỉ là một góc nhìn nhỏ trên bức tranh văn hoá xã hội địa dư rộng lớn của một vùng đất bao dung người lưu dân tứ xứ.
Người bạn sống ở Q. 11, Sài Gòn kể hồi nhỏ vẫn
thường ghé sang nhà ông nội chơi. Đó là một căn nhà nhỏ sống theo kiểu tam đại
đồng đường. Bà cố, ông bà nội và các cô chú còn tuổi đi học. Cho đến khi anh được
bảy tám tuổi gì đó mới nhận ra, bà cố ở nhà thì mặc áo bà ba nhưng khi đi chợ
thường thay một chiếc áo dài thâm, trên tay có khi cắp cái rổ mây, có khi xách
cái giỏ đan bằng vỏ tre. Chợ không xa nhà chừng độ vài trăm mét, đâu cần phải
thay áo dài thêm rườm rà không giống các bà các bác trong xóm mỗi khi đi chợ đều
mặc chiếc áo bà ba cho thoải mái. Gia đình ông nội từ Sa Đéc lên Sài Gòn sống từ
giữa thập niên 1950, đâu phải là điền chủ, công hay tư chức mà bà cố ăn vận kiểu
cách như lớp người thượng lưu. Khi lớn lên, anh nhìn lại thì mới nhận ra chiếc
áo bà cố mặc năm xưa chỉ là loại vải đen bình dân nhưng có lẽ do thói quen ăn vận
khi bước chân ra khỏi nhà dù gần hay xa người Sài Gòn cần ăn mặc cho phải cách.
Cách ăn vận áo dài khi ra ngoài phố của bà cố
còn giữ được đến thế hệ anh bạn không gì là lạ. Các bà các cô thời đó vẫn thường
mặc trang phục áo dài đi làm hay đi mua sắm ngoài phố. Đó là lớp người có cuộc
sống kinh tế tương đối khá giả và lúc đó chiếc áo dài đã thay đổi kiểu cách khá
nhiều, chứ lớp người bình dân như bà cố anh thì ít ai mặc áo dài bình dị đi chợ
mỗi ngày. Tôi xin nói rõ, ít chứ không phải không có. Nhớ vào giữa thập niên
1960, tôi vẫn thường bắt gặp một vài cụ già đi chợ hay đi ra phố mặc áo dài rất
đỗi bình dân, đầu cột khăn vuông, chân mang guốc mộc. Đó liệu có phải là cách
ăn vận đúng điệu của người Sài Gòn như anh bạn từng nghĩ về bà cố của mình.
Áo dài phụ nữ Sài Gòn khi chưng diện chụp
hình hay đi ra phố khác biệt chỗ loại vải may đồ (Ảnh: Bưu thiếp)
Cách ăn vận áo dài của bà cố anh chỉ là do
thói quen từ xưa khi còn sống ở quê trong một gia đình trung nông có vài ba mẫu
ruộng. Xem lại hình ảnh những sinh hoạt chợ quê xưa cách nay một thế kỷ, không
ít các bà buôn bán ở chợ thậm chí người đi mua sắm mặc chiếc áo dài vải thô.
Chiếc áo dài gắn liền với người phụ nữ từ hai ba trăm năm trước, nó vừa kín đáo
vừa tôn dáng vẻ thướt tha của giới tay yếu chân mềm. Do vậy bản thân chiếc áo
dài sơ khai không định hình nên giai cấp giàu nghèo. Chỉ khác nhau, người lớp
lao động bình dân mặc vải thô, người tầng lớp khá giả giàu có mặc tơ lụa. Do
ngày xưa người ta không dệt được khổ vải rộng, chỉ có khổ vải rất hẹp, nên mới
có áo dài tứ thân (hai vạt sau ghép lại thành tà áo, hai vạt trước rời nhau, nếu
cần có thể buộc lại để tiện cho việc lao động đồng án). Theo lịch sử chiếc áo
dài truyền thống Việt Nam, nhìn chiếc áo dài có thể phân biệt được tầng lớp phụ
nữ lao động và phụ nữ sống ở thị thành (ít lao động). Chiếc áo ngũ thân ra đời
từ chiếc áo tứ thân. Hai vạt trước và hai vạt sau được may liền nhau, vạt thứ
năm may dưới vạt trước xem như một mảnh áo lót. Người lao động mặc áo tứ thân,
người thành thị mặc áo ngũ thân. Và từ sau đó, chiếc áo dài còn thay đổi nhiều
kiểu cách cho hợp thời.
Gia Định – Sài Gòn là vùng đất hai mùa mưa nắng,
thời tiết cũng góp phần làm thay đổi cách ăn mặc chứ tôi không nói đến thời
trang. Trời nóng ăn mặc sao cho thoải mái, từ đó các bà ít còn cột khăn vuông
trên đầu mà lại quấn khăn vuông. Nó vừa gọn vừa thông thoáng chỉ để che nắng
ngay trên đỉnh đầu, không cần dùng đến thì thả xuống vai, có thể dùng lau mồ
hôi trán hay chùi sơ cái miệng ăn trầu. Ngay cả cái khăn đội đầu của người phụ
nữ lớn tuổi sống ở Sài Gòn cũng có thể phân biệt người từ đâu đến. Người Bắc lần
đầu di cư vào Sài Gòn khoảng năm 1945 hay di cư ồ ạt sau khi quân đội viễn
chinh Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Phụ nữ lớn tuổi miền Bắc thường mặc áo dài
hoặc áo bà ba màu tối, quần vải lãnh đen, đầu chít khăn mỏ quạ, mải đến hai ba
thập niên sau vẫn còn phổ biến. Hiện nay chiếc khăn mỏ quạ không còn phù hợp
như một thứ trang phục phụ của người phụ nữ miền Bắc nữa. Trong khi đó, người
phụ nữ miền Nam chịu ảnh hưởng cách ăn vận của người miền Trung từ lâu (do lớp
người dân Ngũ Quảng di dân vào khai phá đất phương Nam và những đợt di dân sau
này). Chiếc nón lá, khăn vuông đội đầu của người phụ nữ miền Nam và người miền
Trung không còn ranh giới, vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Còn cách ăn vận của cánh đàn ông ở Sài Gòn có
thể phân biệt vùng miền như cách ăn vận của người phụ nữ? Mấy ông bạn lớn tuổi
kể rằng rất dễ nhận biết: “Thời người Bắc di cư vào Sài Gòn, đàn ông lớn tuổi
thường mặc bộ đồ vải nâu có hai túi, chân mang guốc, tay phe phẩy cây quạt lá
rong chơi ngoài phố, còn đàn ông bình dân miền Nam hay dân lao động sống ở Sài
Gòn cũng mặc bộ đồ vải đen hay vải trắng, đi dép có quay hoặc mang guốc mộc.
Ngoại trừ những người làm quan chức, công chức hay tư chức ăn vận theo kiểu
phương Tây, chân mang giày. Công chức thường được cấp mỗi năm hai bộ đồ tây.
Trang phục công chức nhân viên đi làm ở Sài
Gòn thập niên 1950 (Ảnh: LIFE)
Ông bạn lớn tuổi của tôi kể chuyện ngày xưa ở
Đức Hoà hồi thập niên 1940, thuở đó nhiều vùng quê Nam bộ còn nghèo khó lắm.
Thanh niên làm đồng chỉ mặc chiếc quần xà lỏn, trời mát thì cởi trần, trời nắng
thì mặc thêm chiếc áo cụt tay nhuộm màu tối. Đàn ông lớn tuổi cũng vậy, chỉ có
cái quần cụt và cái áo dài tay màu đen, đi chân không. Đám thiếu nữ ngoại trừ sống
trong các gia đình khá giả ăn vận áo bà ba trắng, quần lĩnh đen chứ không có mặc
đồ bộ bông hoa như sau này. Con nhà nông nghèo mặc đồ vải thô, thường chọn màu
tối. Khi tết nhất hay trong làng có đám tiệc tùng, tuỳ theo tính chất quan trọng
mà họ chọn cho mình một bộ trang phục. Đàn ông, thanh niên nhà lao động nghèo mặc
kiểu quần tây ống suông, lưng quần thường cột dây vải không có dây nịt, áo sơ
mi cổ lật, tay dài, bên dưới có hai túi áo, may rộng tựa kiểu pyjama ngày nay,
chân mang guốc. Khá giả hơn hoặc làm việc cho nhà nước thì áo sơ mi, quần tây,
mang giày, đầu đội nón cối trắng hay nón nỉ. Ngoại trừ đi đám cưới thì mới có
vài người mặc áo sơ mi đeo cà vạt, ít có người mặc đồ vest. Đàn bà, thiếu nữ mặc
áo bà ba hay áo dài màu sắc rực rỡ, quần sa-tanh đen bóng; già thì đội hay
quàng khăn choàng, trẻ thì rẽ tóc kẹp ngang, chân mang guốc. Ngay cả sau này,
tuy cuộc sống ở quê có chút phát triển, giới thiếu nữ lên Sài Gòn vào thập niên
1960, ăn vận áo dài không khác các cô Sài Gòn nhưng người ta vẫn dễ nhận ra qua
mái tóc thả dài kẹp ngang chứ không cắt tóc ngắn, uốn lọn hay thả suối tóc dài
như các cô Sài Gòn thứ thiệt.
Trong cuốn “Sài Gòn chuyện đời của phố”, tác
giả Phạm Công Luận viết về chuyện ăn mặc của người Sài Gòn ở những năm đầu thập
niên 1970. Bài viết miêu tả tỉ mỉ hình ảnh cách ăn vận của người Sài Gòn từ già
đến trẻ, đủ mọi thành phần trong đó còn phảng phất nét quê mùa của những người
Nam bộ. “Cậu Bảy Nheo đến trước, nhìn khỏe mạnh trong chiếc áo montagut mới
toanh màu vàng nhạt… Cậu làm ở sở Mỹ, có tiền nên thích xài loại áo này, giá
không rẻ vì nhập cảng từ bên Pháp. Cậu Bảy ngồi nói chuyện với dượng Hai Mỹ, chủ
sự Hãng hàng không Air Việt Nam, còn gọi là “Air con rồng”. Ngày tết, dượng Hai
mặc áo sơ mi trắng thắt cà vạt hẳn hoi. Sau đó là ông ký giả nhựt trình, trong
xóm gọi là chú Tư. Hôm nay ông vẫn bận cái áo bốn túi màu kaki như mọi ngày
nhưng là áo mới coóng. Rồi đến thầy Hai răng vàng, bận sơ mi soa Pháp trắng, bỏ
áo vô quần tây đen, mang giày đen, nhìn trẻ trung. Thầy chuyên chạy “áp phe”
thuốc tây… Đến buổi chiều mùng ba, nhà tôi tiếp mấy chú là bà con xa từ xã Tân
Thạnh Đông miệt Hóc Môn. Ba ông chú, chú Sáu, chú Bảy, chú Tám bận ba bộ đồ bà
ba đen y chang nhau trông rất ngộ. Chú Sáu co chân lên ghế ngồi kiểu nước lụt,
rút thuốc rê ra quấn hút. Có buổi chiều sau tết, ông Thầu (làm nghề thầu khoán)
từ đầu ngõ đi vào thăm ba tôi. Ông bận bộ pyjama màu ruốc lợt, có viền màu nâu ở
tay áo và gần miệng túi. Tay phải ông chống “can” bằng gỗ lên nước bóng, tay
trái cầm ống điếu. Ở nhà, ba tôi bận bộ đồ bà ba trắng ra tiếp ông…”.
Tôi xin dừng ở đây, không đi xa hơn chuyện ăn
vận của giới nam hay nữ, già hay trẻ các thành phần xã hội từ khi các trào lưu
mốt phương tây xâm nhập nhiều vào đời sống của thành phố Sài Gòn vào những năm
đầu thập niên 1960. Những hình ảnh ăn vận của người Sài Gòn xưa cũ theo thời
gian phải thay đổi nhưng vẫn còn đọng lại trong ký ức của nhiều người như một mảng
văn hoá nhỏ của vùng đất Gia Định – Sài Gòn ngày trước.
Trang Nguyên
https://baotreonline.com/van-hoc/viet-nam-ngay-cu/nguoi-sai-gon.baotre
Monday, September 21, 2026
Lương Tâm
Lương tâm là tiếng nói
thầm lặng nhưng mạnh mẽ nhất bên trong mỗi con người. Nó không phải là thứ có
thể nhìn thấy hay chạm vào, nhưng lại hiện diện trong từng suy nghĩ, lời nói và
hành động. Lương tâm giúp con người phân biệt đúng – sai, thiện – ác, và là thước
đo giá trị đạo đức của mỗi cá nhân.
Trong cuộc sống, có những
lúc con người đứng trước lựa chọn khó khăn giữa lợi ích cá nhân và điều đúng đắn.
Khi ấy, lương tâm chính là người dẫn đường. Một người có thể giàu có, quyền lực,
nhưng nếu sống trái với lương tâm, họ sẽ luôn cảm thấy bất an. Ngược lại, một
người sống ngay thẳng, dù cuộc sống giản dị, vẫn có thể ngủ ngon và thanh thản.
Lương tâm không mang lại tiền bạc, nhưng đem lại sự bình yên mà không gì có thể
mua được.
Lương tâm còn là nền tảng
của niềm tin trong xã hội. Khi con người sống có lương tâm, họ biết giữ lời hứa,
không lừa dối, không làm hại người khác. Nhờ đó, các mối quan hệ trở nên bền vững,
xã hội trở nên công bằng và đáng sống hơn. Nếu ai cũng vì lợi ích riêng mà chà
đạp lên lương tâm, thì xã hội sẽ rơi vào hỗn loạn, nơi mà sự nghi ngờ và ích kỷ
lên ngôi.
Tuy nhiên, lương tâm
không phải lúc nào cũng rõ ràng nếu con người cố tình lờ đi nó. Khi một người
quen với việc nói dối, gian lận hay làm điều sai trái, tiếng nói của lương tâm
sẽ dần yếu đi. Đó là lý do vì sao cần phải rèn luyện và nuôi dưỡng lương tâm mỗi
ngày. Việc làm điều tốt, biết xin lỗi khi sai, biết xấu hổ khi làm điều không
đúng – tất cả đều giúp giữ cho lương tâm luôn “sống”.
Trong xã hội hiện đại,
khi vật chất và danh vọng được đề cao, nhiều người dễ đánh mất lương tâm để đạt
được mục tiêu nhanh hơn. Nhưng cái giá phải trả thường rất lớn: mất uy tín, mất
niềm tin, và quan trọng nhất là mất chính mình. Thành công mà không có lương
tâm thì chỉ là vẻ ngoài hào nhoáng, bên trong rỗng tuếch.
Lương tâm không đòi hỏi
con người phải hoàn hảo, mà chỉ cần sống chân thật và biết hướng thiện. Ai cũng
có thể mắc sai lầm, nhưng điều quan trọng là biết nhận ra, sửa sai và không lặp
lại. Khi con người còn biết day dứt, còn biết hối hận, thì lương tâm vẫn còn
đó.
Tóm lại, lương tâm là tài sản vô hình nhưng quý giá nhất của con người. Nó là kim chỉ nam giúp ta sống đúng, sống tử tế và giữ được phẩm giá. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu giữ được lương tâm, con người sẽ không bao giờ lạc lối.
Lương tâm là tiếng nói thầm lặng... - Những stt hay về cuộc sống | Facebook
This Is So Lovely!
THIS IS SO
LOVELY ...
It hurts only You and nobody else.
If you are right, then there is no
Patience with others
isrespect,
Patience with self
is confidence and
Never think hard about the past,
Don't think more about
the future,
Live
this moment with a Smile,
Every test in our life makes
us
Beautiful heart not a beautiful face.
Beautiful things are not
always good,
But, good things are
alwaysbeautiful.
So that someone who is special
to you
[Fun Fuky]
Những Ngày Xưa Nơi Đất Úc - Phan Nhật Bắc
Năm 1978, tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia,
dừng ở Sydney, chuyển tiếp đến thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne.
Chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người, chia ra lên khu vực
thượng hạng trên chóp mũi.
Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám
đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang
trọng.
Hành trang là một cái túi sách cũ mèm do ông cha người Hoà Lan
cho tôi, trong đó có giấy tờ và vài lá thư nhà tôi mang theo như vật gia bảo.
Sau một tiếng bay, phi cơ đáp xuống Melbourne, Trời thật lạnh.
Tôi co ro dưới chân máy bay, không áo, lạnh tê tái, đôi môi run
lập cập.
Người nhân viên Sở di trú Úc thấy vậy chạy đi kiếm cho tôi một
cái áo lạnh mới tinh, tôi gật đầu cảm ơn bằng tiếng Anh
-You are true refugee, ông quay lại nói với tôi rồi đưa mắt nhìn
đám người Tàu sang trọng chung cảnh ngộ, như đi du lịch
Hai chiếc xe bus chở chúng tôi từ Phi trường về một nơi tạm trú
mà chúng tôi không biết ở đâu. Đường xá thẳng tắp, tráng nhựa xinh đẹp, không
thấy một chiếc xe đạp, chiếc xe có lò sưởi thật ấm, xe chạy theo ven biển, qua
các nhà máy lọc dầu rồi đến một dãy nhà một lầu xám ngắt mái đen thui như
thường thấy trong phim Âu châu.
Nhân viên Wiltona Hostel ra tiếp đón niềm nở. Họ phân dân độc
thân về khu riêng. Hai người một căn flat có hai phòng nệm ấm, chăn êm. Ăn uống
có người nấu. Ra giường có người giặt. Chỉ ăn và ngủ, chờ học khóa Anh văn để
tìm việc làm.
Còn mấy hôm nữa là Noel, không ngờ tôi lại ở một nơi cách xa quê
hương muôn trùng. Ngày về ôi xa quá xa. Lần đầu tiên tôi đón một mùa xuân ly
hương.
Giáng sinh đến ông Cha Tây đem một chiếc xe bus thật lớn đến đậu
trước sân bắt loa kêu gọi
-Ai có đạo đi nhà thờ xem lễ, mọi người ùa ra xe.
Ông Cha không ngờ con Chiên nhiều quá, cái bọn độc thân mà cũng mộ đạo mới lạ bọn Tây độc thân hiếm khi tụi nó bén mảng đến nhà Thờ, ông vui quá chạy vô văn phòng nhờ gọi thêm một chiếc xe lớn hơn, ông có biết đâu đám dân ly hương này buồn quá không có Đạo cũng nhào lên xe để đi cho biết, miễn xe chạy lòng vòng đâu cũng được.
Mấy thằng ôn dịch độc thân nghe nói đi nhà thờ gái Tây choai choai nó kết thanh niên cho hôn thả cửa Giáng sinh mà, lại càng khoái chí.
Đến nhà Thờ tụi tôi tỏa ra không vào giáo
đường, ông Cha hớt hãi sợ tụi tôi chân ướt chân ráo lạc loài đi qua xóm đèn đỏ
cách đó nửa cây số thì đọa địa ngục A tỳ, gặp tôi ông cười toe.
-Can you speak English?
Tôi gật đầu.
-You gọi tụi đó vào nhà thờ làm lễ dùm tôi đến
giờ rồi.
Tôi đi kiếm từng ông năn nỉ.
-Em đâu có biết xem lễ.
-Trời, em đâu có đạo nhảy lên xe đi cho vui
thôi mà…
Tôi bảo -Cứ vào Amen đại đi có gì anh lo, tụi
mày mới đến mà mà xạo như vậy không tốt, làm vậy ổng buồn…
Tôi gom được hơn 20 ông xồn xồn lạc vợ ở Việt
Nam và mấy ông thanh niên dân danh ca (đánh cá) vào nhập Thánh đường, nhìn mấy
ông lim dim nghe Thánh kinh bằng tiếng Anh như vịt nghe sấm.
Tôi mắc cười, bụm miệng không được, chạy ra
ngoài dựa lưng vào vách cười vô tội vạ.
Xong lễ, bọn gái Úc nhào ra, mấy anh tỵ nạn
tay ôm tay hốt loạn cào cào.
Đám danh ca và mấy anh già nửa chừng xuân được
dịp cứ nhè gái tơ mà hun tới tấp.
Tụi gái Úc la chí choé.
Ông Cha đi ra thấy kêu tôi tới nói: -Lựa mấy
con bé đúng tuổi 18 mà hun, tụi teenage chừa ra, các anh hiểu không? coi chừng
Police nó còng đầu các anh cả đám -À what is your name? hôm sáng giờ tôi quên hỏi tên anh
-Tên tôi là Lê -Bruce Lee
Ông Cha cười tươi nét mặt:
-Anh
biết kung fu không?
Tôi gật đầu, ngoài kia mấy anh tị nạn bị tù
túng lâu ngày trổ tài dê tay ra dấu, miệng Ok búa xua, tôi lại gần cảnh báo
-Kiếm mấy con già mà dê, đừng dê con nít coi
chừng tù cả đám
-Trời, con nào con nấy to chàm vàm biết bao
nhiêu tuổi mà chọn? Ông sồn sồn lên tiếng.
Tôi nói -ông Cha nhà Thờ mới khuyến cáo với
tôi đây là Úc chứ không phải Việt Nam, thôi đã chưa? đi dạo một chút rồi về.
Đám danh ca cùng mấy anh già còn tiếc nuối tiu
nghỉu đi theo tôi, nhưng mấy con bé choai choai Úc lại thích mấy chàng danh ca
nên theo, tụi nó kháo với nhau mấy thằng Vietnamese tị nạn là anh hùng. ( ý nói can đảm thoát khỏi Việt Cộng bằng
thuyền nhỏ) nên có cảm tình nồng nhiệt.
Có một anh danh ca người đảo Phú Quý tên Tâm
cua được một em gái có cặp nhũ hoa như núi Thái Sơn.
Tôi và cả đám danh ca đều bái phục anh chàng,
viết chữ Việt chưa thông, thậm chí không biết nhất là một, mặt đầy mụn cá nói
chuyện bằng tay mà cua được con Maria người Úc. Cuộc vui nào cũng tàn, tất cả
tập trung lên xe về trên đường về ông Cha dụ khị
-Bruce Lee you thông dịch dùm tôi, hôm nay Cha
rất vui khi lần đầu tiên đón con Chiên
không có Đạo mấy người có Đạo ít quá, tuần sau Cha đến đón đi mừng New
year, luôn tiện rửa tội vô họ Đạo của tôi
mấy anh chịu không ?
Tôi dịch lại, cả đám lặng thinh đăm chiêu tôi
đành nói với ông:
-Họ cần suy nghĩ, thưa Cha
-Được được, chuyện quan trọng mà Chúa sẽ chứng
giám
Về đến nơi tạm trú thì nhào đầu vô ngủ quên
trời đất.
Tôi không biết chừng nào Tết Việt Nam sáng ra
nhà ăn tập thể tôi tìm mấy ông Việt gốc Tàu hỏi.
-Nị có biết chừng nào Tết Việt Nam không?
-Ngộ không biết, để Ngộ hỏi ông già coi dzồi
cho biết.
Đến hẹn mừng New Year, khoảng 7 giờ chiều, ông
Cha đem hai chiếc xe bus đến, thấy tôi lớ ngớ bên ngoài văn phòng, ông mừng
cười tươi:
-Bruce Lee. Anh thông báo giúp có Cha đến chở
đi mừng năm mới, xe đang chờ.
Tôi đi thông báo thì cả đám danh ca và mấy ông xồn xồn trốn biệt chỉ có mấy mạng đi ra, ông Cha vui bao nhiêu giờ thất vọng bấy nhiêu, gom lại khoảng 40 chục người trong cả một trại tạm cư gần 400 mạng.
Ông tiu nghỉu ra xe với tôi, tôi đi cho bớt nỗi cô đơn và cũng
muốn xuống phố đêm nay với sự náo nhiệt như thế nào?
Thành phố lên đèn, xe đi qua chiếc cầu
Westgate dài và đẹp, nhìn xuống con sông bề ngang khoảng 200 mét mà chiếc cầu
dài ước một cây số thì phải. Khoảnh khắc Giao thừa sắp đến, thời gian như lắng
đọng, mọi người đông nghịt, chiếc xe Bus vào vị trí dưới chân cầu, tất cả ngồi
trên xe chờ bắn pháo bông tiếng nổ đùng đùng vang lên, từng chùm ánh sáng
tung ra như những đóa hoa, tôi chưa từng thấy bao giờ, tôi tiếc cho mấy ông xồn
xồn và mấy anh chàng danh ca bỏ lỡ cơ hội xem màn pháo bông đêm Giao thừa.
Sau màn bắn pháo bông tôi về nhà Thờ quỳ dưới
chân Chúa làm dấu Thánh giá rất thiện nghệ, ông Cha khỏi cần tôi rửa tội để vào
Đạo, sau khi nhét miếng bánh thánh vào miệng tôi và chút rượu lễ ông gật đầu
hài lòng.
Anh Danh ca người Phú Quý chịu phép rửa tội
vào Đạo vì đang mê cô bé Úc, tôi thầm nghĩ thằng này không khéo nó chết ngộp
với hai cái núi của con Maria không chừng.
Một ngày cuối tuần buồn và nhớ nhà
Tôi mày mò tần số đài phát thanh tiếng Việt
mỗi tuần một giờ, sau khi ông Cha trịnh trọng cho tôi cái radio giống cái radio
ấp Chiến lược hồi bên Việt Nam. Nó kêu rột rẹt. Tôi chạy ra ngoài móc thêm cái
ăng-ten bằng móc áo bằng kẽm thì ok.
Tiếng phát thanh bằng tiếng mẹ đẻ làm tôi mừng
quýnh.
Cả bọn bu vào -Đây là đài phát thanh sắc tộc 3
AE ban tiếng Việt kính chào đồng hương nói một vài tin tức phần tin người Việt
tị nạn xong đến bài Sài Gòn giã biệt, giọng Khánh Ly vang lên làm chúng tôi
khóc nức nở như cha chết
Nơi Chinatown 1979
Tất cả chìm trong tiếng hát lời ca não nề, của buổi sáng Chủ
nhật đầu năm. Ông Cha đứng sau lưng đám tụi tôi tự bao giờ, nhìn bọn người
ly hương nước mắt lưng tròng, ông cũng muốn khóc nói.
-Cha mẹ tôi cũng dân tị nạn Poland, tôi thông cảm những mất mát
của các anh, thôi nín tôi có quà đây, ông đưa cho chúng tôi mấy hộp bánh và mấy
cuốn Kinh Thánh
Người Tàu hôm trước gặp tôi trước cửa nhà ăn thông báo cho tôi
biết còn 2 tuần nữa là Tết Việt Nam nói
-Nị nói với mọi người mình thuê xe Bus đi Chinatown xem múa lân,
mỗi người 5 dollars nhé sẵn đợt lãnh cái cheque trợ cấp đầu tiên 40 dollars cho
mỗi người độc thân, chúng tôi đi bộ xuống Williamstown vác mỗi ông một thùng
bia rồi đi bộ về khoảng 6 cây số, tiền lúc đó có giá, xăng và bia rẻ trên đường
về mấy ông Úc thấy lạ nên dừng xe chở giúp cả đám về Trại tạm cư xong nhập bọn
nhậu luôn, say bí tỉ bỏ chiếc xe già nua nằm ven đường, hai ông Úc rặt nói
tiếng Anh léo nhéo giọng miền quê tôi nghe không hiểu gì hết.
Ông Úc tuổi khoảng 40 nhưng già khú đế nói -Sít đeo please,
nighty noie giọng nói tiếng Anh giống dân Phú Quý nói tiếng Phan Thiết na ná
giống vậy rất khó hiểu tôi cứ ú ớ rồi cười trừ, sáng ra hai ông về sớm hẹn sẽ
đưa chúng tôi về miền quê cua gái Úc đã lắm, không có gì phải lo lắng -Cháu gái
của tụi tao, nếu tụi bây thích ở đó luôn trồng bồ đà bán
Tôi cũng không biết bồ đà là cây gì đành yes cho xong chuyện,
sau này mới biết là cần sa
Còn dư $20 sau khi phung phí vào bia, tôi đồng ý kêu gọi đóng $5
để thuê xe bus đi xem múa lân, nhưng có ông ngày xưa cũng là lính có đứa em bên
này nói
-Mình có thể đi xe điện Chùa không tốn tiền, đừng đóng tiền
uổng.
Tôi thấy có lý, nghe nói đi xe điện Chùa ai cũng khoái.
Cả đám háo hức diện đồ nhà thờ cho, ông cựu lính dẫn đường độ 30
chục mạng danh ca và mấy anh xồn xồn lạc vợ mất con lúc vượt biên áo quần bảnh
chọe do nhà Thờ cho, tóc tai dài tém gọn, cả bọn đi hàng một như lính hành quân
ra trạm xe điện.
Không có nhà ga chúng tôi ngồi chồm hổm giống như một đàn khỉ vì
tụi Tây nó không ngồi chồm hổm, sân ga nơi này vắng hoe, nó chỉ là điểm tạm
dừng cho người tị nạn ở trung tâm di dân lúc trước, bây giờ tị nạn VN ở.
Chiếc xe điện ông già lái xe quen thuộc dừng lại cho cả đám lên
không bao hỏi vé, ông biết cái đám trên răng dưới củ từ có tiền đâu mua vé nên
cũng im lặng cho các Quan lên xe, ông kêu bằng Sir đàng hoàng không có chút
miệt thị.
Thật ra ông biết trong số chúng tôi có người cũng từng là Quan
một, Quan hai, lớn nhất tới Quan tư là Thiếu tá Liêm. Ông tài xế này cũng từng
bị bắt đi lính qua Việt Nam đóng tại núi Đất.
-Mấy sir đâu vậy ?
-Chinese New Year, Sir, tôi thay mặt nhóm trả lời.
Tiếng bánh sắt nghiến trên đường đưa một trung đội Việt Nam
xuống phố, đi tìm Chinatown, đổ bộ xuống xe điện, ông Quan 2 dẫn chúng tôi đi
ào như đánh trận, đi hoài cả tiếng đồng hồ chưa đến nơi.
-Anh biết đường không mà đi như ma đuổi nãy giờ chưa tới ?
-Tôi không biết, trời tối không định hướng được
Ông ta móc túi lấy ra tấm bản đồ phát cho khách đi xe lửa.
-Trời
ạ, bản đồ này chỉ dẫn cách đi xe Công cộng ông ơi, tôi nói thôi đi tìm Cảnh Sát rồi hỏi.
Ông Cảnh Sát phát hoảng
khi thấy 30 chục ông Mít tị nạn nhào lại, tôi trấn an:
-Tụi tôi muốn đi Chinatown xem
Chinese New Year.
Ông
Cảnh Sát -Ok, Ok, chờ tao chút.
Rồi ông chặn chiếc xe buýt lẻ loi không có
hành khách thường đi tuyến này mỗi ngày, dồn chúng tôi lên.
Cái cổng tên Chinatown nhỏ xíu và con đường đi
vào một chiều chưng lồng đèn đỏ chói, hàng quán người Tàu nhộn nhịp, mùi thịt
quay, mùi xá xíu cộng mùi nhang tỏa ra như một nồi tả pí lù, người Tàu họ đến
Úc cách đây hơn trăm năm khi mỏ vàng ở Ballarat cần lao động.
Một số trong số họ định cư tại đây. Cộng đồng
họ đoàn kết keo sơn giống như Chợ Lớn ở Việt Nam. Họ không bung ra mặt tiền như
dân bản địa, dường như có một thỏa thuận ngầm là người Tàu chỉ ở trong phạm vi
mấy con đường hẻm. Họ an phận làm ăn với dịch vụ nhà hàng và cờ bạc lậu, nhưng
họ lại không thích người Tàu đến từ Việt Nam, chẳng biết vì sao ?
Gần giao thừa, tiếng trống dồn dập vang lên, thùng cắt thùng… thùng cắt thùng… làm bọn tôi háo hức. Người Tàu tràn về càng
đông, con đường nhỏ dường như quá tải, con gái Tàu đẹp quá tụi tôi đứng ngắm mê
mải, có những nàng lái xe BMW rất đẹp bị bao vây giữa dòng người, họ sung sướng
thanh lịch trắng trẻo, còn tụi tôi thì đen thui quê mùa ngáo như những chú mán
về thành 12 giờ đúng tiếng pháo từ các nhà hàng Tàu và đầu phố nổ rộ, mùi khói
pháo và những xác pháo tung đỏ rực khắp ngả đường.
Bọn choai choai Úc và Tàu nhảy lên vui mừng
náo nhiệt cả một góc phố.
Đám dân tị nạn chúng tôi hòa vào, trộn lẫn với
người Tàu, đi theo đoàn lân múa, leo cột, ngậm tiền. Tôi chợt nhớ những mùa
xuân qua đi nơi quê hương, lòng chợt chùng xuống muốn khóc .
-Anh buồn nhớ nhà hả?
-Ừ buồn quá, nhớ Việt Nam ghê
-Em cũng vậy thôi hết múa lân tụi mình về kiếm
chút hơi men cho quên đời
Một cái Tết Kỷ Mùi quá nhiều kỷ niệm. Tôi xa quê hương đã gần hai năm, vật đổi sao dời, lòng người ly tán nước mắt tôi muốn rơi, nhìn lên khung trời xanh thẳm chẳng biết VN nằm hướng nào để mà vái lạy.
Sáng mùng 3 Tết dậy, tôi mở cửa gọi mấy ông danh ca (Đánh cá)
hẹn tối hành quân qua Trại tạm cư thứ hai Midway Hostel có khu chiếu phim lộ
thiên, leo lên cây coi phim không tiếng và không tốn tiền. Nhiều khi chiếu cả
phim người lớn, tụi tôi rất khoái.
Sáng bảnh mắt mà trên sàn bốn năm ông còn ngủ vùi với một đống
lon đồ hộp thức ăn của chó, ông nào ông ấy nồng nặc mùi bia
-Trời tụi mày nuôi chó hả? tôi la lên
-Dạ đâu có anh tôi chỉ vào đống vỏ hộp thức ăn chó - Thì đồ
cho chó ăn đầy ra đó kìa.
-Dạ thịt chó đóng hộp mà, ngon lắm tụi em mua về xào hôm qua.
Nghe xong, tôi muốn độn thổ. “Dog food” in chình ình ra đó mà
mấy ông thần danh ca này không biết. Thật chán mớ đời.
Tôi lấy lon còn lại mở nắp ra ngửi thử, nó thơm thiệt, toàn tim
gan heo gà hèn gì mấy ông này nhậu sảng khoái.
-Từ sau đừng ăn bậy nữa nghe, tụi Úc nó cười nói mình là dân mọi
rợ kém văn minh.
Cả bọn thức dậy, ngơ ngác một hồi mới hiểu ra.
-Đêm nay tụi mày theo anh qua Midway xem phim leo cây, đứa nào
đi ghi danh
Cả bọn nhao lên, nhìn mấy khuôn mặt bắt đầu có da có thịt và nhả
phèn của đám danh ca tôi vui lây, tối đến chúng tôi bắt xe đi qua một sân chiếu
phim lộ thiên, 5 thằng ôn dịch leo lên những nhánh thông già xem phim nhà nghèo
50 % mấy ông sồn sồn tiếc rẻ nói
-Tại sao tụi nó không chiếu phim 100% cho đã mắt.
-Thì đâu được phép chiếu phim đó, cha nội, ngoài trời mà lỡ con
nít nó thấy thì phạm luật, tôi làm tài khôn nói.
-Mẹ mày mới qua mà rành quá hén, thôi dìa nhậu tiếp
Thế là một cái Tết qua đi nhạt nhòa, thời gian tới con đường
trước mắt sẽ ra sao?dòng đời đưa đẩy về đâu?
Rượu sầu đêm nay sao
chóng cạn
Bạn bè đâu? Hỏi gió gió
bay đi
Hỏi trăng thì trăng lặng
Hỏi em giờ biết hỏi nơi
đâu?
Ta khóc ngất giữa cõi đời
phiêu lạc
Rót về đâu để cạn một hồ trường
Qua Tết ông Cha nhà Thờ tìm tôi kiếm hai ông sồn
sồn làm một việc không cần nghề nghiệp kinh nghiệm và tiếng Anh lương giờ $3
dollars ngon ăn dễ bị ăn đòn, chỉ cần đeo hai tấm bảng No Sex movies đi qua đi
lại trước rạp chiếu phim
-Lee ráng tìm dùm tôi hai thằng siêng một chút
mà già nghe chưa
-Yes, Sir
khi nào tìm được tôi dẫn đến nhà Thờ cho ông.
Tôi đi lùng hết trong nhóm của mình thì tìm được hai đồng
chí: một người dân Mũi Né, mập, và một người ốm tướng rất lựu đạn.
Ông mập thì tên Ốm, mà ông ốm nhom đen thui dân
Bình Hưng thì tên Ba Nghĩa có một hàm răng vàng nếu gặp
hải tặc Thái Lan coi như hàm răng không còn, khi ông hút thuốc khỏi cần diêm quẹt.
Ông mập thì nghe nói hồi đó ốm lắm, sau này ông làm bên phòng Thương nghiệp cho Việt Cộng nên
mập ra dù cả nước ăn bo bo.
-Anh sao
tên kỳ vậy? anh mập thí bà tôi mắc cười
hỏi
-Cha mẹ đặt tên mà mày, lúc nhỏ tao èo uột lắm
mà mày tìm tao có diệc gì hông (nguyên văn)
-Có việc làm giờ $3 anh muốn làm không ?
-Làm chớ ngồi không tao mập thêm ăn ba cái bơ và
thịt trừu lên ký dữ quá.
Tôi gọi ông Ba Nghĩa và ông Ốm ra ngoài sân tốn
hai lon Coke và gà chiên để hối lộ cho câu chuyện
-À mà mang tấm bảng đi trước rạp tụi Tây nó ngứa
mắt đánh thì sao? ông Ba Nghĩa hỏi tôi
-Chuyện này để hỏi ông cha nhà thờ
Ông Cha nhà thờ khoái
chí khi thấy hai ông mập và ốm, ông Ba nghĩa nhỏ con đen thui mà du côn tận
mạng lúc nào cũng chửi thề bằng tiếng Anh à nghe, ông đội cái nón rộng vành như
John Wayne, hút thuốc phun khói làm ông Cha
chay tịnh la làng
-Anh nói ông đen bớt nhả khói tôi ngộp quá, ông
Cha bịt mũi lắc đầu
-Anh Ba Nghĩa bớt ga lại đi cha, phun khói mù
trời như máy dầu, tôi la.
-Thì để tao rít một hơi mày lạnh thí mẹ, ông Ba
Nghĩa rít một hơi thuốc xong nhả khói vòng tròn, thổi vòng này vào vòng kia làm
ông Cha lé mắt, ông nhìn tôi một hồi phán một câu.
-Lee anh vẽ
bốn tấm bảng No Sex Movies được
không? có Panels và sơn dầu dưới nhà kho.
Tôi theo ông Cha xuống nhà kho lôi sơn lên vẽ
chừng hơn tiếng đồng hồ là xong ông Cha khen nức nở.
-Anh có học không mà vẽ chữ đẹp quá ?
-Tôi còn vẽ chân dung cũng kiếm ăn được, tôi
từng vẽ chân dung Uncle Hồ lấy tiền.
-Mày xạo vừa thôi, mày vẽ ông Hồ chắc giống ba
Tàu ông Ốm nói
Xong tấm bảng, tụi tôi về hẹn ngày xuất quân dàn
trận ông Cha bo cho tôi $10 đồng tiền xăng và tiền ăn gà chiên, xăng lúc này 18
cents một lít, tôi xin ông vài chai rượu
vang đỏ ông nói;
-You lấy hai chai thôi, để tôi nhậu nghe chưa
Rồi tôi vào phòng tôi kẹp nách hai chai cầm thêm hai chai đi nhanh
ra xe, ông Cha nhìn ra cười trừ chắc ông chửi thằng Chine này tham.
Về đến Hostel bày ra nhậu với Hot Dog say bí tỉ, mấy ông không
quen rượu vang đỏ đau đầu cho chó ăn chè sáng ra mấy bà vợ mắng vốn nói
-Mày cho mấy ông uống rượu gì đó ho ra máu.
-Đâu có rượu màu đỏ như mấy bà ăn trầu nhổ ra đỏ lè mà mấy chị
-Dậy hả thôi đừng cho mấy cha uống nữa, mà mày tiếng Anh tiếng u
hay lên văn phòng kiện dùm tao dụ này.
-Chuyện gì mà thưa kiện? bà này tên Mẹo vợ ông chủ ghe tôi mua 5
cây vàng và đỡ đẻ cho bà bên hòn đảo Sedanao, Indonesia lúc bà đau đẻ không có
cô mụ.
-Tao tên Phạm Thị Mẹo mà tụi Tây nó đổi thành
Chần Thị Mẹo
-He he chồng chị họ gì ?
-Ổng họ Chần (Trần)
-Thì đúng rồi bên này vợ phải lấy họ chồng
-Mèn đét ơi tao đâu có biết, may mày không nói chắc tao thua kiện
quá
Trời mấy bà vừa qua mấy tháng mà hở một chút là thưa kiện, mấy ông
bực mình nhậu say cứ thoi đấm lia chia phòng Xã Hội điên cái đầu vì mấy ông bà tị nạn Mít
Ngày ra quân xuất trận tôi và ông Cha bảnh choẹ trên chiếc xe Mẹc đen thui như xe nhà quàn, chở phía sau
ông mập tên Ốm và ông Ba Nghĩa đen thui ốm nhách đổ bộ xuống một khu phố sầm
uất có cái rạp chiếu phim Sex to đùng đang
nhộn nhịp Tây sồn sồn, chúng tôi trịnh trọng đi xuống với hai diễn viên mập ốm.
Tôi và ông Cha từ tốn đeo hai tấm bảng vào cổ hai ông Mít ông Mập
thì cao hai tấm bảng vừa tầm, ông ốm thì lùn nên kéo lê tấm bảng thật tội
nghiệp.
Dẫn hai diễn viên tới trước rạp dặn dò rất kỹ thì ông Ốm nói
-Mẹ, lỡ thằng chủ rạp nó ra đánh thì
sao?
-À mà nó kêu Pu lít bắt
chạy đâu ? ông mập hỏi
Tôi hỏi ông Cha ông Cha nói
-Không sao tôi bảo đảm có
đóng bảo hiểm tai nạn
-Mà ông Cha có đóng bảo hiểm bị đánh không?
Tôi nói -Có, không ai dám đánh luật quốc tế mà anh, tôi nói đại cho hai ông vừa lòng
Ông Cha làm dấu Thánh giá xong cùng tôi ra về tôi nói -Trưa tôi
ghé
Mấy ông Tây sồn sồn đang lóng ngóng chờ ông Cha về thì nhào vào
thấy hai ông Mít đeo hai tấm bảng No Sex movies thì dợm chân nhìn
Ông Ba Nghĩa nhe hàm răng vàng cười tình, ông mập thì cười như ông
Địa chờ chè tôi nhìn kiếng chiếu hậu cười té khói ông Cha cũng cười luôn
-Anh có máu đùa, you tìm hai thằng hề hay thiệt
tôi phục anh luôn ông Cha nói
Về nhà Thờ buồn quá tôi lái xe đi long nhong vô
Hostel Midway dê gái, gái Việt lúc này hiếm lắm đốt đuốc tìm đỏ con mắt, mà nếu
còn thì mấy thằng có chút tiền chi đẹp tóm hết, mấy em thì ỏng a ỏng ẹo thấy
phát chán, có nhiều tên ngồi đồng trong xe mở nhạc Việt hết cỡ nhìn lên ô cửa
mấy nàng độc thân để em chạnh lòng, mấy bản nhạc thâu lại từ đài tiếng Việt,
tôi nản quá gần đến giờ ăn trưa tôi chạy đến rạp chiếu
phim đậu xe xong tà tà đi lại thì thấy bốn tấm bảng No Sex movies nằm dựa tấm
vách hai ông mập và ốm biến mất, tôi lo sợ vì hai ông nói chuyện bằng tay không
biết tiếng Anh thì ông Cha đem đồ ăn trưa tới
-Lee hai thằng diễn viên đâu rồi ?
-Thưa Cha tôi vừa đến không thấy hai ông
-Ô my God hai thằng bị Ma nữ quyến rũ chắc tụi
nó trong đó anh vào tìm tôi mặc đồ này không vào được.
Tôi đi vào vì lúc này gần hết Phim nên tự do
không mua vé, định thần cho quen bóng tối tôi tìm thì thấy hai ông ngồi gần sân
khấu đang thưởng thức khúc nhạy bén rên rỉ cháy màn ảnh, trên đó mấy con tóc
vàng đưa nguyên cái mu rùa trước mặt, và đám cỏ vàng cháy, rạp thưa người chỉ
vài chục mạng Úc sồn sồn đa số hết xí quách nên đi xem phim trả thù đời
Tôi men vào ngồi xem luôn để ông Cha bên ngoài
nhảy nhổm.
-Hai ông đã chưa?
-Trời mày vô hồi nào thằng mắc dịch làm tụi tao
hết hồn
-Ông Cha chờ bên ngoài kìa, ông giết tui rồi hai
ông mê ba cái phim này hại lây tui luôn đi ra lẹ lên
Vừa thấy ba thằng tôi ra ông Cha đưa hai tay lên
trời nói
-Bruce Lee tôi thất vọng vô cùng anh cũng bị Ma
nữ lôi kéo, thôi tôi trả lại anh hai ông đó không tiền lương hôm nay, nói xong
ông buồn bã ra xe khỏi đưa đồ ăn trưa tụi tôi đói meo tôi quát hai ông một trận.
-Mẹ hai cha làm tôi quê xệ quá
Ông Ba Nghĩa phản pháo -Thì mày cũng coi phim
Sex mà nói gì
Tôi ngọng luôn kéo hai ông ra về vừa tốn xăng
tốn tiền ăn trưa, còn bị mấy bà vợ cằn nhằn cả tuần lễ
Ông Cha giận tôi luôn từ đó
Đám Tị nạn chúng tôi có hai nhân vật đặc biệt
một tên là Hai Bẹt một tên là Bảy Bẹt hai tên này đại nổ Hai Bẹt qua trại Tị
nạn xưng Đại uý Tỉnh trưởng Bình Tuy.
Còn Bảy Bẹt tự
xưng là kỹ sư điện Đa Nhim hai ông khùng khùng
mắc đằng bố.
Bảy Bẹt chuyên dê vợ người ta bị ăn đòn dài dài,
một hôm tôi đi xuống Mitchum nơi có trại tạm
cư người tị nạn Việt Nam, thì Hai Bẹt rủ đi
đấu giá gà già trong farm, rảnh rỗi tôi cũng ok đi cho biết, bỏ xe tại Hostel
bắt xe lửa đi khoảng 30 chục cây số, rồi
lội sình đi gần đến Nông trại gà thì gặp một chiếc xe máy cày cho quá giang chở
4 ông Tị nạn trong đó có Bảy Bẹt và tôi cùng anh em Hai Bẹt.
Bốn ông đầu đen đu chiếc xe máy cày màu đỏ như
bốn con khỉ, khi vào đến nơi thì chúng tôi như mấy ông làm nơi mỏ than đá Quảng
Ninh bùn đất đầy người, vào toilet rửa mặt tay chân ra lấy thẻ
đấu giá, trời mẹ ơi khoảng hơn hai trăm con gà nửa chừng Xuân nằm trong chuồng
tôi nói
-Ông Hai Bẹt đi mấy chục cây số vào đấu giá gà
già sao ông?
-Tao đã nói rồi mày đi theo ráng chịu
Ông Bảy bẹt chửi thề nói -không ai ngu như mày
Hai bẹt à
-Thì mày ngu mới theo tao
Tụi Tây hơi bực mình vì mấy ông đầu đen nói
tiếng Mít ông Hai Bẹt không biết tiếng Anh nhiều, giá nào ông cũng đưa bảng lên
ông Tây đấu giá nói tiếng Anh như gió tôi nghe không kịp, ông Bảy Bẹt hỏi ông
Hai Bẹt ( Bẹt là ba xạo )
-Mày hiểu không mà giá nào mày cũng đưa tay Hai
Bẹt
-Không hiểu sao dám đi đấu giá mày Bảy Bẹt
Cuối cùng ông Hai Bẹt trúng 200 con gà nửa chừng
Xuân $40 ông moi hết túi ra chỉ có $25 còn lại ông mượn tụi tôi
Khâu cuối là khâu vác gà đi, mẹ 200 con gà gom
vào 4 cái lồng ông Hai Bẹt năn nỉ quá chừng nên chúng tôi phụ giúp, bốn ông Mít
Tị nạn vác 4 cái lồng gà kêu quang quác mấy ông Tây vừa mắc cười vừa thương nên
cho quá giang trên chiếc xe Van chở hàng đến ga xe Lửa, vô Toa xe đám Úc nghe
mùi gà và phân dội ngược để nguyên một Toa riêng cho mấy đấng Mít đầu đen và gà
Xe Lửa
chạy gà kêu inh ỏi tôi bàn
-Mình nên nhập lại thành hai cái lồng cho dễ
-Ừ đến Ga kế mình nhập lại, ông Hai Bẹt nói
-Mình về bán 50 cents một con lời chán lấy vốn
còn lại làm thịt nhậu cho đã em ông Hai Bẹt nói
Đến Ga vác 4 cái lồng gà xuống nhập lại thì xảy
tay cả đàn gà túa chạy xuống đường ray xe lửa tôi lính quýnh làm cái chuồng
bung chốt thêm 100 con gà vừa chạy vừa bay kêu vang rần ông sếp Ga chửi toáng
lên -what the hell of this, chuyến xe kế tiếp phải dừng vị gà chạy trên đường
ray, hành khách nhốn nháo cười rồi nhảy xuống giúp bắt gà như một cái chợ nhưng
gà chạy hết vô nhà dân ven đường
Tôi và Bảy Bẹt thấy không ổn trốn chạy ra đường
bắt xe Bus về Hostel để ông Hai Bẹt và thằng em giữa chợ đời bơ vơ, ông Hai Bẹt
này dân đánh Cá ở Bình Tuy không có một ngày lính vui tánh nổ như lựu đạn, đến
hơn tiếng đồng hồ sau hai anh em ông Hai Bẹt về chỉ có mấy con gà, ông gặp tôi
và Bảy Bẹt chửi
-Hai thằng mày hèn bỏ anh em tao giữa chợ tao
không trả tiền mượn cho hai thằng mày.
Sau đó, Sở Hỏa xa gửi biên lai về việc phạt ông
Hai Bẹt vụ gà chạy trên đường ray xe lửa $400. Hai anh em ông xin ra khỏi
hostel, trốn luôn không biết đi đâu?
Bảy Bẹt lúc còn đi học Anh Văn, cua bà cô giáo
Lesly bà chịu chơi vì góa chồng dẫn ông và đám Tị nạn độc thân về nhà nhậu cuối
tuần cho Bảy Bẹt dớt luôn, tụi tui thì dê con gái của bà mới lớn chắc 16 tuổi
rầu, nó cũng to chàm vàm cùng nhau ở truồng nhảy xuống hồ tắm sau nhà đú đởn
vui hết cỡ thợ mộc luôn, mẹ có bao giờ đời Tị nạn được hưởng sự sung sướng này
trong một kiếp ngừ.
Người Tị nạn Việt Nam lứa tuổi tôi không ai
không biết những dân chơi có số má xuất thân từ ấp Lạc Đạo Phan Thiết gốc Quảng Bình như Bình Hí mắt
lương ti hí chuyên ăn hiếp đồng hương thường vào các trung tâm tị nạn cùng với tên Mục và Minh run, đen như Hải tặc
Thái lan, đàn bà và con gái rất sợ mấy
tên này tên Bình Hí là một tên quậy nhưng khi đụng trận thì biến mất hắn rất
khôn, lối khôn vặt khi đàn anh là Minh cụt bị bắn chết hắn lủi mất.
Mấy ông du đãng này làm ông Cha Chủ tịch Cộng
đồng rất đau đầu cứ vác mã tấu súng đánh nhau với băng khác tại Richmond còn
dưới Springvale thì có ông Phát Mực nuôi đàn em là bé Năm chuyên đi tống tiền
các shop Tàu vào tù ra tội như cơm bữa, tụi ký giả Úc đặt tên là Sài Gòn Dragon
vì ông xăm một hình rồng trước ngực ông này ăn nói nhỏ nhẹ nhưng khi ra tay thì
rất độc như Trần Đại du đãng Sài gòn năm xưa, nhưng có tên đàn anh cựu lính Dù
giờ thứ 25 rất nhát không dám lên Richmond nơi có Hùm khác trấn đóng. Cảnh sát
Úc thì bó tay vì nạn nhân của các ông Du đãng này câm như hến, nhưng được một
cái không đụng đến dân bản xứ. Trước khi dân tị nạn Việt đến, mấy ông Thổ Nhĩ
Kỳ và Lebanese ăn hiếp tụi Úc con, làm mưa làm gió nơi các club về đêm.
Các du đãng Việt đến dàn trận tụi Thổ trốn hết
vì chơi dao và mã tấu không lại, đụng nhau nơi Hãng Ford mấy ông Cộng Đồng hai
bên phải gặp nhau để ký Hiệp ước đình chiến, phe ta giết nhau như cơm bữa tụi
Cảnh Sát Úc chẳng màng điều tra chỉ có một cái ao xà lách xoong mà ông dượng
giết ông cháu vì hái bán cho các shop Tàu
Giang hồ tứ chiến ra đi từ các vùng ven biển quá
dễ, Úc hốt hết rác theo diện nhân đạo, thêm mấy đấng con cháu Bác từ Hồng Kông
sang định cư, tạo nên một cộng đồng khác biệt mà tụi chính quyền Úc không biết
gì hết về tập quán và văn hóa của Ngụy và Việt Cộng, cứ tị nạn là nhận.
Nhưng bù lại là mấy ông du đãng miền Nam thì có
job cày ná thở nơi các hãng ráp xe chỉ quậy cuối tuần cho đời bớt khổ nhưng
người khác khổ, các ông cũng tham gia biểu tình ngày Quốc Hận, và lên phi
trường rượt Phan Hiền Thứ trưởng ngoại giao VC vác bị ăn xin chui cổng hậu, mấy
ông Cán bộ bên Việt Nam sang Úc ngán mấy
cha này lắm, như ông nhà báo Nguyễn vi Túy dùng thân chèn bánh xe Nguyễn cơ
Thạch khi hắn sang Úc ăn mày, may mà tài xế không cán dập xác, sau này ông về
Viêt Nam du hí Công An Tân Sơn Nhất nhìn ông cười tình huề cả làng Việt kiều
khúc ruột thừa đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy về he he he, mẹ cái Cộng đồng nó thúi hoắc tên Luật sư cựu
Chủ tịch Cộng đồng cũng mò về làm luật đầu tư cho Cộng sản VN, bọn mặt mo mang
danh Tị nạn nhiều tên thập thò với Đổ Máu khi hắn sang đây kiếm chút phân từ
Nghị viên cho đến con Hội đồng Thành phố Mai Dù cũng mò về Việt Nam làm ăn,
những rác rưởi ra đi dễ quá nên áo gấm về làng.
Thằng thắng thì cũng chẳng ra gì, bên thua cũng
không vừa, thương thay cho Vua Hùng sinh ra một lũ nửa khùng nửa điên, thằng
khôn thì đã vượt biên thằng ngu ở lại nửa điên nửa khùng, một Quốc Gia mà con
dân như vậy chán mớ đời, đôi khi tôi không sợ không dám nhận mình là dân đánh
thắng ba Đế Quốc sừng sỏ nhất địa cầu mà vác bị đi ăn mày tụi Tư bản, và cũng
không dám nhận mình là Công dân của ông Tông Tông chạy trước hàng quân nổi danh
với câu nói.
-Viện trợ nhiều thì đánh nhiều viện trợ ít thì
đánh ít, như một tên lính đánh thuê.
-Trời hỡi sinh ra chi mấy cha lãnh đạo quá tài
giỏi -Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho liên xô và Trung Quốc.
Nhiều đêm tôi muốn nổi điên khi nhớ lại máu
xương dân lính mình đổ ra trên con đường liên tỉnh lộ 7B, tôi kêu tên Tổng
Thống ra chửi búa xua làm ông Úc già share chung phòng sợ quá không dám ngủ,
nói tôi bị mát dây não, nên trả phòng đi luôn để mình ên tui gánh số tiền $50
một tuần
Bà cô giáo dạy Anh văn buổi chiều không bao giờ
thấy tôi, tôi biến mất khi 12 giờ lunch về tìm việc làm, người Việt chê cái job
Cleaner, vì sĩ diện hảo nhưng làm cu ly kéo cày trong hãng ráp xe thì ok.
Tôi cũng vậy tôi được cái job cleaner một khu
tiện cốt máy, job tôi chuyên thu gom mạt sắt đi đổ công việc là sáng vác cây
Thanh long đao múa khoảng vài trăm đường xong cho vào cái Barrel đem đi đổ, một
hôm tôi gặp đồng hương nữ có chồng Tây rất đẹp, đít vú cuồn cuộn như sóng biển
Thái bình Dương làm tại đây, đọc hồ sơ của tôi xuống tìm, thì tôi ra phía sau
trốn luôn khi biết cô này người Việt hehe tôi ngu thật phải chi nán lại biết
đâu có chút sái, mấy nàng này ăn Hamburger hoài nên thèm nước mắm Phan
Thiết ,(sau này gặp lại nàng là dân Phan Thiết tên Ngọc, bạn của Trần Anh Dũng
mới chết tui, nàng sang đây trước năm 1975, chồng nàng người Mẽo nhưng định cư
tại Úc )
Làm được vài ngày lãnh lương xong, tôi bỏ luôn
về phòng trọ măn râu, nghe tin tức có Ông Chủ tịch hội Việt Kiều gì đó tên Tôn
Thất Ngữ muốn nói chuyện với đồng hương tại Midway Hostel chúng tôi cũng muốn
nghe mấy ông này nói gì ?
Ông này dân Du học cũng sồn sồn cùng với ông Cha
tên Huỳnh San cũng du học nốt, vừa vào câu chuyện tưởng nói công ăn việc làm
hay hướng dẫn người mới đến thì ông Ngữ hỏi
-Nước nhà Thống nhất rồi Đồng bào qua đây làm
gì? mọi người bất mãn bỏ đi hết để ông ta đứng ngớ ngẩn một hồi rồi dẹp tiệm,
ông Cha San cũng không biết cách nào hơn đứng nói chuyện riêng với mấy thằng
cựu Quân nhân chúng tôi
-Sao? mấy anh thành lập Hội cựu Quân Nhân được
không?
Một ông Hải Quân thì đòi thành lập cựu Hải Quân
của ông ta, tôi không ý kiến thì có ông Dũng Xỉn nói
-Cha mình thành lâp hội Cựu quân nhân nhậu.
Nghe nói ông này dân Nhảy Dù chắc nhậu dữ lắm nên có tên Dũng xỉn, sau này có thêm Dũng AK, Dũng Bộ đội, Dũng Từ bi, Dũng Cua, Dũng Còng, toàn anh hùng Lương sơn Bạc riêng Cha San rất đẹp trai ông cười có hai đồng tiền, mấy bà ngoại đạo rất mến mộ gọi bằng Cha nhưng xưng em, ông rất chịu chơi lái một chiếc xe Ford falcon màu xanh hai cửa 8 máy tôi khoái ông vì ông có một tủ sách toàn Tử vi và Thiền học và Triết học tôi mượn về đọc có những cuốn rơi ra các lá thư Tình gửi cho Cha trong trang sách tôi, để nguyên trả lại rồi hỏi
-Cha đọc hết những cuốn này chưa?
-Rảnh đâu mà đọc mua để đó cho xôm tụ mà đa số
là sách biếu không hè.
Tôi cười nói -Cha đọc đi sẽ có Giáng kiều trong
đó he he, tôi và ông rất thân sau này cùng bon bon với nhau đi họp mần chuyện
nước non trên chiếc xe của ông, ông chạy bạt mạng trên xa lộ bị Cảnh sát hú còi
rượt theo dừng lại ông nói.
-Tôi đi làm phép cho người hấp hối gần đây, nhìn
vào bên trong 3 ông đầu đen nhe răng cười cầu tài Cảnh sát cho đi không phạt
Melbourne sau này có thêm một ông cha tị nạn và một ông thầy
Phật giáo, nhìn ông thầy tôi lắc đầu, tôi cũng đi họp với ông này và ông lái xe
cũng bạt mạng không thua gì ông cha, dừng xe đổ xăng tôi thấy ông lăng xăng với
cái máy xe đang nóng hổi tôi nói
-Thầy đừng mở nắp két nước
nghen, tôi đang check nhớt, thì ông chơi ngay mở cái nắp két nước nước sôi văng
vào mặt tôi, ông Nhạc sĩ Văn Giảng kêu trời
-Thầy giết hắn rồi hắn đã nói mà Thầy làm như ri
đui mắt rồi
Tôi phỏng nơi trán, và đôi mắt mờ mờ nhân ảnh
đến Sydney đi bệnh viện và bắt xe lửa về lại Melbourne, giao xe cho ông Thầy
luôn, hôm sau đôi mắt vẫn nhìn đời và nhìn gái không sao, nghe tin tôi bị phỏng
đôi mắt một em trong gia đình Phật tử tên Thanh đến thăm thì thấy tôi ngồi nhậu
với mấy tên ôn dịch độc thân nàng lặng lẽ ra về, lúc này tui cũng có người yêu
trộm à nghen.
Từ đó về sau tôi bye ông Thầy và ông nhạc sĩ Văn
Giảng cũng tu tại gia luôn không đến Chùa
Một đêm có ông cựu Đại tá đến Hall ông Cha San
để nói chuyện Phục Quốc, đám chúng tôi đến nghe người người nô nức khi nghe ông
hô hào góp một bàn tay về khôi phục miền Nam thì ông cháu rể bà Bác Xì tên Lý nói với tôi
-Ông này điếm quốc tế,
tôi nghe làm thinh sau này ông bị bắt trên đường về chẳng làm nên việc gì ngoài
thổi một ngọn lửa đã tàn bùng lên rồi tắt ngấm.
Tôi thường lân la theo ông Cha tán dốc thì gặp
ca Sĩ Ngọc đang lập một ban nhạc nữ các nàng đàn hát, đánh trống xôm tụ, nhưng
khi về tìm Cha xin tiền đi xe lửa về, nhưng nỡ lòng nào để người đẹp về xe lửa
nên ông Cha bảo tôi đưa về, ra xe thì chiếc xe tôi quên tắt đèn hết bình mấy
người đẹp nhào vào đẩy tôi chơi ngẳng cứ vô số mà không mở điện nên đẩy muốn
hụt hơi để các nàng thê thảm tôi mới mở hết công tắc điện chiếc xe nổ êm ru.
Tôi chẳng được cơm cháo gì mà tốn tiền một chầu
Phở, sáng lên Cha Sang tôi đòi tiền
Ông cười he he nói
-Ông có đến 4 người đẹp thì diễm phúc lắm rồi
tiền bạc gì nữa
Tôi nói -Kỳ sau để Cha đưa về tui xin bái bai
mấy con nhỏ tụi nó ăn Phở toàn tô xe lửa không à
-Thì ông thông cảm, tụi nó đánh trống đàn hát
free cũng tội nghiệp. Mà tôi tính biếu Ban nhạc đó vài trăm để tụi nó lấy trớn, ông thấy sao?
-He he tùy Cha, tụi nó ăn quen vòi tiền thì Cha
bán nhà Thờ luôn
Ông Cha San trầm ngâm nói -Mai tôi đến đem ít
quà cho gia đình Phật tử của Diệp Khôi, ông đi không?
-Thôi Cha đi, tôi ngại gặp ông Huyền Tôn vụ đôi mắt của tôi thấy ông là tôi chán lắm.
Cha San rất dễ thương ông hòa đồng Tôn giáo, vì
ông làm việc cho Cộng Đồng một chức vụ chẳng có quyền lợi gì hết ráo tối ngày cứ
bị Cảnh Sát réo vì mấy ông Mít đánh nhau hay đi biểu tình chống Cộng sản mò
sang Úc ăn mày xin đủ thứ, rồi tổ chức
Hội chợ Tết làm ông mệt đừ
-Sao Cha không mời Cha Tiến phụ một tay? tôi hỏi
-Í thôi, ông Cha tuyên úy
đó không thích tôi mệt lắm
Tôi cũng biết Cha Tiến vì quen với em rể của
ông. Ông nói ông không hợp với ông Cha San Du học cho nên không làm việc chung
được, có điều là hai ông Cha rất khoái tánh
lựu đạn của tôi
Có hôm ông Cha Tiến mượn xe của tôi đi đâu đó vì
xe ông bị hư, vừa chạy ra 10 phút ông quay lại trả xe
Tôi hỏi: “Xong rồi hả, Cha? sao nhanh thế?
Ông nói “Trời, tôi
mở cốp xe thấy cây súng có ống hãm thanh tôi hoảng quá đem trả xe lại cho ông.
-Mà ông chơi gì ghê quá, tôi có sang Thái Lan gặp Cha Nam Wong nói về ông, tôi sợ ông luôn, ông Cha Nam Wong khen ông đỡ đẻ giỏi, nói ông ở lại bệnh viện làm luôn ông bỏ về ổng tiếc lắm
-Trời chuyện xưa rồi Cha moi ra mần chi
-Thôi ông lấy cây súng ra đi, ông có
bắn ai bằng cây súng này chưa? khổ quá ông Cha Tiến than
-Thì súng săn mà Cha, không sao đâu thôi ! Tôi đem vào phòng Cha
đi tiếp đi.
Tôi cũng có làm việc tại bệnh viện của Cha Nam Wong 1 tháng, sau khi từ giã cuộc chơi mần Quốc sự
Tết, ông Cha Tiến thường cho tôi một cái bánh chưng. Tóm lại, tôi
thích hai ông Cha hơn mấy ông Thầy. Nghe mấy ông Thầy sổ Nho, tôi điếc tai. Nói
chuyện với Cha vui hơn. Có lần, vì chuyện của Tổ chức, tôi xớn xác đi tìm Cha
San lúc ông đang làm lễ xưng tội cho một bà già trầu.
Tôi đi vào nói nhỏ ông mắc cười không trách vì tôi ngoại Đạo không
biết phép tắc gì ráo, nhưng bà già chửi tôi
như tát nước sau đó vì tôi lỡ nghe bà thú tội hehe, tôi chỉ cười
Lần đầu cựu quân nhân VNCH đi diễn hành
ngày ANZAC Day. Trời thì lạnh mặc cái áo sơ mi
trắng quần đen mấy ông Mít run lập cập vì chờ đến vần V cuối bảng ban tổ chức
không biết là vào ngày này mưa tầm tã mưa phùn như Pleiku, lạnh quá cứ dậm chân
tại chỗ rồi hát
-Đường trường xa con chó tha con mèo mấy ông Úc cười nói
-Tụi mày không lạnh sao? nhưng người Úc hoan hô vang dội khi thấy
cờ VNCH, đây là lần đầu tiên và lần cuối cùng tôi đi diễn hành, sau đó không đi
nữa vì có nhiều tên chưa biết một ngày lính hiện diện nhiều quá.
Cha Nam Wong và tác giả
và Đại Huynh Lâm Phú Bằng lúc này hai thằng ốm nhom
Lúc tôi viết bài này vợ tôi nói
-Khi nào bài này có người đọc thì được ngủ chung, còn không thì
phòng ai nấy ngủ.
Tôi ok nhưng viết chưa xong, nhưng
tôi nói láo gửi rồi, nên vợ tôi cứ vào Youtube để nghe, rồi một đêm bà lủi qua
phòng tôi ngủ.
Tôi hỏi: Bộ có người đọc bài mới rồi hả?
-Chưa mà tại vì em lạnh he he he
Phan Nhật Bắc 2021








.gif)