“Tống Lê Chân”, mới
nghe qua, như tên người con gái Trung Hoa, có nhan sắc đẹp tuyệt vời, tài danh
nổi bật, được ghi trong sử sách lưu truyền cho hậu thế!
Tôi không biết mỹ danh
đó có từ lúc nào, xuất xứ từ đâu? Nhưng nó đã chiếm một vị trí chiến lược vô
cùng quan trọng trong mùa Hè đỏ lửa 1972. Nhiều Sư Đoàn chánh quy bắc việt được
yểm trợ bởi chiến xa và đại pháo hạng nặng, ồ ạt tiến sang từ biên giới Campuchia
và Hạ Lào, theo đường mòn hồ chí minh, với mưu đồ đánh chiếm 2 tỉnh Bình Long
và Phước Long để thành lập chánh phủ gọi là “Mặt trận giải phóng miền Nam”, gây
hậu thuẫn quốc tế và đặt áp lực nặng nề cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Sài
Gòn.
Tống Lê Chân là một
địa danh, hay đúng hơn là một ngọn đồi chiến luợc, khoảng hơn 5 dặm về hướng
Tây Nam của thành phố An Lộc. Ngọn đồi này nhờ nằm ở một địa thế cao, được trấn
giữ bởi 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa rất tinh nhuệ, nên nó chính
là tai và mắt, không những cho thành phố An Lộc mà ngay cho chính thủ đô Sài
Gòn, vì nó kiểm soát được sự vận chuyển của bộ đội bắc việt và cơ giới chiến
tranh, về hướng Tây Bắc Sài Gòn, đưa quân vào Bình Dương, Lái Thiêu và Biên
Hòa, nơi đặt Bộ Tư lệnh Vùng 3 Chiến Thuật. Vì lý do chiến thuật và toàn bộ
chiến lược xâm chiếm miền Nam, nên ngọn đồi Tống Lê Chân là cây gai nhọn nhức
nhối trong nách, cộng sản phải nhổ nó đi bằng mọi giá.
Từ một ngọn đồi hiền
lành, xung quanh bao bọc bởi rừng xanh bát ngát, dưới chân đồi một con suối uốn
khúc quanh co, tô đậm nét như một bức tranh thủy mạc. Nếu không có trận chiến
vừa qua, cũng chẳng có ai cần biết nó, như Ben Hét, Đức Cơ, Dakpek, Dakto...
Những địa danh thật xa
lạ với mọi người dân thị thành, nhưng bỗng chốc, nó trở thành những danh xưng
được nhắc nhở thường xuyên qua những trận đánh hãi hùng, khiếp đảm, hàng ngày
trên báo chí, đài phát thanh, màn ảnh truyền hình, đã làm chấn động lương tâm
thế giới.
Đã lâu lắm rồi, những
vết tích tàn phá của chiến tranh trong trí nhớ gần như đi vào quên lãng. Nhưng
chiều hôm nay nó được hâm nóng và sống lại trong tôi, vì tình cờ đã gặp lại
những chiến hữu cùng một đơn vị sau hơn 20 năm dài đằng đẵng cách biệt.
Người hùng “Tống Lê
Chân”, cựu Đại Úy Lê Văn Cầu, Phi Tuần Trưởng của Phi Đoàn 237 Chinook, tôi
không dùng đại danh hay ca tụng anh để lấy lòng, nhưng sự thật đã xảy ra cách
đây trên 2 thập niên vừa qua. Vẫn dáng người gầy gầy như ngày nào, nhưng không
bao giờ thiếu nụ cười cỡi mở, buông thả trên gương mặt để đón chào anh em chiến
hữu.
Gặp lại anh trong bữa
tiệc họp mặt tại thành phố San Jose California, với một số anh em cựu Lôi Thanh
như: Nguyễn Mai, Trần Duy Tôn, Lưu Thế Ngọc, Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Vũ, Nguyễn
Văn Mai (Đà Nẵng) cùng hai phu nhân của hai anh Vũ và Mai. Thật sung sướng và
hãnh diện, tôi được may mắn gặp lại anh em đã có một thời chiến đấu vào sinh ra
tử có nhau, chia sẻ từ bịch gạo xấy, lon thịt heo ba lát, cùng ngồi ăn trưa
dưới bụng tàu, trong những buổi trưa Hè nắng cháy của vùng hỏa tuyến Tây Ninh.
Bây giờ gặp lại các
anh em ở vùng đất xa lạ này, chúng ta tuy có già thêm đôi chút, cuộc sống nhiều
thay đổi hơn xưa, tuy vậy tình anh em vẫn nồng nàn, ấm áp như thuở
nào.
Tôn vẫn tính nào tật
nấy, hào hoa quá mức, Ngọc ăn chơi công tử, Vũ vẫn hoạt bát trẻ trung, Mai cứ
ngỡ là tài tử Henry Chúc, Tiên mới sang nên còn nhiều ưu tư bỡ ngỡ. Niên trưởng
Mai cựu Phi Đoàn Trưởng Đà Nẵng, mới về hưu ở hãng IBM, trông đạo mạo như cụ
non, cần nhiều chất tươi để tóc bớt rụng!
Chúng tôi chia nhau
chén tới chén lui, chén qua chén lại, từ 3 giờ trưa mãi đến gần 7 giờ chiều, vì
có nhiều anh em phải đi đám cưới chiều hôm đó nên chúng tôi tạm chia tay nhau,
và hẹn sẽ gặp lại ở vũ trường Mini vào lúc 9 giờ 30 tối.
Niên trưởng Mai đưa
tôi về để thăm gia đình anh chị. Còn “chú Tư Cầu” về nhà rước vợ con sẽ tới
sau.
Thật hạnh phúc và sung
sướng không ai bằng, “chú Tư Cầu” được thím Tư vừa trẻ, vừa đẹp, về để giúp chú
“nâng cằm sửa mũi..”và tặng cho chú 2 cháu thật ngoan hiền, kháu khỉnh dễ
thương. Lúc này niên trưởng Mai, có lẽ muốn dành sức lực để phục vụ bà xã tối
nay, nên xin vào nghỉ lưng một tí, còn tôi với “chú Tư Cầu” ngồi lai rai nhậu
tiếp dài dài, kể chuyện trên trời dưới biển, rồi đến chuyện hành quân ly kỳ,
hấp dẫn của một thời “Dốc Sỏi” Biên Hòa.
Tôi biết Cầu từ ngày
thành lập đệ nhất Phi Đoàn Chinook Lôi Thanh 237, vào giữa khoảng năm
1970-1971, anh thuộc vào nhóm sĩ quan hoa tiêu trẻ, mới ra trường, chưa vợ con,
rất hăng say hoạt động trong mọi công tác. Còn chúng tôi, lúc đó không đến nỗi
già lắm, tuy nhiên đối với anh em thì được xếp vào lớp “lão làng”.
Vào khoảng mùa Hè năm
1972, chiến trận ở vùng 3 Chiến Thuật càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn,
thành phố An Lộc chịu đựng hàng ngàn trái đạn pháo ngày đêm,
nhà cửa, phố xá nát tan từng mảnh vụn, dân chúng đã bồng bế, dẫn dắt nhau, bỏ
hết tài sản theo quốc lộ chạy về hướng Chơn Thành, về gần Sài Gòn.
Tiền đồn Tống Lê Chân
được tử thủ bởi khoảng 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, đã bị cô lập nhiều tuần bởi
cả Trung Đoàn chính quy bắc việt, đang rình rập sát dưới chân đồi, trực thăng
tải thương và tiếp tế bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 và súng phòng không đe dọa trầm trọng, không thể đáp được trong ban ngày, phi cơ vận tải
C-130 thả dù thực phẩm, thuốc men, phần lớn đều bị gió đưa ra ngoài, vào vùng
kiểm soát của địch.
Việt cộng thường xuyên
pháo kích, đại pháo cày nát gần trọc hết ngọn đồi, những chiến sĩ Mũ Nâu gan lì
Việt Nam Cộng Hòa, núp trong những giao thông hào, sâu trong lòng đất như những
con rắn độc, đã oai hùng, mảnh liệt đốn ngã những đợt tấn công biển người của
việt cộng. Trung Tá Ngôn, Chỉ Huy Trưởng tiền đồn kêu gọi Không Quân cho trực
thăng đưa quân vào tăng viện và chuyển bớt thương binh về bệnh viện để ông rảnh
tay chiến đấu. Lệnh từ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đưa xuống Chuẩn
Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân, yêu cầu cho trực thăng Chinook CH-47 Phi
Đoàn 237 thi hành phi vụ cảm tử này. Lôi Thanh 1, Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn 237
nhận đưọc mật lệnh, ông cho mở một cuộc họp kín, với sự có mặt đầy đủ 1 số anh
em phi hành đã có nhiều kinh nghiệm chiến trận, để chọn người tình nguyện. Sau
khi Lôi Thanh 1 tuyên bố lý do và cho biết mật lệnh, không khí trong phòng họp
lúc đó trở nên cực kỳ im lặng, nặng nề và khó thở, không ai có một lời thêm bớt
hay bình luận gì cả. Tôi nhìn tất cả các anh em hoa tiêu và anh em hạ sĩ quan
phi hành mà lòng chùng xuống, mắt mờ đi, tâm não hoàn toàn như tê dại, tự nhủ
thầm:
– Người ta sắp bắt
chúng tôi làm vật tế thần.
Thật ra tất cả anh em
chúng tôi không phải là những người sợ chết hay muốn tránh né những phi vụ hiểm
nguy, nhưng cái bực tức không nói lên được lúc đó là cấp chỉ huy đã không hiểu
khả năng kỹ thuật cơ giới của một chiếc Chinook, hay vì sợ trách nhiệm nên sử
dụng chúng tôi một cách sai lầm?
Cũng không thể dựa vào các yếu tố chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến thuật nào khác để bào chữa cho phi vụ, vì nó có thể thực hiện được bằng trực thăng loại nhỏ UH-1, chở mỗi lần 10 quân nhân và chọn thời gian đáp trong 5 lần khác nhau. Loại trực thăng UH-1 được chế tạo dùng trong chiến thuật đạt yếu tố bất ngờ trong lòng địch, như chiến thuật “Diều Hâu”, nó có khả năng xoay trở rất nhanh nhẹn, chỉ cần một thời gian, trong khoảng 5 giây đồng hồ, là có thể đổ được quân và đem được thương binh lên dễ dàng, ta có thể ước đoán tổng số thời gian kể như nguy hiểm nhất, từ lúc vào bãi đáp cho đến khi rời khỏi vị trí một cách tương đối an toàn, chỉ tốn vào khoảng 20 giây đồng hồ là tối đa. So với một chiếc Chinook CH-47, thật to lớn kềnh càng, chở 50 binh sĩ, khi hạ cánh với một tốc độ rất chậm, vào một tiền đồn trên đồi, không chỗ ẩn núp, diện tích bãi đáp không lớn hơn khuôn viên một căn nhà, xung quanh triền đồi toàn là quân chính quy bắc việt, núp dưới giao thông hào chằng chịt, với những đại liên phòng không tối tân của Nga Sô và Tiệp Khắc, hỏa tiễn SA-7, súng cối 82 ly, và đại pháo 122 ly, đã lấy tọa độ bãi đáp chính xác.
Tôi giả sử binh lính
việt cộng có mù mắt, điếc tai, ngủ gục hết cả lũ, tính theo thời gian nhanh
nhất, khi tàu giảm tốc độ vào cận tiến để chuẩn bị đáp an toàn cho 50 quân nhân
chạy ra phía cửa sau đuôi và chờ khiên thương binh đưa vào, xong xuôi cất cánh,
ra tới vị trí tương đối an toàn, ít ra cũng phải mất hết khoảng 200 giây đồng
hồ. Nếu ta thử so sánh thời gian nguy hiểm trên vùng với chiếc phản lực cơ F-5,
khi chúi xuống thả bom, xong kéo lên rời vị trí, chỉ trong tích tắc vài giây
đồng hồ mà đôi khi còn bị bắn hạ bởi SA-7 hay đạn phòng không một cách dễ dàng,
còn chiếc Chinook, to lớn gấp hai, ba lần, xoay trở rất chậm chạp, hai bên hông
tàu mang cả chục ngàn lít xăng JP-4, chỉ cần một phát súng nhỏ, nhạy lửa là nó
trở thành một cây đuốc khổng lồ, soi đường cho thần chết, không những thiêu
mạng Phi Hành Đoàn mà nó còn đốt cháy 50 quân nhân ngồi phía sau nữa.
Trong phạm vi bài này,
tôi không có ý gián tiếp chỉ trích cá nhân bất cứ một cấp chỉ huy thừa hành nào
cả, vì tôi biết lệnh từ trên tối cao đưa xuống,tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng
sai lầm về sự sử dụng kỹ thuật tác chiến cơ giới. Nhưng quân đội, lệnh là phải
thi hành, nếu may mắn còn sống sót không tật nguyền hoặc sứt tay, gãy gọng là
điều đáng mừng, phước đức ông bà để lại.
Một phút im lặng nghẹt
thở trôi qua, như dò xét sự phản ứng của tất cả đoàn viên phi hành. Lôi Thanh 1
cho biết rằng đây là lệnh của thượng cấp đưa xuống, nếu không có người tình
nguyện ông sẽ chỉ định người để thi hành phi vụ tối quan trọng này. Thời gian
chậm chạp như muốn ngừng lại, tôi lên tiếng hỏi để biết nhiệm vụ chính của phi
vụ dùng vào công việc gì? Mặc dù tôi là Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn lúc
đó, nhưng ông ta cũng từ chối, cốt ý để bảo toàn bí mật cho bãi đáp.
Khi Lôi Thanh 1 vừa
dứt lời, tôi nhận thấy Đại Úy Lê Văn Cầu, Phi Đội Trưởng Phi Đội 1 ngồi bên ghế
trái của tôi, đưa tay lên xin tình nguyện, tiếp theo là Đại Úy Huỳnh Bá Hùng,
Phi Đội Trưởng Phi Đội 2 cũng đưa tay tình nguyện. Bây giờ cần 1 cơ phi, xạ thủ
và áp tải. Thượng Sĩ Nguyễn Văn Tranh, Trung Sĩ Nguyễn Văn Hoàng cũng đưa tay
tình nguyện, tôi nhớ cũng còn nhiều anh em sĩ quan và hạ sĩ quan khác nữa cũng
xin tình nguyện, nhưng sau cùng chỉ chọn được Phi Hành Đoàn có đầy đủ khả năng
như sau: Trưởng phi cơ cho phi vụ Đại Úy Cầu, hoa tiêu phụ Đại Úy Hùng, cơ phi
Thượng Sĩ Tranh, xạ thủ Trung Sĩ Hoàng và áp tải viên, tôi rất tiếc là không
còn nhớ rõ tên anh.
Phiên họp kết thúc vào
khoảng 4 giờ chiều, để bảo toàn bí mật phi vụ, lệnh Phi Đoàn cấm trại 100% cho
tới khi nào công tác thi hành xong. Tôi đưa các anh em trong Phi Hành Đoàn tình
nguyện vào khu quán ăn của cư xá hạ sĩ quan trong căn cứ Không Quân để dùng cơm
chiều.
7 giờ chiều ngày
26-12-1972, phi cơ được lệnh cất cánh từ phi trường Biên Hòa, liên lạc với C&C
qua tần số vô tuyến FM, để đáp vào An Lộc nghe thuyết trình và nhận lệnh từ đơn
vị bạn.
Trời cuối tháng vào
mùa lễ Noel nên có vẻ tối sớm hơn thường lệ, những tia nắng hanh vàng đã bắt
đầu nhạt dần, ở phía bên kia đầu phi đạo, phi trường đã vắng người qua lại, chỉ
còn mình tôi lẻ loi đang ngồi đây để tiễn đưa anh em.
Trong trận thế chiến
vừa qua, Phi Đội Thần Phong cảm tử của Nhật Hoàng trước khi cất cánh ra trận,
được vinh dự đứng trước hàng quân uống cạn ly rượu “Sakê” hâm nóng, trao tặng
từ một Tướng lãnh cao cấp để rồi bay vào tử địa. Còn các anh bây giờ được ai tiễn,
ai đưa? Hàng quân vinh dự nào đứng dàn chào để tiễn biệt các anh? Tôi biết các
anh cũng chẳng cần những thứ rườm rà, màu mè đó, nhưng với ý chí và lòng dạ sắc
son nguyện dâng hiến đời mình cho quê mẹ Việt Nam, nên các anh đã hy sinh tình
nguyện chấp nhận phi vụ,đáp vào một nơi được gọi là “địa ngục trần gian”.
Phi cơ đã mất hút,
chìm vào bóng hoàng hôn về hướng Tây Bắc chân trời. Tôi lặng lẽ lái xe trở về
Phòng Hành Quân Phi Đoàn để theo dõi tin tức phi vụ, lòng lâm râm khấn vái cầu
nguyện cho các anh đi được bình an...
Trách nhiệm phi vụ các
anh chia đều cho nhau, Đại Úy Cầu chỉ huy toàn diện, cũng như lo phần bay và
điều khiển các cơ phận phi cơ. Đại Úy Hùng lo phần vô tuyến, truyền tin liên
lạc với C&C và đơn vị bạn, cũng như kiểm soát bản đồ, hướng bay và tọa độ
hành quân, các anh em cơ phi, xạ thủ và áp tải giữ an ninh phía trong tàu và
đồng thời kiểm soát, báo cáo các vị trí phòng không, SA7 của việt cộng từ dưới
bắn lên, để phi cơ tránh né cùng lúc sử dụng hỏa lực tối đa của 2 khẩu đại
liên, gắn hai bên thân tàu để làm áp lực địch.
Kim đồng hồ chỉ hơn 8
giờ tối, phi cơ đã đến vùng chỉ định, bên ngoài chỉ còn lại là một màu đen,
xung quanh là rừng núi âm u của đêm sau ngày Chúa Giáng Sinh. Thành phố An Lộc
hoàn toàn như một bóng ma trong đêm, không còn một ngọn đèn đường nào đứng vững
hay được cháy sáng để ghi nhận là vị trí của một khu phố. Ngọn đồi Tống Lê Chân
cách đó không xa lắm, nghe tiếng phi cơ bèn chớp đèn hiệu, không liên lạc được
với C&C, hai anh cứ ngỡ đó là thành phố An Lộc, nên cho phi cơ bay thẳng
vào hướng có ánh đèn hiệu. Một phút sau, những tia chớp sáng không ngừng của
đại liên phòng không từ dưới đất bắn lên như pháo bông ngày Tết, các anh mới
nhận ra là đang bay hơi chệch về hướng Tống Lê Chân. Đại Úy Cầu bình tĩnh kéo
nhanh cần lái về phía phải cho con tàu lướt nhanh ra khỏi tầm hỏa lực địch,
cũng trong lúc đó Thượng Sĩ Tranh báo cáo nhìn thấy đèn hiệu về hướng 1 giờ
cách đó không xa lắm. Sau khi quan sát thật kỹ và liên lạc được với quân bạn,
Đại Úy Hùng OK, đưa ngón tay cái lên trời đồng ý cho Đại Úy Cầu chuẩn bị cho
phi cơ đáp xuống phía Nam của An Lộc.
Sau khi kiểm soát lại
phi cơ, mọi sự đều an toàn, anh em Phi Hành Đoàn được đưa vào bộ chỉ huy hành
quân tiền phương để nghe thuyết trình phi vụ. Sĩ quan tình báo cho biết quân
chính quy bắc việt được trang bị với đại liên phòng không đủ loại đang ẩn núp
dưới các hầm hố xung quanh chân đồi, tin cũng cho biết thêm là chúng cũng có
thể đã được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 để chống lại các loại phi cơ chiến
đấu của Không lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhiệm vụ chính của phi vụ là chở 50 lính
Biệt Động Quân để tăng viện và thay thế những người ở quá lâu trong đó, đồng
thời rước về một số thương binh, Phi vụ rất giản dị có thế thôi, nếu ở một vị
trí nào khác thì công việc không có gì quan trọng hay đáng nói cả.
Giờ hẹn tại bãi đáp là
đúng 12 giờ khuya. Trung Tá Ngôn, Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân phải chuẩn bị
sẵn sàng tại bãi đáp, đèn hiệu phải đặt dưới hầm trú ẩn để việt cộng khỏi nhìn
thấy.
Phi Hành Đoàn họp nhau
để bàn về kỹ thuật đáp và phân chia công việc cho mọi người. Tàu sẽ chở 50 quân
nhân với trang bị vũ khí đầy đủ, là một việc khó khăn cho hoa tiêu điều khiển
phi cơ để tránh né đạn phòng không vì quá nặng nề, không xoay sở nhanh chóng
được. Nếu bay sát ngọn cây với tốc độ thật nhanh, đột ngột từ phía chân đồi
nhảy lên thẳng bãi đáp quá nhỏ, xung quanh là ụ súng của tiền đồn, thì là một
chuyện không thể thực hiện được nhất là về ban đêm như tối hôm nay, chỉ có loại
phi cơ nhỏ một cánh quạt như UH-1 hay H-34 là có thể thực hiện được lối bay
nguy hiểm tránh phòng không này; như vậy chỉ còn lại một giải pháp cuối cùng là
kỹ thuật đáp 360 độ. Cầu và Hùng đều đồng ý với lối bay này tuy nó rất là nguy
hiểm, vì sẽ làm mồi cho súng phòng không, nhưng còn có cơ hội sống sót nhiều
hơn là kỹ thuật bay “nhảy bổ” vào lúc ban đêm.
Đúng 11 giờ 45 khuya,
trời bên ngoài tối om như mực, 50 quân nhân Biệt Động đã ngồi yên lặng trong
lòng tàu. Đại Úy Cầu cho quay máy chuẩn bị cất cánh, âm thanh phản lực của hai
động cơ gắn phía sau hòa lẫn với tiếng cánh quạt quay đều trong gió, nghe như
tiếng rống phẩn nộ của rừng xanh vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch, Đại Úy
Hùng kiểm soát lại các tần số liên lạc với C&C và các danh hiệu đơn vị lần
cuối, Thượng Sĩ Tranh báo cáo cho Trưởng phi cơ tình trạng tàu tốt sẵn sàng cất
cánh.
Hơn 11 giờ 50, C&C
cho lệnh cất cánh lấy cao độ khoảng 2 ngàn bộ, trực chỉ hướng Tây Nam vào thẳng
Tống Lê Chân. Đại Úy Cầu ra lệnh cho Trung Sĩ Hoàng lên đạn 2 khẩu đại liên để
sẵn sàng tác xạ. Đèn Navigation bên ngoài phi cơ đã tắt, chiếc phi cơ hiên
ngang như một dũng tướng ngày xưa đơn thương độc mã tiến vào trận địa.
Đại Úy Hùng chỉ về
phía trước mặt đèn báo hiệu bãi đáp đã nhấp nháy dưới hầm, tiền đồn Tống Lê
Chân gần kề trước mặt.
– OK! “Pitch down”!
Toàn thân phi cơ như
hụp xuống khỏi mặt nước, xoay tròn thật gắt 360 độ về phía trái như muốn vỡ
tung, hết sức khó chịu vì sức rơi lúc đáp quá nhanh từ trên cao độ. “Rầm...
Rầm...!” Nhiều khối lửa to lớn đang chớp nhoáng phía dưới, chúng đang pháo kích
vào bãi đáp. Địa ngục trần gian bắt đầu cơn bão lửa! Đạn phòng không dưới chân
đồi đã tập trung giăng chằng chịt cả màn đêm, những viên đạn đỏ tươi như màu
máu vọt lên đan vào nhau thành những tia sáng như hình rẻ quạt quét cả trọn
vùng trời, nhắm về hướng phi cơ đang lơ lửng xoay tròn giữa không gian; vì trời
quá tối nên nhiều trái sáng được địch quân bắn lên để cho chúng dễ dàng nhận
diện phi cơ.
Dưới sức sáng nhân tạo
của các trái hỏa châu, con tàu thật lẻ loi đơn độc không thể giấu mình trong
màn đêm được nữa, đã gánh chịu hàng trăm viên đạn của loài quỷ đỏ hung hăng
ghim vào thân xác như một con đại bàng bị tên trúng vào tử huyệt, nhưng oai
hùng dang cánh thản nhiên đáp trên đầu địch.
Đại Úy Hùng không còn
liên lạc qua tần số vô tuyến với C&C được nữa, cơ phận phát điện bị trúng
đạn phát hỏa, hệ thống thủy điều bị bể ống hoàn toàn ngưng hoạt động, cần lái
bị “locked” chặt cứng không còn điều khiển được. Đại Úy Cầu như tê dại nhìn
thẳng phía trước, dùng hết sức còn lại với phản ứng tự nhiên của mình, cố điều
khiển để cho con tàu rơi từ trên cao hơn 30 bộ xuống bãi đáp. Thân phi cơ chạm
mạnh trên đất nhảy dựng trở lên, uốn mình như con khủng long hung hăng dãy
chết, những cánh quạt phía trước chặt mạnh vào ụ súng của tiền đồn tan nát văng
từng mảnh vụn. Lửa khói đã cuồn cuộn cháy ở phía sau đuôi, đạn súng cối, hỏa tiễn
địch quân liên tiếp pháo vào, những chuỗi dài nối tiếp nhau chớp sáng của tạc
đạn nổ long trời, cát bụi tung bay mù mịt cả bốn bề.
Con tàu sau vài giây
đồng hồ mới chịu đứng yên, chấp nhận ngày cuối cùng của đời mãnh long trên ngọn
đồi xa lạ này. Lửa đã cháy dữ dội hơn, một số Biệt Động Quân còn sống sót chạy
tràn ngập ra phía trước phòng lái, tìm cách thoát ra ngoài. Đại Úy Cầu cảm thấy
đau đớn nhức nhối ở gót chân mặt nhưng vì sự sống còn, anh cố gắng lết ra từ
phía bên trái cửa sổ phi cơ. Bên ghế phải Đại Úy Hùng đang bị buộc chặt vì dây
an toàn bị gãy chốt, ghì chặt anh vào thành ghế với áo giáp, súng đạn mang lỉnh
kỉnh bên hông, lại bị lính Biệt Động Quân chen lấn thoát thân đè chặt anh xuống
ghế, lửa đã cháy sát bên lưng, sức nóng hừng hực của cả ngàn lít dầu JP-4 táp
vào mặt, anh cảm thấy gần như tuyệt vọng, trong lúc đó một anh lính Biệt Động
sau cùng vừa trèo lên để chui ra thì bị một mảnh đạn pháo kích trúng vào đầu bị
thương ngã người lại phía sau, tay anh lính níu chặt lấy chiếc gối nệm phía sau
lưng Đại Úy Hùng để khỏi ngã quỵ xuống sàn tàu, chiếc gối sút ra văng xuống
theo tay anh lính. Nhờ cơ hội may mắn hiếm hoi này Đại Úy Hùng lòn mình thoát
ra được từ phía lỗ trống trên nóc phòng lái. Trung Sĩ Hoàng nhờ Trời, Phật che
chở nên chui ra ngoài được an toàn trước khi phi cơ phát nổ.
Tất cả những anh em thoát chết đều cố gắng bò nhanh xuống hầm trú ẩn gần đó, đạn pháo vẫn tiếp tục rú lên trong gió gây ra những âm thanh thật kỳ dị nghe như tiếng ma tru, quỷ rống rợn cả người. Lửa cháy phi cơ soi sáng cả góc trời, có lẽ giờ phút đó dưới chân đồi trong các hang hóc chằng chịt, loài quỷ đỏ đang ăn mừng nhảy múa bên các vong linh oan hồn mà chúng vừa mới sát hại.
Trung Tá Ngôn cho anh
em Biệt Động Quân ra khiêng Đại Úy Cầu vào băng bó, kiểm điểm quân số Phi Hành
Đoàn không thấy Thượng Sĩ Tranh, mọi người nghĩ rằng anh đã chết. Sáng hôm sau
mọi việc tương đối yên lặng, anh em lần mò bò ra phi cơ để lấy xác vì có rất
nhiều quân nhân Biệt Động đã bị súng phòng không của việt cộng bắn chết trong
lúc đáp, cũng như bị thương chạy ra ngoài không được bị chết cháy trong tàu.
Phi Hành Đoàn nhận diện được dấu tích của Thượng Sĩ Tranh mặc dầu đã bị cháy
tan biến, nhưng thẻ bài kim loại và súng đạn anh mang theo, cho biết rằng anh
đang đứng gần cửa phía sau thân tàu, có thể anh bị đạn phòng không chết trước
khi đáp. Đại Úy Hùng thu nhận cẩn thận tất cả thân xác còn lại của anh chờ ngày
mang về để mai táng.
Khoảng 3 ngày sau, Phi
Hành Đoàn được báo là sẽ có một Phi Hành Đoàn UH-1 vào rước về, mọi người thức
suốt đêm chờ đợi sau cùng được báo là phi vụ cứu cấp bị lộ nên bải bỏ, không
thể nào rước các anh ra được. Những giờ phút ở đây thật dài vô tận, những giấc
ngủ chập chờn, tử thần luôn luôn rình rập, ranh giới giữa sự sống và chết gần
như lẫn lộn không giới tuyến rõ rệt. Các anh lính Mũ Nâu anh hùng chiến đấu
thật cô đơn, cam khổ, đạn pháo địch ngày đêm từng chập không ngơi nghỉ, tiếng
trống, tiếng loa của loài quỷ đỏ vẫn hò hét, kêu gào dưới triền núi vọng lên
như tiếng khóc than từ địa ngục. Những anh lính Biệt Động Việt Nam Cộng Hòa
ngày đêm kìm chặt tay súng, núp sâu dưới lòng đất sẵn sàng đứng lên để đập vỡ
cái mưu toan của chúng muốn biến nơi này thành mồ chôn tập thể.
Vào khoảng 9 giờ tối
của đêm thứ năm, Trung Tá Ngôn cho Phi Hành Đoàn biết lệnh mật từ Bộ chỉ huy
Hành quân Không Quân là sẽ có người vào rước anh em trong giờ giao thừa của đầu
năm Dương lịch. Mọi trách nhiệm và kế hoạch di tản được chuẩn bị đầy đủ. Trung
Sĩ Hoàng sẽ cõng Đại Úy Cầu bị thương chân không đi được, Đại Úy Hùng sẽ ôm xác
Thượng Sĩ Tranh cố gắng chạy nhanh ra tàu.
Bây giờ là 23 giờ 55
đêm 31/12/1972, chỉ còn 5 phút nữa là một năm mới sẽ ra đời. Trong những giây
phút thiêng liêng này ở các quốc gia khác, người ta đang hạnh phúc sung sướng
bên những ly sâm-banh sùi bọt, những lời chúc an lành, những nụ hôn ấm cúng, những
dạ hội, những vũ điệu, những bài ca gần như bất tận trong đêm nay. Còn tại nơi
đây, nơi một quốc gia nhỏ bé, một tiền đồn heo hút nằm giữa rừng hoang vắng,
nơi mà những căm thù được dựng lên bằng những suy luận vô lý của hai ý thức hệ
ngoại lai.
Hởi những người Việt
Nam da vàng máu đỏ, tại sao?... Và tại sao?...
Tiếng động cơ trực
thăng đã bắt đầu nghe rõ từ hướng Đông Bắc, như một thiên thần từ trời cao đang
ngang nhiên tiến vào chiến tuyến giữa đêm trừ tịch để cứu người lâm nạn. Đạn
lửa phòng không nổ ròn như pháo Tết, hỏa tiễn ì ầm rơi vào bãi đáp. Cộng sản
đang làm lễ đăng quang để tiếp rước thiên thần đang giáng thế. Thật bình tĩnh
với nụ cười ngạo mạn, Trung Úy Phát tự “Phát Sứt”, đã nhiều lần vào sinh ra tử,
khéo léo đặt con tàu vào bãi đáp một cách dễ dàng, bên ghế trái hoa tiêu phụ là
Trung Úy Bằng, 1 cựu Biệt Động Quân Biên Phòng, một người anh hùng luôn luôn
đặt nặng trách nhiệm và bổn phận của Tổ Quốc giao phó trước sự sống còn của đời
mình.
Đạn pháo kích vẫn tiếp
tục rơi tới tấp, những cái chớp nhoáng, lập lòe gây ra một thứ ánh sáng cực kỳ
man rợ. Trung Sĩ Hoàng hết sức khó khăn vất vã mới đưa được Đại Úy Cầu lên tàu.
Đại Úy Hùng nhất quyết ôm chặt tro xác của Thượng Sĩ Tranh lần mò chạy theo
sau. Phi Hành Đoàn đã lên tàu đầy đủ. Trung Úy Bằng đưa ngón tay lên trời ra
dấu cho trưởng phi cơ Trung Úy Phát sẵn sàng cất cánh. Như một con chiến mã
thật hiên ngang nhảy vọt lên không trung, chỉ trong tích tắc sau đó đã lặng lẽ
biến mình trong màn đêm dày đặc.
Xin giã biệt Tống Lê
Chân, giã biệt những anh hùng Mũ Nâu Biệt Động. Qua tần số radio của đài phát
thanh Sài Gòn, chuông kiểng nhà thờ đã rộn rã khua lên từng hồi để chào đón một
năm mới vừa ra đời.
Các anh: Cầu, Hùng,
Hoàng và vong linh của Thượng Sĩ Tranh, cũng như Phi Hành Đoàn UH-1 cấp cứu,
anh Phát, anh Bằng... Hôm nay tôi viết bài này để nhắc nhở những thành tích
oanh liệt, can trường của các anh. Các anh là những anh hùng của Không Quân nói
riêng và của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa nói chung. Vì vận nước không may các
anh đã chia tay nhau mỗi người mỗi nẻo khắp nơi trên thế giới, nhưng “tinh thần
Tống Lê Chân” của trên 23 năm về trước các anh đã thể hiện được tình huynh đệ
chi binh, quên thân mình để cứu giúp đồng đội, chiến hữu. Tôi cầu nguyện và
chúc lành các anh em gặp được nhiều may mắn và hạnh phúc trong quãng đời còn
lại.
Riêng Thượng Sĩ Tranh,
tôi xin thành tâm khấn vái và cầu nguyện cho vong linh anh được yên lành trong
thế giới vĩnh cửu, hãy vui trong giấc ngủ bình yên...
Cựu Lôi Thanh 2 Nguyễn
Văn Ba
Phi Đoàn 237

No comments:
Post a Comment