“Chuyện khuất lấp ban đêm, chỉ có trời biết. Còn chuyện ban
ngày, đã rõ trắng đen. Bạ ai cũng tán tỉnh. Thượng vàng hạ cám không chừa thứ
nào.”
Thái độ và lời lẽ của chị Ba làm tôi ngạc nhiên. Chị đâu có quyền
nói những lời gay gắt như thế với tôi. Nghĩ tới tình nghĩa anh Ba Canh, tôi
không nỡ phản ứng làm mất lòng chị Ba.
Tôi nói: “Chị hơi nặng lời đấy.” Rồi bỏ đi ra bãi.
Bến Củi không còn ai. Tôi một mình vác củi chất vào từng thước khối theo những cây cọc, Ba Canh đã đóng sẵn từ trước. Hôm nay, anh theo xe ra chợ lấy hàng. Tôi làm mãi đến xế chiều. Mồ hôi đầm lưng áo. Khô cổ, khát nước. Trời oi nồng, đứng gió. Muốn vào quán để uống ly nước đá, nhưng nghĩ lại thái độ khó chịu của chị Ba, tôi ngại. Tôi đi chếch về phía tây Bến Củi, nơi có ngôi đình lâu ngày không được trùng tu.
Ngày tôi mới đến, trông thấy một bên hiên đình quằn xuống sắp đổ. Hình ảnh hư hao tàn tạ cuốn hút lòng tôi. Tìm ở đâu cho xa? Một nơi chốn mà người đời quên lãng, sẽ là nơi trú ngụ an toàn cho con chim tơi tả trước cơn dông thời cuộc. Mái đình xưa, lợp ngói âm dương phủ màu rêu xám. Cuối nóc đình, chỗ giáp với đầu hồi có gắn con hạc bằng đồng thau. Hạc xoãi cánh như đang chấp chới bay lên để thoát khỏi sự sụp đổ của ngôi đình, mà đôi chân tội nghiệp cứ dính chặc vào đầu hồi. Dù không bay trong không gian, nhưng con hạc vẫn bay suốt thời gian gần trăm năm từ ngày dựng đình. Phía sau con hạc, cỏ dại và những cây con mọc đầy trên mái. Lớp lớp rêu phong âm thầm nói lên biết bao điều ý nghĩa. Những ai hăm hỡ xẻ gỗ dựng đình từ thế kỷ trước, đều khuất bóng cả rồi. Thần linh phiêu hốt nơi đâu mà tượng gỗ xiêu xó nơi này? Không được trùng tu, nhưng số phận ngôi đình vẫn còn may mắn. Nhờ ở vào vị thế địa dư hẻo lánh, không có tiếng tăm linh hiển vang xa nên thoát được cái hoạ san bằng bởi chiến dịch triệt hạ những đình chùa lăng miếu, quét sạch nền văn hoá cũ của bao đời cha ông để lại.
Đã bao nhiêu đêm, tôi nằm trăn trở dưới mái hậu liêu. Nghe chim đớp muỗi vỗ cánh chạm xạc xào trong khóm lá ngoài kia. Nghe tiếng dơi chí choé cắn nhau dưới mái ngói bên hàng hiên sắp đổ. Thấm thía nhứt là tiếng vạc kêu sương rớt xuống tự trên lưng chừng trời. Dường như trong tịch mịch lặng im, tiếng vạc lẻ loi làm tôi thấy rõ hơn về nỗi quạnh hiu của mình. Những đêm trăng tỏ, tôi thường đứng trông ra Bến Củi. Những khối củi mập mờ nhìn từ xa, như những chiếc xe tăng đang lổn nhổn tiến về phía bìa rừng. Bồi hồi nhớ lại thời còn chiến tranh. Một binh lực hùng mạnh là thế, bỗng một ngày tán loạn rã tan. Chuyện vô lý tưởng chừng như cơn mơ. Đến khi lủ khủ dắt nhau vào tù, mới bừng ra sự thật. Từ ấy trở đi, lý lịch tôi mang một dấu ấn lớn, không mong gì bôi xoá để làm lại cuộc đời. Tôi về Tầm Lanh như người xưa bất đắc chí quay về sằn dã. Ẩn nhẫn mà sống. Nhưng bất cứ nơi nào, tôi cũng thấy bi đát. Hoàn cảnh một cô Kiều trưa nay, cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi có hơn gì cô đâu. Đời đã lâm vào thế bí. Trở lui không được, tiến tới không xong.
(2)
Đêm đã khuya. Sương mù xuống lạnh màu trăng. Hình như có tiếng
chân ai dẵm lên những phiến lá khô ngoài sân đình. Tôi nhỏm dậy. Một người vừa
bước đến bên thềm hậu liêu.
Tôi ngạc nhiên: “Chị Ba. Có gì mà ra đây giờ này?”
“Cũng có chút việc.” Chị nói nhỏ.
“Việc gì? Tôi có thể giúp chị không?” Vừa hỏi, tôi vừa vén tấm
mùng vắt lên nóc.
Chị e dè ngồi xuống mép giường: “Anh có giận tôi không?”
“Giận chuyện gì?”
“Hồi trưa, tôi lỡ lời.”
“Không đâu. Chị nói cũng đúng. Tôi hay rà rê với mấy cô ấy.”
“Tôi biết anh làm thế vì buồn.”
“Vâng. Tán gẫu cho qua ngày.”
“Nhưng anh phải lựa người chứ.”
“Có tính chuyện lâu dài đâu mà chọn lựa?”
“Giữa ban ngày kề vai bá cổ với gái điếm, không sợ người ta cười
sao?”
“Cái thân cùng đinh mạt kiếp như tôi, còn sợ ai cười nữa?”
“Thấy chướng quá, tôi có nặng lời. Anh buồn không?”
“Tôi buồn, nhưng không phải buồn chị.”
Chị ngó tôi, thì thầm: “Buồn ai?”
“Buồn vì… buồn. Thế thôi.” Tôi ngập ngừng lúng túng. Cảm giác có
điều gì bất thường.
“Buồn vì cô đơn hả?” Chị liếc con mắt gợi tình.
Dưới ánh trăng khuya nghiêng rọi vào hậu liêu, nét mặt chị Ba có
sức quyến rũ lạ lùng. Mùi xà bông chanh trên tóc, mùi đàn bà quyện vào nhau
thoang thoảng. Những đêm nằm một mình dưới mái hiên, tôi thèm được hôn hít vuốt
ve một thân thể mềm mại ấm áp của người nữ. Nhưng, chưa bao giờ tôi dám nghĩ
người ấy là chị Ba.
“Nói đi. Có phải buồn vì cô đơn?”
Chị lẵng lơ nhìn tôi và đưa tay vén mớ tóc giạt qua một bên cổ.
Bộ ngực vun đầy phập phồng dưới lớp áo mỏng nghiêng về phía tôi.
“Chị Ba ơi…, còn anh Ba Canh.”
Nói thế, nhưng hình ảnh Ba Canh đã mờ nhạt trong tâm trí tôi rồi.
Giờ đây, chỉ còn chị Ba như một khối nam châm dục vọng có sức thu hút làm
nghiêng đổ những người đàn ông lòng dạ sắt đá.
“Ảnh đi ra chợ. Anh cũng biết mà.”
Chị nói mà không nhìn vào tôi, như một khuyến khích muốn làm gì thì làm đi. Không nhìn là để anh hành động được tự nhiên. Hơi hướm từ cổ chị Ba phả vào mũi tôi cám dỗ. Tôi hồi hộp nghe rõ hơi thở dồn dập của mình, đồng thời với nhịp tim đập liên hồi trong lồng ngực.
Bỗng có tiếng dơi kêu chí choé bên kia hàng hiên. Tôi bàng hoàng
tưởng như tất cả những bức tượng ngả nghiêng đóng bụi trong đình đều chỗi dậy
la ó. Quỷ Thần kéo nhau ra hậu liêu, đứng nhìn chị Ba và tôi. Tôi chợt nhớ lại
ngày còn bé, đọc chuyện Một Vị Quan Thanh Liêm đời xưa, trong sách Giáo Khoa
Thư. Có người mang của hối lộ đến. Vị quan từ chối. Người ấy nói: “Xin quan cứ
nhận. Chuyện này không ai biết.” Vị quan nói: “Sao không? Ông biết. Tôi biết.
Quỷ Thần Trời Đất biết.” Chuyện của Chị Ba và tôi đêm nay, dù Ba Canh không biết,
nhưng chị Ba biết, tôi biết, và Quỷ Thần Trời Đất biết.
Ngọn đèn lương tâm sắp tắt. Tôi cố thắp lên bằng cách bước ra đứng
ngoài hiên. Ánh trăng mờ và lạnh.
“Chị Ba ơi, về đi. Lỡ có người trông thấy thì… chết.” Tôi nói với
chị Ba, cũng như nói với chính mình.
Chị ngỡ ngàng ngồi sững. Tội nghiệp chị. Tội nghiệp luôn cả tôi
nữa. Tôi muốn quay lại ôm lấy cái thân thể chín muồi dục vọng, ngả xuống mặt
giường. Tôi và chị sẽ quấn lấy nhau, sẽ chìm vào nhau, và trong giây phút sẽ
cùng nhau chết đuối trên chiếc giường này. Lúc đó, ngoài tôi và chị, tất cả những
gì chung quanh không còn gì quan trọng.
“Thôi, tôi về. Đã theo tán tỉnh mấy con đĩ, còn lên mặt đạo đức
làm cao.”
Câu nói như một gáo nước lạnh, bất ngờ dội xối vào mặt tôi. Chị
thay đổi thái độ nhanh vô cùng. Từ khuôn mặt hừng hực lửa tình quyến rũ, đôi mắt
lẳng lơ mời gọi, bỗng trở thành lạnh băng. Tôi hụt hẫng, chưa định được phản ứng
thế nào. Chị vùng vằng bỏ đi. Không biết nghĩ sao, chị dừng lại ngập ngừng.
“Anh hứa không nói với ai?”
“Vâng. Tôi hứa.”
Chị quay lưng. Thấp thoáng dưới trăng, bóng chị Ba mờ khuất
ngoài Bến Củi.
Tôi nằm thao thức suốt đêm. Chuyện xảy ra không lường trước được.
Tôi đã bỏ lỡ dịp may. Một con mèo đói vụng về đánh mất miếng mỡ. Tôi thầm tiếc,
nhưng cảm thấy yên lòng. Ngày mai nhìn lại Ba Canh, tôi không xấu hổ với lương
tâm mình.
Bình minh lên. Tôi dậy muộn. Nghe tiếng quạ kêu trên đầu cây sao
già. Tiếng quạ kêu rất thảm. Trong tiếng quạ sáng nay, dường như có pha thêm điều
gì thảng thốt. Có lẽ, lòng tôi bắt đầu nhuốm bệnh?
Mọi sinh hoạt của Bến Củi vẫn bình thường. Chị Ba đối với tôi
cũng bình thường. Nhiều khi tôi tự hỏi, chị còn nhớ gì trong đêm ấy không? Khó
mà biết được ý nghĩ của chị. Trong cái đầu của mỗi người đàn bà, có cả một kho
tàng bí mật.
Anh Ba Canh bao giờ cũng tử tế. Lòng anh đơn giản. Anh tưởng
lòng người cũng đơn giản như anh. Anh thường khuyên tôi nên tìm một người đàn
bà goá để gán ghép hai cuộc đời cô đơn làm một. Vì quá thật thà, anh đâu biết
có những cặp vợ chồng đang đi trên lưỡi dao cạo. Đến một ngày nào đó, hiểu ra
thì con tim đã bị cứa nát rồi. Chừng nào anh Ba Canh mới thấu được lòng dạ chị
Ba? Lúc ấy, liệu anh làm sao với con tim chảy máu của mình?
Ba năm tôi ở Tầm Lanh. Kẻ lạ chợt đến chợt đi. Tình người dưng
nước lã. Tôi nương tựa vào gia đình Ba Canh, coi đây là chỗ thân tình duy nhất.
Đứa con gái lớn của anh, tên Mận, học hành dang dở. Tôi đến chơi, thường vẫn dạy
thêm cho Mận về những môn thường thức của nhà trường. Năm mười lăm tuổi,
Mận nghĩ chuyện gì ở trên đời, tôi cũng thông suốt.
Mận hỏi: “Chú ơi, muối lấy từ đâu?”
Tôi nói: “Từ trong nước biển.”
“Tại sao nước biển có muối nhỉ?”
“Vì nước biển mặn.”
“Tại sao nước biển mặn?”
“Vì nước biển có muối.”
Cái kiểu trả lời theo chu kỳ vòng tròn của tôi, làm hai chú cháu
cười ngất.
Năm mười sáu tuổi, Mận nói: “Chú ngon hơn ông Nguyễn Công Trứ.”
Tôi hỏi: “Tại sao?”
“Ông Nguyễn Công Trứ đang làm quan bị hất xuống làm lính, vẫn chạy
theo sau chiếc xe công danh réo gọi ơi ới. Còn chú, nghe ba cháu nói cũng đang
làm quan gì đó, rồi bị đi tù, trở về đi vác củi, không thèm chạy theo cách mạng.”
“Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Không so sánh thế được đâu. Cháu đừng nhắc chuyện cũ để chú yên thân làm nghề vác củi.”
Năm mười bảy tuổi, Mận nói: “Chú ơi, chú giống ông Trần Tế
Xương.”
Tôi hỏi: “Ổng là thi sĩ. Chú là phu vác củi. Sao lại giống
nhau?”
Mận lật quyển sách, đọc:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng, chừa rượu với chừa trà.
Rồi ngước lên nhìn tôi: “Chú cũng vậy. Không chừa được đàn bà.”
“Đàn bà đâu? Chú đang sống độc thân mà.”
“Hừm… Cháu thấy mấy cô làm đĩ, bu vào chú nói chuyện hoài.”
“Ừ, thì nói chuyện cho… vui.”
“Không được. Chú phải chừa cái thứ ba luôn.”
Tôi kêu: “Trời ơi! Chú đâu phải thầy tu mà chịu đủ thứ điều răn
giới luật?”
Mận khẳng định: “Người tốt không giao thiệp với người xấu.”
Trong mắt Mận, tôi là người tốt. Mận không muốn tôi lân la gần
gũi những người mà Mận cho rằng xấu. Mận đâu biết trên cõi đời ô trọc này,
không thể nhìn bề ngoài con người mà tỏ được vàng thau. Mận thừa hưởng tấm nhan
sắc mặn mà của mẹ, còn tính nết ra sao, chỉ có trời biết.
Một chiều nghỉ việc sớm, tôi đi thơ thẩn trên sân đình.
Mận đến, nói: “Má cháu bảo đem biếu chú trái dưa hấu đầu mùa.”
Và đặt trái dưa xuống bậc thềm.
Tôi nói: “Tránh chỗ đó. Coi chừng mái hiên sập xuống bất cứ lúc
nào.”
Chúng tôi đi vòng ra đứng trước cửa tiền đình.
Mận nhìn cánh cửa gỗ mối mọt hư hao: “Cái đình này ghê quá.”
“Cháu có vào bên trong bao giờ chưa?”
“Hồi nhỏ, cháu thường vào mỗi khi có dịp cúng đình. Nghe nói Thần
đình được sắc phong của vua. Sắc đựng trong cái hộp gỗ, để bên cạnh bức tượng.”
“Mình vào coi thử đi.”
Tôi mở cửa chính điện. Bụi thời gian lả tả rơi đầy trên tóc,
trên vai. Lâu ngày không ai quét dọn, mùi cứt dơi xông nồng lên mũi. Nền đình
lót gạch Tàu. Dấu chân chúng tôi in trên màu bụi xám. Trong đình âm u. Ánh sáng
bên ngoài hắt qua cửa chính mờ mờ, đủ nhìn thấy bàn thờ và bức tượng. Hai tấm
liễn màu đỏ hai bên, viết bằng Hán tự. Bụi phủ, nhện giăng. Tượng Thần không lớn
mà uy nghiêm. Hộp đựng sắc vua phong làm bằng gỗ mun, được che bởi miếng vải lụa
điều. Tôi giở miếng vải lụa. Trên nắp hộp có hình một cặp giao long khảm xa cừ
lóng lánh
Tôi toan mở, Mận ngăn: “Không được.”
“Sao không?.”
“Chẳng phải ai cũng có thể mở hộp ra coi được đâu.”
“Vậy ai có thể mở?”
“Cháu nghe nói, chỉ những vị chức sắc làm lễ xin phép Thần trước
khi mở hộp.”
“Những vị chức sắc, bây giờ ở đâu?”
“Không biết.”
Mận đứng nép vào tôi, ngó dáo dác chung quanh.
“Mình đi ra, chú! Vào đây, cháu thấy sờ sợ.”
Mùi tóc, mùi của người nữ thoảng vào mũi tôi. Tôi muốn đứng đây
mà hít thở. Và Mận cứ nép vào tôi như thế mãi. Hơi ấm thịt da con gái luồn vào
tôi một nỗi gì êm đềm lâng lâng khó tả. Tôi định nói một câu thân tình âu yếm,
nhưng lại thốt khác đi.
“Mai cháu đem cây chổi cho chú mượn. Chú muốn quét dọn bên trong
ngôi đình.”
Mận ngước nhìn tôi: “Không… Đừng động đến mọi vật trong này.”
Tôi nói thêm một câu thật lảng: “Vì tôn trọng tín ngưỡng, tập tục lễ nghi của ngưới đời trước, chú không mở hộp để coi sắc phong thần vua ban.”
Mận cầm tay tôi lay nhẹ: “Chú!”
Bàn tay Mận đẫm mồ hôi. Xa đàn bà lâu quá, tôi đâm ra ngờ nghệch
vụng về không biết nói lời gì.
“Mình đi ra, chú!” Mận giục.
Tôi nói nhỏ: “Hãy khoan.”
Mận kêu: “Không. Cháu sợ, chú ơi!”
Chẳng biết Mận sợ sự âm u của ngôi đình, hay sợ nỗi gì khác.
Chúng tôi ra tới cửa chính. Bất ngờ, thấy chị Ba đứng sẵn nơi tiền
đình. Tôi gật đầu chào chị.
Mặt chị có vẻ khác thường: “Các người làm gì trong ấy?”
Mận nói: “Chú định coi sắc vua.”
“Hừ… Sắc vua?”
Chị nắm tay Mận lôi về, không thèm ngó đến tôi.
Hôm sau, tôi gặp lại Ba Canh ngoài bãi. Anh không nói gì. Thái độ
rất lạnh.
Tôi hỏi: “Anh có điều gì không vui?”
Anh ngừng tay làm việc, rút thuốc ra hút và đứng suy nghĩ.
Mãi lâu sau, anh nói: “Tôi quý chú em, coi như người nhà. Không
ngờ, chú tệ quá.” Anh thở dài.
“Tôi làm những gì mà anh gọi là tệ?”
“Những gì chú cũng biết rồi. Con Mận còn khờ. Chú là người hiểu
biết. Miếu đình là chốn linh thiêng. Sao lại đem nhau vào trong ấy…?”
“Có phải chị Ba thêu dệt chuyện này?”
“Ai dám thêu dệt chuyện động trời như thế.”
“Anh đã hỏi kỹ lại con Mận chưa?”
“Làm sao nó có thể nhận một hành động tày trời? Nó chối. Khóc
kêu oan.”
Tôi gắt: “Anh cũng tin lời chị sao?”
“Không tin vợ thì tin ai?” Nếu vợ tôi không bắt gặp tại trận, chỉ
nghe lời đồn thì cũng khó tin được.”
“Bắt gặp thế nào?”
“Chú là người trong cuộc, chú biết rõ hơn ai hết. Tôi không nói
là vì còn nể mặt nhau.”
Tôi muốn đấm ngực than trời. Mận khóc kêu oan. Còn tôi, kêu với
ai? Đính chính thế nào?
“Bây giờ anh tính sao?”
“Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi chưa biết đường nào giải quyết.
Đàn bà nhiều khi sáng suốt hơn mình. Vợ tôi nói vì danh dự của chú và con Mận,
không nên làm ồn vụ này. Nó phải giữ danh giá để mai kia còn lấy chồng. Chú nên
rời khỏi Tầm Lanh, cắt đứt ngay mối tình vụng trộm.”
Cái câu “chú nên rời khỏi Tầm Lanh” làm tôi hiểu rõ ý định của
chị Ba. Chị không hiểu lầm. Chỉ vì không muốn tôi còn lảng vảng quanh đây, sợ một
lúc nào đó, tôi sẽ tiết lộ cái đêm trăng cũ chị đến mái lậu liêu. Nếu lần ấy,
tôi đồng tình với chị thì hai người cùng giữ bí mật. Và chị cũng không cần phải
dựng đứng lên một điều không có thật giữa tôi và Mận. Bây giờ, dù tôi có vạch
rõ âm mưu của chị Ba, thì anh Ba Canh cũng sẽ cho rằng tôi đặt điều bêu xấu vợ
anh để chạy tội cho mình.
Tôi nói: “Anh Ba, mai tôi rời Tầm Lanh. Xin anh nhắn với chị rằng,
vì muốn bảo vệ danh giá của mình, chị đã vu oan cho tôi và con Mận.”
“Vu oan? Tôi không nghĩ thế. Và cũng không hiểu ý của chú muốn
nói gì?”
“Hiểu sao được khi anh đang sống ngọt ngào trên lưỡi dao cạo.
Tôi và con Mận đã bị đứt tay rồi. Không biết chừng nào tới anh.”
Trên chuyến xe rời Bến Củi, tôi thấy Mận đứng dưới mái hiên, ngùi trông theo. Chẳng biết Mận có khóc hay không. Bóng xế hắt hiu trên đầu cây sao già. Ngôi đình cũ vẫn im lìm như ngày tôi mới đến. Ba năm. Cây rừng Tầm Lanh mọc rễ trong tôi. Tôi nhổ gốc ra đi. Không có ai vẫy tay làm đưa tiễn./.
Lâm Chương

No comments:
Post a Comment