Monday, September 28, 2026

Về MIỀN TÂY Ăn CÁ, Những Món Cá Ngon Miền Tây - Clip Tổng Hợp - Đặc Sản Miền Sông Nước

Kẻ Thù Tưởng Tượng Và Đô La Thật: Hai Mặt Của Tuyên Truyền Cộng Sản Việt Nam

 

Cộng sản Việt Nam từ lâu đã thành thạo nghệ thuật tạo ra kẻ thù tưởng tượng để duy trì tính chính danh cho chế độ độc tài. Họ không cần đối thủ thật; họ chỉ cần một hình ảnh đế quốc Mỹ hung hãn và ngụy quyền Sài Gòn phản động để quy tụ lòng dân, biện minh cho sự thống trị tuyệt đối và che đậy thất bại kinh tế, tham nhũng, đàn áp. Mỹ từng là kẻ thù số một, Việt Nam Cộng hòa bị gọi là ngụy, còn người Việt miền Nam và hải ngoại bị gắn mác phản động, tay sai. Đó là công thức cũ kỹ khi chia rẽ dân tộc, khủng bố tinh thần và củng cố quyền lực.

Vậy mà giờ đây, khi cần đô la, cần đầu tư, cần kiều hối và cần hình ảnh hòa hợp, cùng một hệ thống tuyên truyền lại đổi giọng. Ngay lúc này, Tô Lâm trong chuyến sang Mỹ kêu gọi người Việt tại Mỹ khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc. Khép lại quá khứ nào? Quá khứ mà chính họ đã viết bằng máu, bằng trại cải tạo, bằng thuyền nhân, bằng cuộc tước đoạt tài sản và danh dự của hàng triệu người? Hay quá khứ mà họ vẫn đang dạy trong sách giáo khoa như chiến thắng vĩ đại trước đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai?

Sự thật trần trụi là họ cần tiền. Họ cần đô la của Mỹ, của Việt kiều. Họ cần thị trường, công nghệ, vốn đầu tư. Khi túi tiền cạn, kẻ thù đột nhiên trở thành đối tác chiến lược. Khi cần hợp pháp hóa dòng tiền từ hải ngoại, ngụy và phản động đột nhiên được mời về xây dựng Tổ quốc. Đây không phải sự khoan dung, cũng không phải trưởng thành chính trị. Đây là sự tính toán lạnh lùng của một chế độ luôn coi nhân dân trong nước lẫn ngoài nước như công cụ.

Tạo kẻ thù tưởng tượng để cai trị, rồi xóa bỏ kẻ thù tưởng tượng để kiếm tiền, đó chính là bản chất của tuyên truyền độc tài. Người Việt hải ngoại không nợ ai cái khép lại quá khứ một chiều. Nếu thật sự muốn tương lai dân tộc, hãy bắt đầu từ sự thật, từ công lý, từ quyền tự do chứ không phải từ những lời kêu gọi khi cần đô la.


KẺ THÙ TƯỞNG TƯỢNG VÀ ĐÔ LA THẬT: HAI MẶT... - Chân Trời Mới Media | Facebook 

Và Vẫn Mưa Rơi - Đỗ Công Luận

 

Donald Trump, Ông Vua "Cà Khịa Hoang Tưởng" - Nguyễn Hải Nhu


Người ta chửi Donald Trump là bốc đồng, ái kỷ, nói cho sướng miệng. Họ nhìn vào đội ngũ của ông ta, những người trẻ như Steven Cheung sẵn sàng chửi tục, thẳng mặt báo chí, Natalie Harp trung thành tuyệt đối, một dàn "vua cà khịa"  DJ Vane, Pete Hegseth, Marco Rubio… và kết luận đây là một gánh xiếc.

Donald Trump đã biến chính tính cách bị cho là "rối loạn" của mình thành một vũ khí chiến lược. Trong đối đầu, kẻ thù đáng sợ nhất không phải là kẻ mạnh nhất, mà là kẻ mà bạn không đoán được giới hạn. Người ta gọi nó là "Madman Theory" của Nixon, nhưng Trump đã nâng nó lên thành một học thuyết hoàn chỉnh!

Greenland, Panama, Canada, Cuba, Venezuela, Iran... Thoạt nghe như những câu nói đùa của một ông già 80 tuổi trên Truth Social. Nhưng hãy nhìn lại sau chưa đầy 2 năm nhiệm kỳ II: Không có câu nào là đùa.

Những điều đã chứng minh: Ông ta nói là làm, không cà khịa


1. KÊNH ĐÀO PANAMA: 

Đòn đánh vào yết hầu của Bắc Kinh

Khi Trump nói "lấy lại kênh đào Panama", truyền thông cánh tả cười phá lên: đế quốc, thực dân kiểu cũ. Nhưng Trump không cần đưa lính Mỹ chiếm kênh đào. Ông ta cần gì? An ninh quốc gia.

Sự thật là: Hai cảng lớn nhất hai đầu kênh đào nằm trong tay Hutchison Ports của Hong Kong, sau lưng là Bắc Kinh. Các dự án Con đường Tơ lụa đã len lỏi vào Panama.

Trump đã làm gì? Dọa áp thuế 100%, dọa rút khỏi các hiệp ước, dọa xem Panama là "kẻ thù hỗ trợ đối thủ". Kết quả? Chính phủ Panama phải tự tay hủy hợp đồng với công ty Hong Kong, mời Mỹ vào kiểm toán an ninh toàn bộ khu vực kênh đào, và công khai tuyên bố rút khỏi Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc.

Không tốn một viên đạn. Không cần chiếm đất. Ông ta dùng lời đe dọa "hoang tưởng" để buộc một quốc gia phải tự thanh lọc ảnh hưởng Trung Quốc. Đó không phải bốc đồng. Đó là hiệu quả.


2. VENEZUELA: 

Từ "bắt cóc tổng thống" đến thỏa thuận tỷ đô

Đây là ví dụ kinh điển nhất cho câu "Tưởng nói chơi, ai dè làm thiệt".

Khi Trump nói về việc xử lý Maduro, ai cũng nghĩ ông ta nói cho vui. Rồi biệt kích Delta Force vào thẳng Caracas, "hốt" gọn vợ chồng Nicolas Maduro về New York với cáo buộc khủng bố ma túy. Cả thế giới nín thở.

Điều gì xảy ra sau đó? Không phải là chiến tranh sa mạc 20 năm như những người tiền nhiệm. Ngay lập tức, chính quyền chuyển tiếp ở Venezuela ký thỏa thuận khai thác dầu khí trị giá hàng chục tỷ đô với các tập đoàn Mỹ. Dầu của Venezuela chảy về lọc dầu ở Texas, tiền chảy vào, ảnh hưởng của Nga - Iran - Cuba ở Caracas bị xóa sổ trong một đêm.

Vậy thì việc Trump đến thăm Caracas vào cuối nhiệm kỳ có còn là chuyện hoang tưởng không? Không. Khi bạn là người dọn dẹp xong một chế độ độc tài ma túy và mang lại hợp đồng năng lượng lớn nhất Tây Bán Cầu, bạn đến đó như một người chiến thắng, như một nhà đầu tư. Đó là logic của một doanh nhân, không phải của một chính trị gia truyền thống.


3. GREENLAND: 

Từ bị chửi là điên đến thỏa thuận 3 bên

Đan Mạch ban đầu phản ứng gay gắt như Canada bây giờ. "Greenland không phải để bán!"

Trump không mua theo kiểu mua Louisiana năm 1803. Ông ta làm điều thông minh hơn: Ông ta biến Greenland thành vấn đề an ninh sống còn của NATO. Ông ta nói: "Nếu các người không cho Mỹ kiểm soát an ninh Bắc Cực, Nga và Trung Quốc sẽ làm. Các người tự chịu."

Kết quả hôm nay? Một thỏa thuận quân sự vĩnh viễn ba bên Mỹ - Đan Mạch - Greenland. Mỹ có quyền đặt căn cứ, radar, tàu ngầm hạt nhân không giới hạn. Greenland nhận đầu tư hàng tỷ đô và quyền tự trị cao hơn. Đan Mạch giữ được danh nghĩa chủ quyền nhưng trút được gánh nặng an ninh.

Trump không mua hòn đảo bằng tiền thuế người dân Mỹ. Ông ta mua quyền lực tuyệt đối trên hòn đảo đó với giá rẻ hơn rất nhiều. Đó là kiểm soát quân sự.


4. BA HỒ SƠ ĐANG DIỄN RA: 

Havana, Tehran và Ottawa

Nếu dùng cùng một logic đó, bạn sẽ hiểu tại sao Havana, Tehran và Ottawa không còn xa vời.

- VỀ CUBA: Trump đang bóp nghẹt Cuba không bằng cấm vận kiểu cũ - vốn đã thất bại 60 năm. Ông ta bóp bằng cách cắt hết kiều hối, cắt dầu Venezuela (vừa xử lý xong), và siết chặt du lịch. Havana không còn ai chống lưng. Khi đó, Cuba sẽ phải tự thay đổi, tự mời Mỹ vào theo các điều kiện của Trump. Chuyến thăm Havana sẽ không phải là chuyến thăm một đồng minh, mà là chuyến thăm một quốc gia vừa mở cửa thị trường theo mô hình Trump.

- VỀ IRAN: Đây là đòn thâm hiểm nhất và nhân đạo nhất. Thông tin dùng tiền đóng băng của Iran để mua nông sản Mỹ - bắp, đậu, lúa mì, thịt gà, bò, heo - viện trợ ngược lại cho dân Iran là một nước cờ thiên tài. Nó đánh trúng 3 đích một lúc: Một, nông dân Mỹ - cử tri cốt lõi của Trump, vui mừng vì được giải cứu giá nông sản. Hai, người dân Iran nhận được thực phẩm thay vì tên lửa, họ sẽ thấy ai thực sự quan tâm đến họ. Ba, chính quyền giáo chủ ở Tehran bị tước đi vũ khí tuyên truyền "Mỹ ác". Điện thoại ở Nhà Trắng reo liên tục không phải là nói quá. Đó là cách làm sụp đổ một chế độ từ bên trong bằng bụng đói, chứ không phải bằng bom.

- VỀ CANADA, tiểu bang thứ 51: Đây là cú cà khịa vĩ đại nhất. Không ai, kể cả Trump, thực sự muốn sáp nhập Canada. Nhưng khi ông ta nói "Canada nên thành tiểu bang thứ 51", ông ta đã làm gì? Ông ta đã hạ thấp vị thế của Canada từ một đồng minh "ngang hàng" trong Ngũ Nhãn xuống thành một đối tác kinh tế đang ăn bám an ninh Mỹ. Khi đã ở thế đó, mọi cuộc đàm phán về thuế quan, về sữa, về gỗ xẻ, Mỹ đều ở cửa trên. Canada tức giận, nhưng cuối cùng vẫn phải ngồi lại. Vì họ không thể sống thiếu thị trường Mỹ. Cú cà khịa đó, chính là đòn phủ đầu tâm lý để dọn đường cho một thỏa thuận thương mại mới có lợi cho Mỹ hơn USMCA cũ rất nhiều.

Những người không ưa Trump và phe đối lập đã phạm một sai lầm nghiêm trọng: Họ đánh giá Trump qua lời nói, còn Trump hành động qua hệ thống.

Lời nói của Trump là để gây nhiễu, để cà khịa, để khiến đối thủ mất tập trung và báo chí tốn giấy mực. Nhưng đằng sau đó là một đội ngũ trẻ, lì lợm, không sợ bị chửi, sẵn sàng chấp nhận đối đầu pháp lý, đối đầu quân sự và truyền thông cả thế giới để thực thi. Cho nên, đừng hỏi "Trump có điên không?" Hãy tự hỏi mình "Tại sao cái điên của ông ta lại hiệu quả đến vậy, trong khi những người không điên bị thất bại, ngay chính mình?"


Thế giới đã cười khi ông ta nói về Greenland, Panama, Caracas, Iran, Cu Ba... Bây giờ thế giới đang im lặng.

Ối lạy Chúa ! Cả thế giới ngay người tầm thường nhất: Tưởng ông ấy nói chơi chơi, cà khịa cho zui ai dè ổng làm thiệt…!!


Nguyễn Hải Nhu

Thơ Vui: Ôi Tuổi Già! - Khuyết Danh

 

Thương thay cho đám tuổi già

Ông thì cao máu còn Bà đau lưng

Hot Flash Bà nhảy lưng tưng

Mặt mày cau có mắt trừng nhìn Ông .

 

Lưng chưa hết lại đau mông

Thân người ê ẩm từ trong ra ngoài

Chân đau nhức lại ù tai

Bà la inh ỏi Ông hay biết gì

Bà bảo lấy hộ cái ly

Ông đưa gói thuốc Bà xì một hơi .

 

Mỗi khi mưa gió trở Trời

Ông ho hen thở bà thời cúm  đau

Đái đường Ông thử lên cao

Đồ ngọt không rớ mà sao vẫn còn .

 

Bà bị Cholesterol

Thịt bò kiêng cử cua tôm phải chừa

Ốc nghêu thịt mở Ông ưa

Bây giờ sợ chết  ai đưa chối từ .

 

Da vàng gan yếu thận hư

Sáng dậy hỏi Bà răng giữ ở đâu

Bà rằng đã rớt xuống  cầu

Ông buồn Ông tức càu nhàu một hơi .

 

Cháu con tản mác khắp nơi

Chán buồn sống cảnh cuộc đời già nua

Bao năm bay nhảy tranh đua

Giờ đây lụm khụm hơn thua đâu  màng .

 

Mong sao sức khoẻ bình an

Ăn ngon ngủ được thuốc thang không dùng

Nhưng người đau nhức tứ tung

Đồ ngon không dám thuốc dùng ngày đêm .

 

Đêm không ngủ được  Bà rên

Gối đau chân nhức lại thêm cái đầu

Ông thì tức ngực tìm dầu

Tâm thần rối loạn biết  đâu khắp  nhà .

 

Nhớ thời Ông trẻ hào hoa

Đẹp trai bay bướm nay già da nhăn

Hói đầu tóc bạc hết răng

Còn Bà tóc giả da căng bụng phành

 

Đôi mươi sắc nước khuynh thành

Bao chàng đưa đón tuổi xanh yêu đời

Giờ đây đã mất hết rồi

Có còn đâu nữa hết thời nhớ chi .

 

Bạn bè kẻ sống người đi

Người trong dưỡng lão kẻ thì bán thân

Đứa đang lao phổi chết dần

Người thì dương liệt phải cần Viagra

 

Đứa thì mắt bị mù loà

Tay chân quờ quạng khi ra khi vào

Người thì mắc phải bệnh  GOUT

Chân tay u nổi đớn đau đêm ngày

 

Kẻ đau bao tử dạ dày

Uống ăn đau nhức mặt mày xác xơ .

 Bạn  Bà thì bị breast cancer

Bạn Ông bao đứa ung thư ruột già

Đi cầu máu rỉ chảy ra

Chemo chữa trị nhưng mà bớt đâu

 

Cuộc đời  quả thật bể dâu

Sanh lão bệnh tử nghèo giàu khác chi

Ai ơi rộng lượng từ bi

Để khi nhắm mắt hồn phi Thiên Đàng

 

Sống mà ác đức lận gian

Kiêu căng thâm hiểm chỉ màng lợi danh

Địa Ngục sẵn chỗ để dành

Satan Quỉ Sứ quyết hành thẳng tay ...

  

Khuyết danh

Sunday, September 27, 2026

Chuyện Người Mình - Phan

 

Sáng thứ bảy nên không phải đi làm, tôi chỉ ngồi đọc báo cuối tuần như thường lệ. Bỗng người bạn trẻ mới vô làm chung hãng với tôi được chừng tháng nay, anh ta gọi sớm nên tôi chỉ nghĩ được là anh rủ rê tôi đi uống cà phê. Ai dè, lại chuyện người mình!
Nhớ tuần trước, anh có hỏi tôi lúc giờ nghỉ ngoài bãi đậu xe, (vì anh mới qua Mỹ định cư được vài năm, nên anh tin tôi là người đã định cư lâu, hiểu biết!)
Anh nói:

- Em hỏi anh chuyện này! Xe của bà xã em là xe mới, chưa trả hết tiền góp cho nhà băng nữa. Nhưng tối hôm qua, cô bạn làm chung với bà xã em vội về nên de xe hơi ẩu, lấy hết lái sớm quá nên quẹt vào xe bà xã em. Nhưng cô ấy là người lái xe không có bằng lái, không có bảo hiểm… vì mới qua!
Tôi nói:

- …Nên chồng cô ấy gọi và nói qua điện thoại, đề nghị và rất mong vợ chồng em thông cảm, đừng báo cảnh sát. Họ sẽ chịu hết tiền sửa xe cho vợ em phải không?
- Sao anh biết hay vậy?
- Chắc chắn là có nhiều người làm chung trong tiệm neo mà vợ em làm đã thấy, biết vụ việc. Nhưng ai chịu làm chứng cho biên bản của cảnh sát lại là chuyện khác, vì người mình ngại dính vô luật pháp, phải đi hầu toà, chẳng được gì lại mất buổi làm, là chưa nói đến chuyện làm chứng cho vợ em thì mếch lòng bên kia, cũng là người Việt lại đang làm ăn chung với nhau…
- Vậy em phải làm sao?
- Theo anh, ngay bây giờ em gọi cho hãng bảo hiểm của em, báo cho họ biết vụ việc, mở hồ sơ về tai nạn xe cộ ngay. Và chiều nay tan hãng, em chịu khó chạy đến tiệm neo mà vợ em làm. Em gọi cảnh sát tới lập biên bản vụ va quẹt trong bãi đậu xe. Dù sự việc đã qua ngày, việc tìm nhân chứng khó khăn như anh đã nói. Bởi cảnh sát hỏi ai thì người nấy sẽ không biết tiếng Anh, không thấy tai nạn… Người mình ở Mỹ là vậy! Cuối cùng người chủ tiệm phải lên tiếng để cảnh sát không cản trở việc làm ăn của tiệm.Hiểu chưa?
- Làm vậy có kỳ quá không anh? Quen biết không mà…
- Nhưng đó là những việc phải làm để có được cái biên bản của cảnh sát là cần thiết. Vì cuối tuần em mới có thời giờ đưa xe đi giám định sửa chữa. Theo anh, những hư hại như em kể thì sửa chữa không dưới hai ngàn đô la. Người chồng của cô bạn làm chung với bà xã em sẽ trở mặt!
- …
*****

Nhưng anh bạn trẻ mới qua Mỹ chưa có kinh nghiệm với người mình trên nước Mỹ nên không làm theo hướng dẫn của tôi. Riêng tôi thấy lòng buồn như phải làm một việc ngoài ý muốn nhưng không có cách khác vì người mình có uy tín, biết phải trái thì mình không có nhiều may mắn được gặp; còn người mình khẩu phật tâm xà, người mình nói một đàng làm một nẻo... người mình đó, nhưng không phải ai cũng vậy thì hằng hà.
Nên sáng nay anh vừa hối hận, vừa tức giận, cho tôi biết:

- Chiều qua, em liên lạc với người chồng của cô lái xe không bằng lái, không bảo hiểm để cho anh ấy biết tiền giám định sửa xe là 3500 đô la. Anh ta trả lời là số tiền quá nhiều, để chính anh ta sẽ đi tìm chỗ sửa rẻ hơn cho cái xe của vợ em. Anh nghĩ sao?
Cả nửa đời sống ở Mỹ của tôi hiện về. Tôi hiểu đó là cách hoãn binh, để anh ta báo cảnh sát và bảo hiểm trước bạn tôi. Nên sáng nay bảo hiểm của bạn tôi đã gọi cho bạn tôi để hỏi thăm có phải xe của vợ anh đã quẹt vào xe của người ta trước cửa tiệm neo không? Người ta báo cảnh sát mà sao anh không cho bảo hiểm của mình hay gì hết vậy?

Nội dung vụ việc không phải không có cách giải quyết mà kết quả là người ngay vẫn thắng ở xứ sở luật pháp nghiêm minh, nhân viên điều tra không ăn hối lộ. Chỉ không hiểu nổi người mình là biết việc làm của mình là sai trái, (đụng xe người ta mà lại đi báo cảnh sát là người ta đụng mình)! Ai cũng biết rõ là không qua mặt được pháp luật ở Mỹ, và đôi mắt chuyên nghề giám định của cảnh sát, những hãng bảo hiểm, lại không ăn hối lộ. Họ chỉ nhìn hai cái xe bị tai nạn là biết ai lỗi ai phải. Nhưng sao người mình vẫn cố giả điên, giả khờ cho đến khi bị vạch mặt mới cam chịu; tới sợ đi tù mới ri rí nói câu xin lỗi, “tôi tưởng là…”   

Tôi không muốn kể chuyện mình cho những người mới qua định cư nghe, vì giúp người mới qua định cư có nhiều cách hay hơn là làm cho họ sợ, dẫn tới đối xử thẳng thừng với đồng hương khi hữu sự dính tới luật pháp. Nhưng tôi đã có lỗi với anh bạn đồng nghiệp mới mẻ là hướng dẫn anh cách giải quyết mà lại không cho anh ví dụ cụ thể nào đủ thuyết phục để anh làm theo hướng dẫn của mình.

Có lẽ đây là câu chuyện chung, trường hợp chung của những người đã định cư lâu năm đều ít nhiều đã trải qua sự đau lòng của việc trở mặt với chính những người cùng nói tiếng Việt với nhau. Cái cảm giác rất khó chịu khi bị đồng hương trở mặt vì thẳng tay theo luật pháp Mỹ thì thấy lòng áy náy với đồng hương như một kẻ đã hết tình đồng bào, quên bài học vỡ lòng: bầu ơi thương lấy bí cùng/ tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Cái lấn cấn trong xử sự với đồng hương trở nên gánh nặng còn hơn cơm áo gạo tiền trên nước Mỹ. Thẳng tay với nhau thì đau lòng, mà nương tay thì bị trở mặt…
Chuyện từ hồi tôi mới định cư ở Mỹ được vài năm. Nhất định nhớ bài học về người mình để giữ thân, nhưng có làm được đâu!

Hôm đó tan hãng, mấy anh em Việt nam còn đứng hút thuốc, tán dóc ngoài bãi đậu xe vì trời quá nóng nên ai cũng đề máy xe, mở máy lạnh để đó một lát cho xe bớt nóng rồi mới lái về nhà. Có hai vợ chồng người Việt nọ mới qua định cư nên còn đi làm chung với nhau bằng cái xe cũ nát. Thấy họ đề máy xe không nổ nên ai cũng đến giúp! Gặp anh chồng như người kẻ chợ, dân đầu đường. Anh đuổi hết mọi người tránh ra cho anh sửa xe vì anh là thợ máy lừng danh Phan Thiết, hỏi tên anh ở bến xe đò Phan Thiết - Sài gòn thì ai cũng biết!

Những người đã sống ở Mỹ, theo thời gian hội nhập thường dị ứng với ai tự cao tự đại, thích nói quá. Thật ra vợ anh đã nói với vài người trong hãng, anh làm lơ xe đò Phan Thiết - Sài gòn cho người ta, chị bán gánh hàng rong ở bến xe Phan Thiết trước khi đi Mỹ. Nhưng anh luôn nói anh là tài xế, là thợ máy lừng danh Phan Thiết. Cuối cùng là vợ không (chưa) biết lái xe nhưng ngồi vào ghế tài xế để đề máy cho chồng đang sửa máy xe. Đầu xe chỉ cách vách tường vừa đủ cho anh đứng sửa xe, mà xe hồi xưa lại số tay nên cô vợ (chắc vô tình đụng chạm vào cần số). Nên khi cô đề máy xe theo lệnh chồng, cái xe chồm tới như con khủng long nổi giận; làm gãy, bể cả hai đầu gối của người chồng.

Đến mãi về sau, những người chứng kiến đều mang lòng hối hận là đã không giúp đỡ đồng hương khi cần thiết, nhất là người mới qua Mỹ định cư. Còn chuyện hay nói quá sự thật của anh sẽ tự hết theo thời gian hội nhập vào xã hội Mỹ. Sự vô tình nhất thời của những người chứng kiến đã để lại lòng hối hận dài lâu theo tiếng đôi nạng gỗ mỗi ngày anh phải chống để đi làm sau đó. Và đúng là theo thời gian sống ở Mỹ, cả hai vợ chồng đều đã thay đổi nhiều.
Riêng bài học đáng nhớ với người mình về vợ chồng ấy lại nhức nhối tâm can những người ở lại, những người bỏ hãng ấy đi làm hãng khác theo đồng lương không phải chứng kiến sự trở mặt của họ, nhưng dù chỉ nghe anh chị em còn ở lại hãng cũ chỉ kể lại thôi cũng thấy thẹn lòng cho người mình.


Nguyên là sau tai nạn không đầy một phút, có người lính cũ qua Mỹ từ 1975 nên kinh nghiệm đầy mình. Anh vội trở vô hãng báo tin cho ông sếp hay, và xin ông giúp đỡ. Thực ra là cả đám Việt nam chỉ có anh là đủ tiếng Anh lúc đó để thuyết phục ông quản lý giúp đỡ cho một cặp vợ chồng người Việt mới qua định cư trong tai nạn ngoài ý muốn. Thậm chí họ còn chưa được vô chính thức để có quyền lợi chút đỉnh ở hãng…
Tôi nhớ mãi ông sếp Mỹ đen tốt bụng đó! Ông ra xem hiện trường và đuổi hết mọi người ra về liền tức khắc để không ai biết cách giải quyết của ông!

Về sau mới biết chỉ mình anh lính cũ được ở lại để làm thông dịch. Ông sếp Mỹ đen làm việc với viên cảnh sát (may mắn hôm ấy) cũng là người Mỹ đen nên tai nạn được lập biên bản là xảy ra trong hãng chứ không phải ngoài bãi đậu xe. Thế là xe cứu thương đến, làm việc theo biên bản của cảnh sát đã đến trước.
Hãng chi trả hết tiền viện phí, cho nghỉ ăn lương 100% tới khi người chồng đi làm lại được. Hãng lại cho một khoản tiền bồi thường tai nạn lớn đến đủ mua nhà riêng để ở, mua xe mới để đi làm, không phải ở mướn phòng trong chung cư, lái xe cũ nữa…

Nhưng 10 năm sau tai nạn mà ai cũng cho là trong rủi có may, chính vợ chồng họ đã hiến câu chuyện gian lận với hãng của ông sếp Mỹ đen là tai nạn ngoài hãng mà lại cho lập biên bản trong hãng để hãng phải trả tiền bệnh viện, tiền bồi thường tai nạn lao động... Họ hiến câu chuyện cho người muốn hất cẳng ông sếp đen tốt bụng ra khỏi hãng.

Cái ghế manager director dĩ nhiên không thuộc về vợ chồng họ, nhưng phò sếp mới thì vợ chồng họ trở thành cánh tay đắc lực của sếp mới. Nghe anh chị em còn làm hãng cũ cho biết, “bây giờ vợ chồng nó hét ra lửa trong hãng. Người mới qua, mới vô làm hãng đều khiếp vía với vợ chồng họ…”
Bài học lạnh xương sống với lòng dạ người mình đền ơn đáp nghĩa người bản xứ. Ông sếp Mỹ đen đã già, có về hưu sớm vài năm cũng không chết đói. Nhưng ông nghĩ gì về người di dân Việt nam trong quãng đời còn lại của một người bản xứ?

Những bài học cảnh giác với người mình ở Mỹ, ở hải ngoại, cứ như khúc xương khó nuốt, nhưng bỏ thì thương mà vương thì tội. Nên đến một đêm mưa bão ở thành phố Plano, không có tuyết rơi, nhưng trời trút nước đá li ti như nước đá bào làm trắng đục cả bầu trời đêm như bình sữa khổng lồ, không thấy đường lái xe. Tôi lái rị mọ chừng mười dặm/ giờ trên đường Custer Rd. Thấy thấp thoáng mấy ngọn đèn vàng trên xa lộ President George Bush Turnpike trước mặt đã mừng thầm là lên đường trả tiền thì có rải muối. Không bị trơn trượt bánh xe tới hú vía nhiều phen như dưới đường Custer…

Bỗng có cái xe Toyota 4 Runner màu xanh lá cây đậm, là mốt của người Việt đầu thập niên ‘90 ở Dallas. Xe qua mặt tôi cái vèo vừa lúc chui vô dạ cầu George Bush Turnpike để quẹo trái, lên xa lộ. Ai dè dưới dạ cầu thì mặt đường đóng đá, cái xe lại chạy nhanh, quẹo gắt trước đầu xe tôi để lên xa lộ trước… Cái xe bị lật tới bốn, năm vòng như ném củ khoai tây vào bãi cỏ hoang khi ấy còn chưa xây hãng Alcatel ở đó!

Tôi đậu xe lại lề đường, chong mắt nhìn hoài cũng không thấy ai chui ra khỏi cái xe bị lật. Suy nghĩ đến 90% xe ấy, màu ấy, lái xe kiểu ấy trong thời tiết xấu thì chắc là một trự Việt nam mới mua xe mới. Thôi thì khó ưa cũng phải ngậm bò hòn làm ngọt với khúc xương khó nuốt là tình tự dân tộc bên ngoài lãnh thổ. Tôi bấm điện thoại gọi cảnh sát.

Cảnh sát bảo tôi vui lòng đợi ở hiện trường. Nên tôi đợi xe cảnh sát đầu tiên quay đèn, hụ còi tới, rồi vài xe cảnh sát nữa, xe cứu hỏa, xe cứu thương… Bốn, năm người cảnh sát đến chiếc xe bị lật cùng với nhân viên cứu hỏa để cứu người. Một viên cảnh sát ở lại phỏng vấn tôi, ghi biên bản.
Thì có sao tôi tường thuật lại y như chứng kiến. Viên cảnh sát ghi xong biên bản với tôi, lấy cả số bằng lái, ghi số xe tôi. Xin số điện thoại để liên lạc khi cần. Viên cảnh sát cũng rất cẩn thận rọi đèn pin xem xét xe tôi tứ phía để xác định là không có cọ quẹt gì nhau giữa xe tôi và cái xe bị lật. Ông cho tôi đi, cảm ơn tôi đã gọi, chúc tôi ngủ ngon…

Ba hôm sau, tôi còn suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm và cách làm việc của cảnh sát Mỹ và đội cứu hỏa trong đêm mưa bão. Thầm cảm tạ ơn trên đã cho mình được sống ở xứ sở đóng thuế nhưng biết tiền thuế của mình đóng được xài xứng đáng vào những việc chính đáng. Thì bảo hiểm của tôi gọi tôi cho hay, có người báo tôi đụng bỏ chạy ở ngã tư đường Custer & George Bush Turnpikr trong đêm mưa bão… Tôi nói với bảo hiểm:

- Xin hãy liên lạc với cảnh sát thành phố Plano. Vì tôi đã gọi cảnh sát báo tin một tai nạn trên đường mà tôi chỉ thấy chứ không va chạm gì.

Một thời gian sau, tôi nhận thơ của bảo hiểm gởi về nhà cho hay, người báo tôi đụng bỏ chạy là người Việt vì họ Nguyễn. Cái xe bị nạn đúng là Toyota 4Runner đời ’94, màu xanh lá cây đậm. Nhưng cảnh sát Plano đã trả lời bảo hiểm là tôi không có lỗi gì hết. Chỉ là người qua đường, thấy tai nạn thì gọi báo cảnh sát…
Anh, ông hay bà Nguyễn nào đó đã trả ơn người đồng hương tôi thật khó quên. Thời ấy mà lái cái xe ấy thì đồng hương của tôi không chủ cũng đồng sáng lập ra cái công ty gì đó mới đủ thu nhập để mua xe đắt tiền, sao xử sự vậy trời?

Rồi năm 2000. Ông anh vợ tôi mới qua định cư ở Mỹ. Cũng gọi tôi thình lình để biết phải làm sao khi con bé Việt nam mới 17 tuổi, không bằng lái, không bảo hiểm. Chỉ vì mẹ bận tay làm bếp nên sai nó lái ẩu ra chợ mua đồng hành. Con bé không thắng xe trước bảng STOP vào chợ. Cha nó bỏ làm để chạy ra hiện trường tai nạn ngay. Hết lời van nài ông anh tôi thương cháu! Vì gọi cảnh sát là nó mất hết tương lai, mất cả học bổng đi đại học mà nó vừa xin được...

Rồi cũng y chang, rập khuôn xin trả hết tiền sửa chữa xe cho anh tôi.
Y chang hơn nữa là hai hôm sau, anh tôi cũng được bảo hiểm của mình gọi cho hay, người ta báo anh tôi đụng bỏ chạy…
Bài học cho ông anh mới định cư khá chua cay. Nên chả trách việc hội nhập của anh về sau không có bạn bè người Việt. Sống khép kín với anh chị em ruột trong gia đình chứ chẳng giao tiếp với đồng hương…

Người mình.
Từ ngữ nghe thân thương như ruột thịt với nhau. Cũng không ai phủ nhận được cộng đồng người Việt trên nước Mỹ, ở hải ngoại là cộng đồng non trẻ nhưng phát triển mạnh, thành công hơn nhiều cộng đồng thiểu số khác.

Người mình.
Như bàn tay có ngón ngắn ngón dài, không phải ai cũng tán tận lương tâm, mắt trắng như ngân nhũ. Nhưng song hành với thành công của người Việt hải ngoại vẫn còn nhiều mảng tối về đạo đức căn bản. Sự hội nhập không nên chỉ tính những thành công mà nhìn từ nhiều phía, lật mặt trái của nhung lụa mới thấy tì vết.

Những trang báo Việt ngữ bây giờ, ngày càng nhiều tin xấu về cộng đồng người Việt ở Mỹ và hải ngoại hơn tin lành. Một trang báo mà tôi thấy từ cái laptop tôi thường đọc báo vì màn hình hiển thị được 6 mẩu tin thì 5 mẩu tin là tin xấu… “Lái xe ẩu gây chết người, người gốc Việt đối diện bản án 8 năm tù”; “San Jose: Một phụ nữ gốc Việt bị chồng bạo hành đến chết”; “Chủ nhà hàng gốc Việt nổi tiếng dính 38 cáo buộc gian lận thuế”; “Bi kịch gia đình gốc Việt: Mẹ bị con trai bắn trọng thương đã qua đời”; “Hà Mai Việt: Việt Nam và Hoa Kỳ trong chiến tranh lạnh”; “Ba mẹ con gốc Việt chết trong vụ cháy nhà ở Vallejo: Giết người tự sát”…

Có thể nào chúng ta bớt thành công, chậm phát triển lại một chút để củng cố, chỉnh đốn lại đạo đức, lòng tự trọng của người Việt để người bản xứ có cơ hội được xem trọng người Việt như những thành công và sự phát triển cộng đồng của người Việt hải ngoại trong 4 thập niên qua?


Phan

Tết Trung Thu - Tết Nhi Đồng - Nguyễn Duy Phước

 

Lòng Tốt Đôi Lúc Trở Nên Phi Thường



Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng hai đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lặp lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc!

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô la và thả xuống đất. Sau đó, ông cúi xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông.”

Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô la, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn: “Cám ơn, cám ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này.”


Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.


(1) Những câu chuyện Nhân Văn | LÒNG TỐT ĐÔI LÚC TRỞ NÊN PHI THƯỜNG | Facebook

Saturday, September 26, 2026

Xã Stress


Cả đời Len ở Cape Breton…

Suốt cả cuộc đời, Len ở Cape Breton luôn nghe kể về một truyền thống gia đình kỳ diệu. Người ta nói rằng cha, ông nội và cụ cố của anh đều có thể đi trên mặt nước vào đúng ngày sinh nhật 21 tuổi. Vào ngày đó, họ sẽ đi bộ băng qua hồ để đến câu lạc bộ thuyền và uống ly rượu hợp pháp đầu tiên của mình.

Vì vậy, khi đến sinh nhật 21 tuổi của Len, anh cùng bạn là Corky chèo thuyền ra giữa hồ. Len bước xuống khỏi thuyền… và suýt chết đuối!

Corky phải vất vả lắm mới kéo được anh lên cứu sống. Vừa tức giận vừa bối rối, Len đi gặp bà của mình:

“Bà ơi, hôm nay là sinh nhật 21 tuổi của con, sao con không thể đi trên mặt hồ như cha, ông và cụ của con được?”

Bà nhìn thẳng vào mắt Len và nói:

“Vì, đồ ngốc, cha, ông và cụ của con đều sinh vào tháng Giêng, hồ đóng băng … còn con thì sinh vào tháng Bảy!”


Nhà ảo thuật và con vẹt

Một nhà ảo thuật làm việc trên một con tàu du lịch ở vùng Caribbean. Khán giả mỗi tuần đều khác nhau, nên anh ta thoải mái diễn đi diễn lại những màn ảo thuật cũ.

Chỉ có một vấn đề: con vẹt của thuyền trưởng xem buổi diễn mỗi tuần và bắt đầu hiểu hết các trò của nhà ảo thuật. Khi đã hiểu rồi, nó bắt đầu la lên ngay giữa buổi diễn:

“Nhìn kìa, cái mũ không phải cái cũ!”
“Nhìn kìa, ông ta giấu hoa dưới bàn!”
“Này, sao tất cả các lá bài đều là Át bích vậy?”

Nhà ảo thuật tức điên lên nhưng không làm gì được — dù sao đó cũng là vẹt của thuyền trưởng.

Một ngày nọ, con tàu gặp tai nạn và bị chìm. Nhà ảo thuật trôi dạt trên một mảnh gỗ giữa đại dương, và tất nhiên con vẹt cũng ở bên cạnh.

Hai bên nhìn nhau đầy căm ghét nhưng không nói một lời. Tình trạng đó kéo dài nhiều ngày.

Sau một tuần, cuối cùng con vẹt lên tiếng:

“Thôi được rồi, tôi chịu thua… ông đã làm trò ảo thuật gì với con tàu vậy?” 😄


Coi chừng chó

Khi bước vào một cửa hàng nhỏ ở vùng quê, một người lạ thấy tấm biển ghi:
“NGUY HIỂM! COI CHỪNG CHÓ!” dán trên cửa kính.

Bên trong, ông ta thấy một con chó săn già hiền lành đang ngủ ngay cạnh quầy thu ngân.

Ông hỏi người quản lý:
“Có phải chính con chó này mà mọi người phải đề phòng không?”

“Đúng rồi, chính nó đó,” người chủ trả lời.

Người lạ không khỏi bật cười:
“Nhìn nó chẳng có vẻ gì là nguy hiểm cả. Sao ông lại treo cái biển đó chứ?”

Người chủ đáp:
“Bởi vì… trước khi tôi treo cái biển này, người ta cứ liên tục vấp phải nó.” 😄

 

Anh Hãn chuyểnAnh Hãn chuyển

Trần Tình Với Thu - Đỗ Công Luận

 

Nỗi Buồn Lặng Lẽ Của Việt Nam Hôm Nay

 

Bi kịch của Việt Nam không ồn ào. Nó không bùng nổ trên các tiêu đề báo chí hay những báo cáo chính thức. Nó sống trong những khoảnh khắc nhỏ bé, bình thường mà người ta nhìn thấy mỗi ngày — như một người thợ cắt tóc ngồi trước cổng bệnh viện, treo tấm bảng “cắt tóc 0 đồng” cho những bệnh nhân đã tiêu hết những gì họ có chỉ để được tiếp tục sống. Những hành động khiêm nhường và lặng lẽ ấy phơi bày một sự thật mà nhiều người đã cảm nhận: đất nước tồn tại được là nhờ người dân tự giúp nhau, chứ không phải nhờ Bác và Đảng bảo vệ họ.

Bệnh viện là nơi sự mong manh của quốc gia hiện lên rõ nhất. Gia đình phải bán đất, vay mượn họ hàng, hoặc rơi vào cảnh nợ nần chỉ để có tiền chữa trị. An sinh xã hội tồn tại trên giấy, nhưng trong thực tế thì mỏng manh, thiếu nhất quán và thường vận hành theo các mạng lưới quan hệ địa phương, nơi quyền lợi nhiều khi phụ thuộc vào sự quen biết với những người nắm quyền trong đảng. Nhiều chương trình hỗ trợ đòi hỏi phải vượt qua những tầng nấc “thủ tục” mà người nghèo nhất — những người không có quan hệ hay đường dây gắn liền với đảng cộng sản Việt Nam — hoàn toàn không thể tiếp cận. Vì vậy, người dân quay sang nương tựa lẫn nhau — hàng xóm, tình nguyện viên, người xa lạ — bởi đó là tấm lưới an toàn duy nhất thực sự hoạt động.

Đó là lý do hình ảnh một mái tóc miễn phí lại có ý nghĩa. Nó không chỉ là từ thiện; nó là một lời nhắc nhở thầm lặng. Khi một người dân phải đứng ra trao lại phẩm giá cho người bệnh, điều đó phơi bày khoảng cách giữa những lời tuyên truyền chính thức và thực tế đời sống. Chi tiêu xã hội của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình trong khu vực, và các hoạt động thiện nguyện độc lập thường đến với người dân nhanh hơn, hiệu quả hơn so với các chương trình gắn với đảng. Những hành động nhỏ của lòng trắc ẩn cho thấy những gì đảng cộng sản Việt Nam đã không làm được.

Thế nhưng, bất chấp khó khăn, xã hội Việt Nam vẫn kiên cường. Tinh thần tương trợ luôn là xương sống thật sự của đất nước. Từ những làng quê đến các vỉa hè thành phố, người dân chia sẻ thức ăn, kỹ năng, thời gian và sự nâng đỡ tinh thần. Họ giúp nhau mà không đòi hỏi sự trung thành, lập trường chính trị hay sự ghi nhận. Sự đoàn kết ấy là một giá trị văn hóa sâu sắc — một dạng nhân tính có từ lâu trước mọi thiết chế hiện đại.

Nhưng nỗi buồn nằm ở sự đối lập: một quốc gia giàu lòng nhân ái, nhưng nghèo sự bảo vệ mang tính hệ thống theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Người dân gánh những trách nhiệm lẽ ra không thuộc về họ. Họ vá lại những lỗ hổng của một xã hội chủ nghĩa lẽ ra phải được xây dựng để che chở họ. Họ cho đi những gì ít ỏi mình có vì họ hiểu nỗi khổ tận cùng, và vì chờ đợi sự giúp đỡ từ chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa thường đồng nghĩa với chờ đợi vô thời hạn.

Người thợ cắt tóc trước cổng bệnh viện không chỉ đang cắt tóc. Anh đang trả lại phẩm giá cho những con người đã mất gần như tất cả. Anh đang làm điều mà đảng cộng sản Việt Nam lẽ ra phải làm — trao sự chăm sóc không điều kiện. Sự hiện diện của anh là lời nhắc rằng sức mạnh của Việt Nam đến từ chính người dân, chứ không phải từ một đảng cộng sản Việt Nam tự hào là lực lượng giải phóng và thống nhất đất nước một cách thắng lợi trước chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

 

https://thehenoitiep.substack.com/p/noi-buon-lang-le-cua-viet-nam-hom 

Phỏng Vấn Nhà Văn Trần Ngọc Ánh: Cha Tử Hình, Con Một Tuổi Đi Tù - Diễn Đàn KBC - Nguyễn Tường Tuấn

Xin mời quý bạn lắng nghe tâm tình của nhà văn Trần Ngọc Ánh, tác giả của truyện dài "Ngày Tháng Buồn Hiu" và "Con Dế Mèn Của Mẹ" trên Diễn Đàn KBC do anh Nguyễn Tường Tuấn thực hiện





Trở Về Thành Phố - Vũ Thất

 

Trên đường từ Năm Căn về Sài Gòn, bóng hình Tuyết và Hiền cứ cặp kè nhau trong tâm trí tôi. Hễ nhớ người này, người kia lại hiện ra, như hai bóng cây đổ chung một mặt hồ – chập chờn, đan xen, không phân biệt. Vậy mà khi chiếc Hàm Luông vừa cập bến Bạch Đằng, dòng hoài niệm ấy liền vỡ tan.
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!
Chỉ cần bước lên lề đường Tự Do, thế giới của những giai nhân dập dìu mở ra, kéo dài tận đại lộ Lê Lợi. Nhưng hôm nay, tôi chẳng thiết tha ngắm nhìn. Sau bốn ngày say sóng, ói mửa, tôi đâm thèm một tô hủ tiếu Thanh Xuân – nước trong vắt, thịt thái mỏng, tôm cua với trứng non – và một ly cà phê sữa đá đậm màu.

Lòng đường rực nắng, bóng cây đổ chập chờn xuống dòng xe cộ xuôi ngược. Lề rộng lát xi măng ô vuông, mát rượi nhờ những ban công kéo dài suốt phố. Dù đang giữa ban ngày, những bảng hiệu của nhà hàng, khách sạn, vũ trường vẫn nhấp nháy đủ màu, như những con mắt không bao giờ ngủ.

Tôi bước chậm, cảnh vật đong đưa nhẹ như khi còn trên tàu. Đã chín năm từ ngày Pháp rời đi, nhưng con đường này vẫn giữ dáng vẻ của một thuộc địa cũ – lịch lãm, sang trọng và đầy xa cách. Còn người cùng trang phục đã đổi thay. Những chiếc áo dài truyền thống và áo đầm dạ hội trang nhã dần biến mất. Giờ đây là những tấm áo khoét cổ sâu, váy ngắn hơn cả tuổi người mặc. Các nàng vẫn đẹp – thậm chí rực rỡ hơn – nhưng đó là thứ đẹp pha trộn, không còn là Sài Gòn nguyên vẹn.
Được nửa đường, một tấm biển huỳnh quang xanh đỏ chớp tắt đập vào mắt tôi – “Hollywood Snack Bar”.

Tôi biết mùi vị của những quán bar này. Hai tháng trước, trên chiếc USS Procyon thực tập hải nghiệp, chúng tôi ghé hải cảng Sasebo của Nhật. Dọc con đường từ cổng quân sự kéo dài đến trung tâm thành phố, snack bar mọc san sát, đèn nhấp nháy, những cô gái kimono xinh đẹp vẫy gọi.
Người bạn Mỹ giải thích: lương của chiêu đãi viên chỉ là tượng trưng, “Japanese tea” mới là nguồn thu chính. Nghĩa là ngoài việc chuốc khách uống nhiều rượu cho chủ quán, họ phải nâng niu khách để được nhiều “tea“. Nâng niu có nghĩa là bạo dạn, cho phép khách cọ quẹt nhưng không bao giờ vượt qua một giới hạn bất thành văn: các cô chỉ tiếp chứ không đi. Chuyện đó, nếu có, là từ tình cảm. Nơi chốn khách chọn, tiền bạc tùy hảo tâm. Lẽ thường, muốn chiếm cảm tình thì cần nhiều thì giờ, nghĩa là phải chi Japanese tea dài dài.

Tôi nhìn kỹ hai bên đường. Hollywood Snack Bar là quán rượu độc nhất trên trục đường. Chừng như nó sinh ra là để đón lính Mỹ từ khu cư xá Brinks cùng dãy Hôtel Continental, và từ Tòa Đại sứ Mỹ ở Chợ Cũ đổ về. Từ ngạc nhiên tôi chuyển sang thán phục: Việt Nam mình quả thức thời! Đâu có thua gì Nhật…

Dưới bóng một cây sao vỏ sần sùi, tôi ngước nhìn tấm biển nhấp nháy, như đang vẫy gọi riêng tôi. Snack Bar ở Sài Gòn hẳn chẳng khác gì ở Sasebo – cũng ánh đèn mờ, cũng mùi khói thuốc và cũng các nàng xinh đẹp nhưng trong áo dài.
Tôi chợt có ý nghĩ táo bạo. Biết đâu một cô gái dễ thương nào đó cảm thông với đời lính biển, tặng tôi một đêm không ngủ? Tốn vài trăm bạc lẻ cũng là món hời. Tôi mặc cả với lương tâm. Và như mọi cuộc thương lượng chốn trần ai, phần thắng luôn nghiêng về phía những ánh đèn màu.
Tôi đẩy cửa bước vào.

Cảm giác ngột ngạt y lần đầu tôi vào snack bar ở Nhật: lờ mờ, bí bách, ngộp mùi khói thuốc, nước hoa, và một thứ hương vị đặc trưng của chốn ăn chơi. Điệu nhạc Blue mơ hồ rỉ ra từ trần nhà, lan tỏa trong không gian mát lạnh. Ở quầy bar tỏa ánh sáng vàng ấm, hai gã lính Mỹ đang tán tỉnh một cô gái. Những dãy bàn dọc tường chìm trong bóng tối, nơi tiếng cười đàn bà lẳng lơ lấn át cả tiếng đàn ông.
Tôi leo ngồi lên chiếc ghế cao đầu quầy, gần cửa, xa hai tên Mỹ. Cô gái bỏ khách bước đến, nở một nụ cười duyên dáng:
– Hello, my dear! What can I do for you?
Tôi ngắm cô gái trẻ đẹp, nhỏ nhắn, khuôn mặt trái xoan, đôi môi son đỏ hình trái tim, đáp bằng tiếng Việt:
– Bộ tôi giống tụi Yankee lắm sao?
Cô nàng nhìn tôi, tỉnh bơ tiếp tục tiếng Mỹ:
– Ninety-nine per cent!
Tôi nhăn mặt. Mỹ, Việt một trời một vực! Muốn đuổi khéo chăng? Chê người bản xứ ít tiền? Còn đang tìm một câu thâm thúy để xỉa xói thì cô nàng bật cười khúc khích:
– Không có ý gì đâu. Tại em thấy anh giống tên Mỹ hay đến tán tỉnh em. Tóc húi cua, mắt sắc, da rám nắng – y chang.

Tôi nhìn kỹ hơn. Phấn son khéo, nhưng không giấu được những nét mặn mà hơn tuổi hai mươi ba của tôi. Tiếng “em” ngọt ngào làm tôi mát dạ. Bộ đồ đầm một mảnh màu trứng gà khoét cổ sâu, vạt váy chỉ qua nửa đùi – đáng đồng tiền bát gạo.
Cô nàng nghiêng đầu, giọng nhỏ nhẹ như rót mật:
– Anh uống chi?
– Để xem em có chi.
Tôi đảo mắt lên kệ rượu. Cách bày biện y hệt bên Nhật: những ô kính hình chữ nhật, mỗi ô một loại rượu mạnh, chai đặt cạnh chai mời mọc.
Tôi còn nhìn hàng thấp nhất, dành cho bia các loại, thì giọng cô nàng ngọt lịm:
– Thưa anh, tụi Mỹ hay gọi Budweiser, người Việt mình thì thường chọn VSOP. Anh thích loại nào?
VSOP là rượu mạnh đắt đỏ, quá sức túi tiền. Nhưng để đáp lễ câu tiếng Mỹ, tôi tỏ vẻ sành điệu:
– A ‘Bud’, please!

Mắt cô nàng bỗng sáng lên:
– Ôi, em mê cái tiếng “please” của anh. Nghe thật ngọt ngào, chứ không thô kệch như tụi Mỹ. Lại còn gọi Bud thay Budweiser nữa! Anh đích thị là bậc cao thủ. Tiểu muội xin bái kiến… đại ca!
Hai chữ “đại ca” thốt ra từ bờ môi mọng đỏ, nghe mát lòng. Tôi ngây ngất:
– Trên chốn giang hồ, chưa có bậc đại ca nào lại không biết mỹ danh tiểu muội của mình.
Cô nàng cúi xuống nhặt chai bia, môi bặm lại để giấu nụ cười. Tiếng “tách” vang giòn, nàng đẩy chai bia lạnh về phía tôi, trịnh trọng:
– Vô Danh đại ca! Khách giang hồ quen gọi tiểu muội là… Linda Sờ Nách!
Nàng bật cười ngặt nghẽo. Tôi cố nén, chắp tay:
– Vạn hạnh! Vạn hạnh!
Một lính Mỹ gọi Linda. Nàng quay mặt vào khoảng tối cuối phòng:
– Mai Liên ơi, ra tiếp đại ca của chị!

Từ bóng tối, một hình dáng mảnh mai bước ra.
Em còn rất trẻ, chừng mười bảy mười tám. Dưới lớp phấn son vụng về, nét mộc mạc quê mùa còn hiện rõ trên gương mặt thanh tú. Bộ đồ đầm ngắn cũn cỡn khoác trên thân hình mảnh dẻ trông tội nghiệp như một nhánh cây non chưa từng quen dông bão. Em rụt rè ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, mắt hướng nhìn kệ rượu. Cái dáng vẻ khép nép, thánh thiện ấy hoàn toàn lạc lõng giữa chốn trần gian ô trọc này.

Em khẽ nghiêng mặt, thanh âm nhỏ nhẹ, mang theo chất giọng miền Tây đặc sệt:
– Anh Hai khỏe hôn?
– Cám ơn em. Em làm ở đây lâu chưa?
– Dạ, nửa tháng.
– Sao nghỉ học sớm vậy?
Mai Liên lặng đi một lúc, giọng thật thà đến xót xa:
– Anh là bạn chị Linda nên em mới nói. Nhà em ở Bến Tre, có mấy mẫu ruộng. Ba em không chịu đóng thuế cho Việt Cộng nên năm ngoái bị họ xử tử. Má em sợ, dắt tụi em trốn lên đây. May có chị Linda là hàng xóm, giúp em đi làm.

Lời kể nghẹn ngào thắt lại trong tim tôi. Chiến tranh không chỉ bắt người cầm súng, nó còn hất văng những gia đình lương thiện ra khỏi đất đai, đẩy những cô gái tuổi đời còn quá trẻ vào quán bar đầy cạm bẫy. Tôi nhìn Mai Liên, và chợt thấy ngượng – mình đến đây tìm vui trên nỗi đau của một cô bé đáng lẽ còn cắp sách đến trường.
Tôi nhấp một ngụm bia đắng, nuốt trôi niềm xấu hổ.
Mai Liên ngập ngừng:
– Anh cho em xin một Saigon tea, nghen?
Tôi gật đầu. Mai Liên báo Linda. Nàng nhanh nhẹn bước về phía cuối quầy, pha chế một thứ thức uống mà tôi đoán cùng công thức với “Japanese tea“: trà loãng pha si-rô, đựng trong một chiếc ly thủy tinh lấp lánh, giá một loại rượu quý. Nàng đặt ly trà trước mặt Mai Liên, nháy mắt với tôi như một người chị gửi gắm đứa em thơ:
– Con nhỏ này hiền khô hà, đại ca thương nó nghen. Nó mới lên thành phố, còn ngơ ngác như nai vàng.

Lời dặn dò buông lơi nhưng thẳng vào tim tôi. Ở Nhật, những cô gái bar giữ được cái kiêu hãnh: tiếp nhưng không đi. Còn ở đây, những người con gái bị chiến tranh bứng rễ như Mai Liên, cái thế chủ động có thể sụp đổ hoàn toàn. Bơ vơ giữa đô thị, hoặc sống còn hoặc chết đói. Sự lựa chọn với họ, đã thành một xa xỉ phẩm.
Tôi quay sang Linda:
– Còn tiểu muội, lưu lạc chốn giang hồ này bao lâu rồi?
Linda cười giòn – tiếng cười của một người đã quá quen với câu hỏi ấy:
– Lâu rồi, đại ca ơi. Lâu đến nỗi tiểu muội quên mất mình từng có cái tên Việt.
– Tiểu muội là chủ nhân tửu điếm này?
– Phải. Mấy năm trước em làm bồi bàn cho nhà hàng Continental, gặp một gã đại úy Mỹ. Hắn bỏ tiền mướn nơi này cho em đứng tên. Thu nhập chia hai.
– Còn tình cảm… có chia hai?
Linda nhún vai, giọng chùng xuống:
– Thì hai bên cùng có lợi. Có điều, làm nghề này, tuyệt đối không được thương ai thật lòng. Phải luôn nhớ lính Mỹ đến rồi đi. Hết hạn là bay về nước. Có đứa ngây thơ tin lời hứa cưới, để rồi mòn mỏi trông ngóng một kẻ biệt tăm. Có đứa mang bầu, chỉ biết ngồi khóc trên chiếc ghế đại ca đang ngồi.

Tôi nhìn xuống ghế mình, bất giác xót xa.
– Còn tiểu muội, nếu tên Mỹ về nước?
– Đến nay em mua được căn nhà cho ba mẹ, để dành được chút đỉnh. Hắn hứa: khi về nước, không đòi lại tiền đặt cọc căn phố này.
Nàng dừng lại, đăm đăm nhìn tôi:
– Nhờ vậy, hôm nay tiểu muội mới được gặp đại ca…
Tôi bật cười:
– Nghĩa là…
Linda gật đầu, tiếng cười khô khốc:
– Nghĩa là Linda vẫn là Linda. Hôm nay vui, đại ca là người đầu tiên tiểu muội tâm sự.

Phía đầu quầy, một gã lính Mỹ ra dấu gọi thêm rượu. Linda vội bước sang. Tôi quay sang Mai Liên. Em vẫn lặng lẽ nhấp từng ngụm “Saigon tea“. Ánh đèn từ biển hiệu ngoài đường xuyên qua ô kính, loang loáng trên khuôn mặt non nớt, lúc nhuộm xanh, khi phủ đỏ bầm. Mai Liên có nét dễ thương, thánh thiện, kiểu gì rồi cũng sẽ có khối lính Mỹ si mê. Tôi cầu mong em đủ cứng cỏi để chống lại những lời đường mật, và Linda sẽ truyền cho em chút “nghề” để tự bảo vệ mình.

Định hỏi thêm thì cánh cửa bật mở. Một toán bốn gã lính Mỹ ồn ào kéo vào, mang theo mùi mồ hôi và nước hoa cạo râu. Bầu không khí lập tức thay đổi. Mấy cô chiêu đãi viên từ các góc tối hiện ra, nụ cười bật sáng như bóng đèn. Những tiếng “hello” lảnh lót, tiếng “you’re number one” cùng những tràng cười vang. Một cô sà vào lòng gã lính to con nhất, nhận lấy nụ hôn nhiệt thành. Trong tiếng nhạc êm dịu, cái guồng máy mưu sinh trở nên sôi động, trơn tru, thuần thục và chuyên nghiệp đến giật mình – hơn cả Nhật.
Tôi quay sang Mai Liên, hỏi nhỏ:
– Tên Mỹ của em là gì?
Em cười:
– Cũng Mai Liên. Chị Linda bảo tên em dễ gọi với tụi Mỹ nên khỏi đổi.
– Em nên đến với họ.
Mai Liên vẫn ngồi yên, hai tay đan vào nhau:
– Chị Linda dặn em tiếp anh.
Tôi buông một câu nhẹ tênh:
– Cám ơn em, nhưng anh về bây giờ.
Mai Liên đứng dậy, hai tay vuốt lại vạt áo. Nụ cười gượng gạo thoáng qua, em bước về phía toán lính. Tôi nhìn theo, thấy dáng đi chông chênh trên đôi giày cao gót chưa quen, lắc lư như chiếc Hàm Luông giữa sóng lớn. Trước khi khuất hẳn vào vùng tối, em chợt ngoái lại nhìn tôi lần cuối – cái nhìn yếu ớt và tuyệt vọng của một người sắp lặn xuống dòng nước thẳm, cố ngoái lại nhìn bờ lần chót. Rồi bóng tối ập đến, nuốt chửng dáng hình nhỏ bé.

Tôi dốc chai bia, uống một hơi. Vị đắng và ngọt buồn lan ra. Tôi ngoắc Linda tính tiền. Nàng vội đến, nhìn chai bia còn một nửa, ngạc nhiên:
– Giận hả? Mai Liên có gì không vừa lòng đại ca?
– Không. Mai Liên dễ thương lắm.
Linda nhìn tôi đăm đăm:
– Bia cũng chưa cạn, thậm chí tiểu muội cũng chưa biết đại ca là nhân vật nào trong chốn giang hồ.
Trong nghề của nàng, một khách bỏ đi khi rượu chưa cạn là có nghĩa không trở lại. Nhưng tôi đã hết muốn uống. Tô hủ tiếu Thanh Xuân hấp dẫn hơn. Tôi nhìn bảng giá, đặt tiền lên quầy, rồi nhảy khỏi ghế.
– Đại ca nhất định về?
– Đến lúc phải về rồi, tiểu muội.
Linda đưa trả tôi xấp tiền:
– Cho đại ca thiếu, hôm nào trở lại tính luôn.
Tôi cười, không nhận:
– Sẽ trở lại. Số tiền đó tặng Mai Liên. Chúc tiểu muội gặp nhiều may mắn.
Tôi ra cửa. Linda theo sau, vẫy tay:
– Tái kiến! Đêm đêm đại ca đừng quên nhớ tiểu muội.

Cánh cửa khép lại, luồng nắng chiều gay gắt của Sài Gòn đập thẳng vào mắt tôi, chói lòa. Tôi đứng lặng dưới hiên, nheo mắt chờ thích nghi với ánh sáng thật của cuộc đời.
Sải bước theo phố, tôi nghĩ về Linda. Nàng khéo léo, biết điều. Dù đó có thể là một cái bẫy giữ khách, tôi cũng chẳng ngại bước vào bẫy khi thấy cô đơn. Vài chai bia, đấu láo cùng tiểu muội, hẳn đủ lãng quên nỗi quạnh hiu của đời lính biển.
Tôi bỗng hướng về Mai Liên, về câu chuyện của em. Cha bị xử tử, mẹ dắt díu con trốn chạy. Cô gái tuổi đời mười tám đang bước vào chốn phù hoa với đôi giày cao gót chưa quen. Tôi chẳng giúp được gì ngoài ly Saigon tea. Tưởng vào snack bar giải buồn, rồi lại thêm buồn!
Tôi quẹo qua đường Tôn Thất Thiệp, tiếp tục sải bước. Nắng chiều Sài Gòn phủ trên các mái ngói. Hình ảnh tô hủ tiếu Thanh Xuân bốc khói với quả trứng non cùng ly cà phê sữa đá lại hiện ra.
Cùng lúc, một câu hỏi chợt đến: tôi về đâu cho qua đêm nay?

 

Vũ Thất

Nguồn: https://vuthat.wordpress.com/2026/08/02/doi-thuy-thu-1-chuong-8/