“Hôm qua dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò
vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về
đâu?
Cánh buồm nâu, cánh
buồm nâu, cánh buồm...”
(Nguyễn Bính)
1)
Cứ chừng dăm ngày một
bận là chiếc thuyền chở hàng của ông Cả Giao lại ngược sông. Được gió là thuyền
căng buồm lướt sóng. Bọn trẻ xóm chài chạy ùa ra hò reo. Dù bận thế nào, Nhi
cũng chạy theo chúng đến đứng ở gốc cây gạo trên đê ngóng nhìn. Cánh buồm nâu
lừ lừ trôi ngược. Đến chỗ ngoặt sang làng Cổ Am thì nó mất dạng vào sau lũy
tre, rặng nhãn. Nhi ngơ ngẩn quay về. Bà Hân nhìn con gái, thương, bảo con:
– Nhi này, đàn ông bạc
lắm, con ơi!
Ông Hân mắng:
– Cái bà này! Đàn ông
có dăm bảy loại chứ!
Nhi chạy vào buồng, úp
mặt vào đống mền chăn, nước mắt ứa ra ràn rụa.
Thuyền chở mắm của ông
Cả Giao cất từ những lò nấu cốt ở tận Cát Hải. Khi nào gió bấc về, cánh buồm nâu no gió, mùi mắm cốt sực nức bay là là ở
trên mặt sông, len vào ngõ. Nhi đứng ở bên cửa tò vò trông ra, thấy tấm lưng
trần của Bằng quẫy ở trước mặt. Bằng gác sào, giơ tay lên vẫy. Nhi chạy dọc
trên đê. Bằng nhảy tùm xuống nước bơi vào.
Bà Hân ngồi bên cạnh vỗ
về con gái:
– Dại giai thì khổ con
ơi! Nó đi, nó lại về. Dăm bữa nửa tháng chứ lâu la gì...
Ông Hân thập thò ở cửa,
vọng vào:
– Nó bảo lần này nó đi
Thổ Hà chở hàng cho ông Tị phải không?
Bà Hân quát:
– Tị nào? Làm gì có Tị
nào?
– Thì ông Tị Ngoám chứ
còn Tị nào?
Ông Tị vẫn bán hàng
nước ở chợ Cổ Am. Trẻ con gọi đùa Tị Ngoám là “ngoạm tí”(!). Bà Hân mắng chồng:
– Nhà Tị Ngoám làm gì
có tiền mà hàng với họ! Đã không biết gì lại còn hay nói!
Ông Hân lụi cụi quay
lưng ra ngồi ở hè đan sọt. Ông nghĩ bụng:
– Ừ... Mà thuyền ông
Cả Giao từ xưa chở tuyền mắm cốt chứ chở gì đâu!
Ông Hân chỉ nghe tiếng
ông Cả Giao chứ chưa gặp mặt bao giờ.Ông ấy ở bên HảiThịnh,có tiếng là người
nghĩa khí. Bằng là con út, chẳng hiểu thế nào đi lại với Nhi.
– Số con khổ lắm u ơi!
Bà Hân mắng con:
– Phỉ phui! Cô thử xem
thầy u nuôi cô thế nào? Có đói không? Có rét không? Chị em trong xóm có ai bằng
cô không nào?
Nhi nức nở:
– Con lạy u...
Bà Hân dỗ dành:
– Mới tí tuổi đầu đã
than khổ người ta cười cho... Nghe lời u, dậy ăn cơm tối rồi hai mẹ con sang
bên Cổ Am xem bói. Cô đồng Xuyến ở trên tỉnh về đang trọ ở nhà dì Thảo, nghe
nói bói giỏi như thần.
Ông Hân nghe thấy
tiếng được tiếng mất, cằn nhằn:
– Dào ôi... già rồi
còn dại, bói với toán gì!
Bà Hân làm ra vẻ giận:
– Thì mặc u con chúng
tôi! Ông thì biết gì, cái đồ gàn dở kia!
– Ừ thì tôi gàn! Tiền
mất tật mang. Không khéo mua lo vào mình.
– Thì ai lấy tiền của
ông! Đồ keo kiệt... Mà cái ngữ ấy làm gì có nổi được đồng cắc nào trong người.
– Thì có đồng nào bà
đều lột sạch lại còn già mồm gì nữa.
Bà Hân cười chảy nước
mắt. Nhi nghe hai thầy u cãi nhau cũng thấy buồn cười. Ông Hân nổi tiếng thật
thà, hiền lành. Lúc nào cũng bị bà vợ bắt nạt. Nhi biết, cả hai thầy u tuy thế
rất hợp tính nhau.
– U bảo thầy dọn cơm
rồi hai u con mình ra ăn cơm. Nghe u đi nào!
– Thôi, con không ăn
đâu, con không đói.
Bà Hân kéo con gái dậy:
– Cha bố cô! Định nhịn
à? Tương tư thì cũng phải ăn phải uống... Lão già kia! Bỏ đấy rồi đi dọn cơm đi
chứ! Cứ dỏng tai ra nghe trộm cái gì?
– Ai nghe? Ai
nghe?
Ông Hân vội bỏ cái sọt
đan dở, vội vội vàng vàng lủm củm xuống bếp, vừa đi vừa lẩm bẩm:
– Nóng như lửa! Đúng
là cái đồ giặc cái!
2)
Bà Hân với Nhi vừa ra
khỏi nhà một lúc thì gió bấc về. Tiếng gió thổi sáo ở đầu cột hiên thào thào.
Ông Hân sốt ruột đi ra đi vào:
– Bảo mặc thêm cái áo
bông thì cứ đẩy ra. Lại còn mưa phùn nữa chứ! Con bé tong teo chỉ thổi một cái
là bay. Đêm hôm thế này mà đi đường đê thì có rồ không?
Ông Hân đẩy cửa ra
ngoài để đóng chuồng gà thì con chó mực sủa nhặng cả lên. Ông Hân xô phải một
bóng đen lù lù trước mặt. Sợ hãi, ông định kêu lên thì người kia xua tay, đẩy
ông lùi lại.
Trước mặt ông Hân là
một người cao lớn, mặc bộ đồ chàm như ở mạn ngược, ông ta đội chiếc nón dấu
rộng vành sụp mặt, chéo lưng là cái tay nải với chiếc đao ngắn bên trong, chỉ
thò ra cái chuôi đao bịt đồng xỉn bóng. Người kia thì thào:
– Xin đừng sợ! Tôi là
Cả Giao ở bên Hải Thịnh! Tôi đến vì chuyện cháu Bằng nhà tôi với con cháu
Nhi...
Ông Hân thở phào, khêu
ngọn đèn dầu cho sáng. Ông Cả Giao cởi tay nải, cởi đao đặt lên chõng, hai tay
ôm ngực. Ông cởi cúc áo để lộ ra một vết chém máu đã đông lại. Nằm vật xuống,
ông Cả Giao bảo:
– Phiền ông lấy cho
cái gì băng giùm vết thương, mỗ xin đa tạ.
Ông Hân cuống quýt lấy
nước nóng, lấy muối rửa vết thương rồi băng bó lại. Vị khách thều thào:
– Tôi đi suốt ngày
suốt đêm đã mấy hôm rồi, không có một hột cơm nào vào bụng. Tôi ở tận trên Móng
Cái...
Vị khách nói xong thì
cứ thế ngủ thiếp đi, có lẽ không làm sao chế ngự được mình. Ông Hân thương hại,
lấy tấm dạ mỏng đắp cho khách rồi kéo cái tay nải kê đầu, để thanh đoản đao bên
cạnh. Xong xuôi, ông đi xuống bếp bắt gà làm thịt, nấu cho ông khách nồi cháo
để chờ khi dậy thì ăn.
Khoảng sang giờ Hợi
thì bà Hân về. Cả hai mẹ con rét run cầm cập. Ông Hân ra tận ngoài ngõ đón vào.
Ông Hân rền rẫm:
– Khổ! Bói toán có
được gì không?
Bà Hân xuýt xoa vì
lạnh, răng đánh vào nhau lập cập:
– Hay quá ông ơi, con
Nhi nhà này phúc lộc như giời như biển... Vào nhà rồi tôi kể cho mà nghe.
– Nhà đang có
khách.
Ông Hân kéo 2 mẹ con
xuống bếp, sung sướng, đắc ý:
– Có biết ai không?
Ông Cả Giao đấy!
Bà Hân ngẩn ra ngờ vực:
– Cả Giao nào?
– Cả Giao chứ Cả Giao
nào! Cả Giao ở bên Hải Thịnh!
Nhi giật mình, mắt
long lanh sáng. Ông Cả Giao là thầy anh Bằng, chắc là có chuyện...3 người xuống
bếp. Ông Hân chất rơm để lửa bùng lên cho hai mẹ con sưởi ấm. Ông Hân kể
chuyện, chẳng câu nào vào với câu nào:
– Cái con chó mục cứ
sủa nhặng lên, nó đi giật lùi ra ngõ... Nó biết nó gặp anh hùng nó phải biết
thân.
Bà Hân điên tiết:
– Nào, nào! Đầu đuôi
xuôi ngược làm sao? Ông ấy nói gì?
– Chẳng nói gì! Tí nữa bà cứ lên cầm cái đao ông
ấy mà xem, nặng ơi là nặng. Sức tôi mà cũng phải cử bằng cả hai tay. Như đao
Quan Công.
Mùi cháo gà thơm sực.
Bà Hân nhìn quanh quất:
– Thôi chết! Cái lão
già này mất nết! U con tôi vừa đi vắng là bắt trộm gà làm thịt đánh chén tì tì.
Con cái Nhi! Mày thử mở vung xem còn cái xương nào không?
Ông Hân khổ sở, giấu
hai bàn tay to tướng sau lưng:
– Con mẹ này! Chỉ
tuyền vu oan giá họa... Ông ấy bị thương, đã mấy ngày rồi không ăn uống gì.
– Sao lại bị thương?
Con mực nhà này có cắn người bao giờ đâu? Thế ông ở đâu mà để nó cắn người ta
hở giời?
– Không phải chó cắn!
Ông Hân dỗi vợ, bỏ đi
ra ngoài:
– Cứ sồn sồn lên! Đã
thế tôi chẳng nói nữa cho xong!
Bà Hân lấy thìa nếm
thử nồi cháo, cười:
– Cái lão gàn này! Nấu
ngon ra phết! Chỉ được mỗi cái ăn chơi là giỏi! Con cái Nhi! mày ra ngoài vườn
nhổ ít hành vào đây cho u!
Ông Hân cầm nắm hành đi
vào, người ướt lướt thướt:
– Hành đây! Chỉ được
cái hay sai vặt! Càng già tính khí càng ác.
3)
Ông Cả Giao ngồi dậy.
Bà Hân bưng nồi cháo gà thơm phức lên mời khách. Nhi múc cháo ra bát, hay tay
bưng lên. Ông Cả Giao chẳng khách khí gì, húp một lúc hết 3 bát cháo nóng hổi
rồi khà một tiếng. Dọn dẹp xong xuôi, ông Hân định đốt thêm ngọn đèn dầu nữa
cho sáng thì ông Cả Giao gạt đi:
– Đa tạ ông, mỗ đang
rất vội. Xin mời ông bà ngồi đây mỗ xin thưa chuyện.
Ông Cả Giao mở tay
nải, lấy ra một vuông vải điều đặt lên bàn, trong đó đựng đầy vàng bạc. Xong
xuôi, ông quỳ xuống đất trước mặt hai ông bà Hân, tay chắp vào nhau cung kính:
– Xin nhị vị nhận của
mỗ này một lạy!
Ông Hân luống cuống,
đỡ khách:
– Không dám! Không
dám! Sao ngài làm thế?
Ông Cả Giao đứng lên,
đĩnh đạc ngồi xuống rồi nói:
– Thưa ông bà, chẳng
là cháu Bằng nhà tôi với con cháu Nhi hai đứa vốn có duyên phận với nhau. Nhẽ
ra nhà tôi phải sang hầu chuyện với hai ông bà đã từ lâu rồi. Chẳng may nhà tôi
gặp hạn, bọn cướp đốt nhà, cướp của, người còn người mất. Cháu Bằng bị thương,
bây giờ vẫn đang lưu lạc ở xa. Cháu chỉ tâm niệm một điều làm sao có được cháu
Nhi bên cạnh...Tôi phải phá vây về đây, cũng là thương con, đường đột dâng lễ,
muốn đón cháu Nhi nhà ta đi ngay bây giờ. Nhà tôi có hơn mấy chục mạng người,
kể cả người làm người ở, tất cả đều bị giặc kia chém sạch, nay còn có mỗi giọt
máu này thôi! Xin hai ông bà với con cháu Nhi cứu nó! Cứu một mạng người phúc
đẳng hàng sa...
Nói xong ông Cả Giao
lại sụp xuống lạy. Ông Hân, bà Hân không biết nói sao cứ lặng người đi. Ông Cả
Giao phủ phục dưới đất, không hề nhúc nhích. Tiếng gà trong xóm bắt đầu gáy dạo
canh tư.
4)
Đến canh tư, khoảng
đầu giờ Dần thì ông Cả Giao với ông bà Hân cũng đã bàn định xong xuôi mọi việc.
Trong buồng, Nhi vừa sụt sịt khóc vừa xếp áo quần vào trong tay nải. Bà Hân
khóc ròng, vừa dỗ dành con vừa than thở:
– Con mẹ đồng Xuyến
nói cấm có sai! “Vội vàng như chẳng kịp”. Nó bảo về nhà là có “hắc long tiếp
dẫn” thì đúng còn gì! Ông ấy mặc quần áo đen... Thế là “hắc long” chứ còn gì
nữa!
Bà Hân cởi chiếc áo
bông trần đang mặc trên người dúi vào tay Nhi:
– Mang cả đi! Ở nhà u
sắm cái khác! Trên ấy rét lắm con ơi!
Nhi lắc đầu, ôm cái
tay nải vào lòng:
– Không! Con có rồi. U
cứ để nhà mà mặc!
Bà Hân mếu máo:
– Phải! Cha bố cô! Cô
chê chứ gì! Có chồng, chồng lo cho hết... thiết gì đến u.
Nhi nức nở, sà vào
lòng mẹ:
– U ơi! Con đi rồi,
chỉ còn thầy u ở lại, con biết lấy gì báo đáp thầy u?
Bà Hân khuyên nhủ:
– Đừng lo cho thầy
u!Thầy con tuy thế nhưng còn mạnh chán. Con cứ đi đi, phụng sự nhà chồng. U
thấy cốt cách bên ấy khác người u cũng mừng thầm, chỉ hiềm cái hạn người ta lớn
quá, chẳng biết thế nào. Con đi đi, dăm bữa nửa tháng phải đánh tin về cho thầy u biết.
Bên ngoài, ông Cả Giao
đã nai nịt xong xuôi gọn gàng, bồn chồn giỏng tai lắng nghe động tĩnh. Có tiếng
cú rúc 3 lần giục giã. Ông Cả Giao đứng lên, cầm chắc đoản đao trong tay. Ông
Hân vội vội vàng vàng ngó vào cửa buồng:
– U con mày đã xong
chưa? Làm gì lâu thế?
Bà Hân khép hờ cửa
buồng, quát khẽ:
– Đi ra! Đi ra! Tôi
còn cho nó cái này!
Bà Hân đi vào góc
buồng, chỗ để mấy cái nồi đất chỏng chơ, với tay lên xà nhà lấy ra một cái gói
nhỏ dúi vào tay con gái:
– Đây là đôi hoa tai
bạc bà ngoại cho u hồi u mới đi lấy chồng.
Bà Hân cười:
– U giấu ở ngay dưới
mũi lão già mà lão ấy chẳng biết gì. Con cầm lấy, nó là hồi môn của u cho con.
Nhớ nhé! Lên đấy thế nào con phải đánh tin về ngay cho thầy u biết.
Bà Hân đưa con gái ra
khỏi cửa buồng. Nhi đội khăn vuông, mặc áo bông, khoác tay nải, rực rỡ như một
đóa quỳnh trong đêm. Bà Hân gói cả gói vàng bạc sính lễ mà ông Cả Giao mang đến
dúi vào tay nải cho cô con gái. Nhi òa khóc, quỳ xuống trước mặt hai ông bà
Hân:
– Con lạy thầy u, con
bất hiếu... Thầy u ở lại giữ gìn... tha lỗi cho con...
Ông Hân bỗng khóc tu
tu. Tiếng khóc vỡ òa ra đột ngột khiến con chó mực ngoài sân cũng giật thót
mình, sủa lên mấy tiếng ai oán. Ông Cả Giao xốc Nhi đứng dậy, gỡ tay bà Hân.
Mấy người dắt díu nhau ra bến sông. Ông Cả Giao bắt chước tiếng cú rúc. Một
chiếc thuyền nhỏ neo ở giữa sông sáp vào đón họ. Ông Cả Giao đỡ Nhi lên thuyền
rồi quay lại chắp tay chào ông bà Hân. Mặt sông lạnh. Gío bấc cứ hun hút thổi.
Tiếng chèo khua mạnh lạnh lùng. Vầng trăng khuyết cuối trời nhòe đi trong dòng
nước mắt.
Thuyền ai trôi, thuyền
ai trôi rồi?
Kìa con thuyền trôi,
con ơi, nước trôi
Kìa con sông đời, lạnh
toát, xa vời
Mênh mông bể cả mưa
nguồn xa xôi
Ngẫm sự đời...
Tang thương ngẫm những
sự đời
Phù hoa muôn nẻo
phương trời
Ai luống ngậm ngùi
Thế gian ai luống ngậm
ngùi tình si?
Cái đêm hôm ấy đêm gì,
Để cho ai nhớ khắc ghi
trong lòng?
Chân trời góc biển
mênh mông
Hỏi ai, ai biết cho
không
Não ruột trong lòng
Mẹ cha não ruột trong
lòng năm canh
Đêm năm canh, giấc ngủ
chẳng thành
Con lấy chồng gần, con
lấy chồng xa
Xót lòng nẫu ruột mẹ
cha
Những muốn khóc òa
Thương con những muốn
khóc òa đêm nay
Nơi xa con hỡi có hay
Thấu gan ruột này?
Trăm đắng ngàn cay
Sầu đong càng lắc càng
đầy
Ba thu dọn lại một
ngày dài ghê
Xứ người trăm nỗi tái
tê
Nào ai biết được đường
về nông sâu?
Chiều chiều ra đứng
ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột
đau chín chiều...
5)
Nhi đi rồi, ngôi nhà
tranh vách đất bên sông tiêu điều như thể không có hồn vía. Bà Hân ốm lử khử
đến mấy tháng ròng. Lúc đầu, hai ông bà còn hay nói chuyện với nhau:
– Con mẹ đồng Xuyến nó
bảo số của con Nhi phải lấy chồng xa. Tướng nó ích phu, lợi tử, tiền của đầy
nhà...
Ông Hân ngậm ngùi:
– Ừ! Tôi chỉ sợ nó dát
nước mà nhà người ta làm nghề sông nước...
Bà Hân lặng đi, bùi
ngùi:
– Hồi nó 3 tuổi, ông
còn nhớ đận dì Thảo bị trâu húc chột mắt không, nó lên sởi, chỉ bị tí nước té
vào mà người đỏ rực như than hồng,nó sốt đến bốn năm ngày.
– Cũng chỉ tại bà để
cái gáo nước thẻo đảnh mới ra cơ sự thế chứ?
– Vâng! Tôi vụng, tôi
ngu, tôi dại!
Hai ông bà ngồi ôn lại
ký ức về cô con gái. Họ cãi cọ nhau, hờn dỗi...
3 tháng trôi qua,
không hề có tin tức gì của Nhi.
Một hôm bà Hân bảo
chồng:
– Thôi chết! Hóa ra
mình cho không con gái mình cho người ta. Chẳng cưới cheo gì, có tủi không? Bây
giờ chẳng biết ở phương trời nào.
– Thì cứ bảo số nó tốt
mãi đi! Cứ nghe con mụ đồng Xuyến rồi bán cả nhà...
Bà Hân dụ chồng:
– Hay là ông đi Hải
Thịnh một chuyến xem sao, đi ngóng tin tức nó xem thế nào?
– Nhưng bà đang ốm,
tôi đi làm sao được?
– Ốm đau gì? Ông cứ đi
đi. Tôi mạng lớn, không chết được đâu!
2 hôm sau, ông Hân tìm
đường đi sang Hải Thịnh. Đây là lần đầu ông lão xa nhà. Bà Hân nằm trên ổ rơm,
đắp chiếu, ngóng từng giờ một. Con chó mực nhịn đói, nằm ở gốc hè cứ rên ư ử.
Sang ngày thứ sáu thì ông Hân về, phờ phờ phạc phạc, hai con mắt lõm sâu vào ở
trong hốc mắt, trông lạ hẳn đi. Bà Hân hốt hoảng, chỉ thốt ra được một tiếng
hỏi chồng:
– Sao?
Ông Hân ngồi im, thẫn
thờ, không nói câu gì. Bà Hân đâm sợ, cũng không dám hỏi. Ông Hân ngồi im một
lúc, bỗng òa lên khóc:
– Bà nó ơi, mình mất
con bé Nhi rồi.
Bà Hân căn vặn một
lúc, chắp nối những câu rời rạc trong tiếng nấc nghẹn của chồng, cuối cùng hiểu
ra được đầu đuôi câu chuyện. Ông Hân đi khắp cả vùng Hải Thịnh hỏi han nhưng
không ai biết về ông Cả Giao. Ông Hân đi sang Cát hải, người ta cũng nói đến một
ông Cả Giao nào đó chuyên cất mắm cốt nhưng nửa năm nay bặt không thấy đến.
Hai ông bà già bàn
định, bán tín bán nghi. Ông Hân tính đi Móng Cái nhưng không đủ tiền, đủ sức.
Rồi một năm nữa trôi
qua, cũng không có tin tức gì của Nhi. Ông Hân, bà Hân già sọm hẳn đi, mọi việc
trong nhà bỏ hết. Cuối năm đó, con chó mực bỗng lăn ra chết trước hiên nhà. Tết
năm đó là 1 cái tết hiu quạnh buồn thiu ở trong ngôi nhà trống vắng, nơi mà
ngày xưa dù có nghèo túng đến mấy nhưng không hề dứt tiếng cười.
Bà Hân mắt đã mờ đi vì
khóc. Ông Hân trở nên lẫn lộn, cứ hay ra ngồi bên sông một mình, lúc nhớ lúc
quên.
Sang năm dậu, nạn dịch
tả lan tràn khắp nơi, có nhiều người chết. Nạn dịch lan đến làng Cổ Am, lan
sang làng Hạ. Ông bà Hân cũng chết về dịch tả, ông đi trước, bà đi sau, chỉ
trong một ngày. Khi còn sống, bà Hân vẫn hay đùa chồng:
– Thế nào lão cũng
chết trước cho xem. Số lão vẫn sướng, chẳng là vẫn quen có người hầu hạ ngồi
mát ăn bát vàng. Chỉ có tôi đây là khổ! Giời không có mắt, những người gàn dở
thì giời lại cứ bênh vực là nghĩa lý gì?
Những khi ấy, ông Hân
chỉ cười tủm tỉm, chắc là ông nghĩ:
– Cái con mẹ này quái
ác! Đã chết thì còn sướng nỗi gì mà còn phân biệt trước sau. Đã gàn dở lại mắng
người ta gàn dở!
6)
Tôi sẽ là một người kể
chuyện nhẫn tâm nếu tôi không thêm vào một cái kết ra trò cho câu chuyện ấy.
“Đa tình kiếm khách, vô tình kiếm”. Nhiều khi ngòi bút vẫn cứ lạnh lùng không
theo ý của chủ nhân, dẫu rằng thực ra có hậu hay không có hậu với một kiếm khách
hay một văn nhân đôi khi cũng không có ý nghĩa gì quan trọng. Khi lưỡi kiếm đã
vung lên rồi cũng như khi ngòi bút đã vung lên thì ai đó trách rằng vô tình
cũng đành chịu vậy. Nhưng mà thôi, đây là một câu chuyện giản dị và tôi cũng
muốn có một nụ cười giản dị để dành cho bạn khi kết thúc câu chuyện này.
Khoảng 10 năm sau, sau
khi hai ông bà Hân chết thì một hôm có một chiếc thuyền buồm nâu ghé vào bến
sông giữa làng Cổ Am và làng Hạ. Hôm ấy đang có hội làng. Người ta rước kiệu từ
đình làng Cổ Am xuống làng Hạ rồi lại quay về. Khách thập phương kéo đến xem
hội đông như kiến cỏ.
Lúc đầu, cũng không có
ai chú ý đến người thiếu phụ với 6 đứa con bụ bẫm vừa trai vừa gái ở trên
thuyền vừa bước lên bờ. Hai cô hầu gái loay hoay với lũ trẻ con nghịch như quỷ
sứ. Thiếu phụ bồn chồn, chân như ríu lại. Thiếu phụ hỏi thăm mấy người đi hội:
– Thưa các bác, ở đây
có ai người làng Hạ không? Có ai biết nhà ông bà Hân không?
Một bà cụ già đang ngồi
bán củ ấu cho bọn trẻ con vồn vã:
– Có tôi đây! Ai hỏi
ông bà Hân đấy? Có đúng bà Hân tính hay đùa nhả nhà gần cây gạo phải không?
Thiếu phụ reo lên mừng
rỡ:
– Phải! Cụ ơi, cụ biết
ông bà Hân chứ? Cháu là Nhi đây, cháu là con gái ông bà Hân đây!
Bà cụ dừng tay gói nắm
củ ấu cho một người đàn ông có vẻ như người mới ở tỉnh về, ngạc nhiên:
– Con cái Nhi! Con
nỡm! Thế mày không nhận ra dì mày à? Dì Thảo mày đây!
Nhi như quỵ xuống
trước mặt bà cụ. Người đàn ông mặc bộ vét-tông màu trắng đã ngả vàng đang mua
củ ấu vội vã đỡ lấy cô.
Bà cụ Thảo kể cho cô
cháu nghe chuyện cũ. Mọi người xúm xít lại nghe. Nhi òa lên khóc nức nở khi
biết tin thầy u mình mất đã chục năm rồi. Cô xua hai người hầu gái với mấy đứa
con đi vào xem hội rồi một mình đi về nền ngôi nhà cũ. Người ta chỉ đường cho cô
ra mộ hai ông bà Hân. Người đàn ông trên tỉnh lững thững đi phía sau cô, vừa đi
vừa lơ đãng nhìn xuống dòng sông nơi có chiếc thuyền buồm nâu neo đợi.
Nhi loay hoay bên hai
ngôi mộ, cô ngồi nhổ cỏ rồi phủ phục ở đấy rất lâu. Người đàn ông lạ lùng kia
lặng lẽ mang đến cho cô thẻ hương và đặt nắm củ ấu vừa mua lên mộ. Nhi lau nước mắt:
– Cám ơn ông! Thế ông
cũng có người thân chôn ở nghĩa địa này à?
Người ấy gật đầu.
– Thưa ông, ông đã
nghe câu chuyện của tôi, vậy ông có khinh tôi là đứa con bất hiếu, phụ bạc cha
mẹ mình không?
Người đàn ông tỏ vẻ
không vui:
– Sao cô nghĩ thế? Cô
nghĩ sai rồi! Cô hạnh phúc, thế là thầy u cô dưới suối vàng mừng lắm còn gì!
– Cám ơn ông. Được ông
nói thế, thật tình tôi như trút được gánh nặng trong lòng.
Người đàn ông quay ra
đứng ở ngoài đường. Nhi thắp hương, khấn vái một lúc rất lâu rồi về. Cô ngạc
nhiên khi thấy người đàn ông kia đứng đó. Người ấy nói:
– Phong cảnh ở đây rất
tuyệt. Những cánh buồm nâu là thứ mà tôi thích nhất.
Nhi nói:
– Tôi phải về thuyền.
Mấy mẹ con tôi phải về Móng Cái. Chồng tôi là chủ hãng buôn ở đó. Khi nào ông
lên Móng cái mời ông ghé chơi. Tôi tên là Nhi, chồng tên là Bằng, hỏi ai cũng
biết.
– Có phải Bằng là chữ
bằng trong câu “chim bằng bay rợp trời xanh không cùng” không?
– Thưa ông, tôi không
biết, tôi dốt lắm. Thưa ông, tôi khó nghĩ quá, việc này tôi không muốn nhờ cậy
ai, tôi muốn đường đột nhờ cậy ông liệu có được không?
– Được!
– Thưa ông, ông còn ở
đây, tôi muốn nhờ ông khắc giùm cái bia đặt lên trên mộ thầy u của tôi để mà
đánh dấu, như thế liệu tôi có phiền ông quá hay không?
– Không sao! Tôi cũng
muốn có bia ở vùng đất này.
– Đa tạ ông nhiều.
Thầy tôi tên Hân, u tôi tên Lành, cả hai mất vào năm Dậu.
Nhi và người đàn ông
kia trở về đám hội. Nhi vào đình làng gửi tiền công đức rồi mấy mẹ con ríu rít
xuống thuyền. Cánh buồm nâu quay đầu, lặng lẽ xuôi dòng tìm đường ra biển.
Nhi không biết người
đàn ông lạ lùng mà Nhi nhờ cậy hôm ấy là một nhà thơ nổi tiếng. Người ấy đã tìm
được một tấm đá khắc bia. Chỉ có điều, người ấy không làm sao nhớ nổi tên hai
ông bà già xấu số. Cuối cùng, người ấy đã khắc lên tấm bia đá hình một cánh
buồm làm dấu. Bây giờ, nếu ai đến nghĩa địa của làng Cổ Am và làng Hạ, nhìn
chếch phía bên phải cây gạo ven sông, vẫn thấy ở đấy có một ngôi mộ đôi trên
gắn tấm bia đá sứt sẹo. Trên tâm bia ấy có một cánh buồm. Dưới cánh buồm sau
này bọn trẻ chăn trâu nghịch ngợm có khắc thêm hình mấy cái mũi tên xuyên qua
trái tim. Người ta gọi đó là mộ “trái tim tan nát”. Bài thơ về những cánh buồm
vẫn được lưu truyền ở trong dân gian như một chuyện kể về tình yêu trai gái. Mà
tình yêu, bạn biết không, cái món quà tuyệt vời mà Thượng đế hào phóng ban tặng
cho con người đời ấy, bao giờ cũng phải trả giá bằng những giọt nước mắt nghẹn
ngào, dù muốn hay không cũng vậy.
Nguyễn Huy Thiệp

No comments:
Post a Comment