Saturday, March 29, 2025

#360 - Gan Nhiễm Mỡ, Chân Yếu Dần, Bí Quyết Hạ Cholesterol: Giải Đáp Sức Khỏe Toàn Diện - BS. Phạm Hiếu Liêm

Cơ Thể Con Người Và Những Con Số Khổng Lồ Khiến Bạn Giật Mình

Cơ thể người là một kỳ quan của tạo hóa, tuy rất nhỏ bé so với thế giới bao la rộng lớn ở mức vi quan hơn, cơ thể chúng ta cũng to lớn vô hạn với những con số khổng lồ. Dưới đây là những số liệu liên quan tới cơ thể người mà chắc chắn bạn chưa từng biết tới mặc dù là “chính chủ” sở hữu cơ thể mình.

                                              1. Hệ tim mạch


Quả tim của chúng ta phải làm việc trong suốt 70-80 năm mà không ngừng nghỉ. Theo ước tính, trong quãng thời gian đó nó đập tới 3 tỷ lần và bơm 48 triệu gallon máu (gần 182 triệu lít). Quả tim con người có thể tạo ra một áp suất đủ để đẩy máu đi xa 9 mét.

Nghe có vẻ khó tin nhưng mỗi ngày, máu di chuyển một quãng đường dài 96.540 km trong cơ thể chúng ta, tức là hơn 2 vòng Trái Đất (Độ dài xích đạo của Trái Đất là khoảng 40.075 km). 

   2. Bộ não


Chứa trung bình khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh, bộ não con người có thể lưu giữ thông tin gấp 5 lần cuốn Bách khoa toàn thư Britannica.

Cho tới nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định chính xác được dung lượng của não nhưng họ dự đoán con số này là khoảng từ 3 tới 1.000 terabyte, tính theo đơn vị lưu trữ điện tử. Dữ liệu của hơn 900 năm lịch sử được lưu giữ tại trung tâm lưu trữ quốc gia Anh chỉ tương đương khoảng 70 terabytes mà thôi.

Các xung động thần kinh truyền đến não và từ não truyền đi với tốc độ “chóng mặt” 274 km/giờ 

                                        3. Hệ hô hấp

Mỗi ngày con người thở trung bình khoảng 23.040 lần.

Một lần hắt hơi, con người thải ra môi trường xung quanh từ 2.000 cho tới 5.000 giọt chất nhầy (nước bọt và dịch nhầy) với vận tốc có thể đạt tới 112.6 – 160 km/h và phạm vi phát tán văng xa tới 152.4 cm.

Khi ho, bạn đã đẩy không khí đi ra với tốc độ lên tới 96 km/giờ. 

                                 4. Cơ và xương khớp


Hộp sọ của con người được cấu tạo từ 29 xương khác nhau.

Trung bình trong suốt cuộc đời của mỗi người đi bộ được một quãng đường dài gấp 5 lần đường xích đạo (khoảng 40.075,0 km).

Chúng ta có thể cất tiếng nói là nhờ sự tương tác của 72 cơ bắp khác nhau.

Khi mới sinh ra, con người có tất cả 300 khúc xương nhưng khi trưởng thành do kết quả của sự lão hóa số lượng xương giảm xuống chỉ còn 206 xương. 

5. Hệ tiêu hoá

Một người trưởng thành có khoảng 5000 hạt "gai" vị giác ở trên lưỡi. Mỗi chiếc gai lưỡi có tuổi thọ trung bình là 10 ngày.

Diện tích bề mặt của ruột là 200m2. 

6. Mắt


Do có nồng độ hormone estrogen cao hơn nên phụ nữ chớp mắt nhiều gần gấp 2 lần đàn ông.

Mắt thực hiện hoạt động khoảng 100.000 chuyển động mỗi ngày, và nháy trung bình 6.205.000 lần mỗi năm. 

7. Da


Trung bình, da đầu một người có khoảng 100.000 sợi tóc.

Diện tích bề mặt của da người là 2m2. Mỗi phút, con người loại bỏ khoảng 50.000 tế bào da chết và trong suốt cuộc đời một người trung bình thải đi hơn 18kg da chết.

Dây thần kinh dưới lớp da của mỗi người dài khoảng 72km.

Cứ 2,5cm2 bề mặt da người lại chứa 6m mạch máu. 

8. Số nguyên tử trong cơ thể con người 

Mỗi giây trôi qua lại có 15 triệu tế bào máu bị tiêu huỷ trong cơ thể con người.

Khoảng 98% nguyên tử trong cơ thể bị thay thế mỗi năm bởi các tế bào trong cơ thể người đều có tuổi thọ, tế bào mới phân tách rồi lại thay thế tế bào cũ.

Cơ thể con người là một tập hợp gồm 7.000.000.000.000.000.000.000.000.000 (7.10 mũ 27 hay 7 tỉ tỉ tỉ) nguyên tử. 


Sưu tầm

Nơi Đáng Sống Nhất Quả Đất - Tiểu Lục Thần Phong


Quanh năm cày sâu cuốc bẫm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, suốt đời quanh quẩn với ruộng vườn, heo bò gà vịt ấy vậy mà cuộc sống vẫn không khá nổi, đầu tắt mặt tối, thiếu trước hụt sau, con cái nheo nhóc, ăn còn không đủ thì nói chi đến chuyện học hành hay du hí đó đây. Vợ chồng Đậu than thân trách phận mà hổng biết tại sao mình khổ như thế. Vợ chồng Đậu bèn đổ riệt cho ông trời, việc gì cũng do trời cả. Bản tánh vốn thiệt thà chất phác đến độ ngờ nghệch không còn phân biệt nổi phải trái, trắng đen. Ai nói gì cũng nghe, ai phỉnh phờ cũng tin, bị gạt miết mà hổng tỉnh ra. Thực tình mà nói Đậu cũng dốt thật, với mớ chữ và kiến thức ở trường làng đựng không đầy lá môn thì làm được gì, chỉ được mỗi cái xạo là khỏi chê, cũng vì cái mỏ xạo ấy mà nhiều lúc Đậu cứ ngỡ mình nhất làng này, mà nhất làng này thì cũng coi như nhất thiên hạ rồi, cứ như thế Đậu như con ếch ngồi đáy giếng cứ ngoác mồm ra oang oang nhức cả đầu. Ngày kia hai vợ chồng Đậu nghe nói thành đô rực rỡ là nơi đáng sống nhất quả đất. Đậu bàn với vợ:

– Vợ chồng mình ở dưới quê cả đời, nghèo khổ đã lâu, nay người ta đồn đãi thành đô là nơi đáng sống nhất, vậy tui với bà làm chuyến lên tỉnh để nở mặt nở mày với thiên hạ.

Vợ Đậu gật đầu, hai vợ chồng lập tức tay xách nách mang lỉnh kỉnh quà quê, giỏ lác đựng mớ rau củ và con gà nòi đang tơ lên thành chơi.Vừa bước xuống xe đò, một đám cò lập tức bu quanh chụp giựt níu kéo, đứa nào cũng đòi chở vợ chồng Đậu mà chưa cần biết đi về đâu. Vợ Đậu sợ lấm lét, ôm chặt cái giỏ lác sợ tụi nó giựt mất. Đậu cũng xám mặt, hai tay kè kè giữ rịt túi quần vì trong ấy có mớ tiền bán lúa non để lên thành chi tiêu. Bọn cò xe ỏm tỏi làm dữ quá, Đậu còn chưa biết tính sao thì may quá, người em họ cũng vừa trờ đến, nhờ vậy mà bọn cò xe ôm mới chịu dãn ra. Hai vợ chồng Đậu ngồi sau lưng ôm cứng người chở cứ như ếch đeo bẹ dừa nước, mắt ngơ ngác nhìn phố xá hai bên, thỉnh thoảng miệng ú ớ, mắt trợn tròn ngạc nhiên vì sự ồn ào và tấp nập của phố phường. Nhìn đâu cũng thấy nhà lầu, cửa hiệu, đèn quảng cáo chớp chớp xanh đỏ tím vàng sao đẹp quá, sao khác với cảnh bùn lầy nước đọng dưới quê. Xe dừng ở đèn đỏ, dòng xe ken kín mặt đường. Hai vợ chồng Đậu đang mở to mắt nhìn chung quanh thì bất chợt một chiếc xe bán tải từ xa phía sau lao tới húc ủi thẳng vào đám xe máy đang chờ đèn, một tiếng ầm kinh khủng vang lên, bao nhiêu sắt thép lẫn máu thịt vung vãi khắp mặt đường, hàng chục chiếc xe máy gãy nát. Xe người em họ chở vợ chồng Đậu đậu sát vỉa hè và ở xa phía trước vì thế không bị hề hấn gì, chỉ tội hai vợ chồng Đậu sợ xanh mặt như nhái bén, cắt không còn giọt máu. Vợ Đậu thì thào

– Ghê quá ông ơi, may chứ không thì lần đầu lên thành cũng là lần cuối.

Đậu sợ líu cả lưỡi không trả lời, người em họ trấn an:

– Hổng sao đâu, ở đây chuyện đó rất thường, người ta chờ đèn đỏ bị xe hơi ủi từ phía sau hoài, tuần nào cũng xảy ra. Anh chị lên thành chơi nhớ đi đứng cẩn thận, dè chừng bọn choai choai chạy ẩu.

Buổi chiều hôm đó vợ chồng Đậu đi bộ trên vỉa hè ngắm phố phường cho đã con mắt, cho bõ ước ao bấy lâu. Đậu vừa đi vừa móc điện thoại thông minh của Tàu để gọi về dưới quê khoe với bạn, vừa nói mấy câu chưa đủ đầu đuôi thì bỗng có tiếng xe máy rít sát rạt, một thằng tóc xanh đỏ ngồi sau giựt mất điện thoại cầm tay của Đậu, chỉ trong phút chốc cả người và xe biến mất trong dòng người trên đường phố. Hai vợ chồng Đậu hét khản cổ họng:

– Cướp, cướp, bớ người ta cướp!

Tiếng hét lạc lõng tan biến trong tiếng ồn ào của xe cộ trên đường, chẳng có ai nghe thấy cũng chẳng có ai giúp, những người khách bộ hành đi qua ngoái nhìn lặng lẽ đi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Hai vợ chồng thất thần ngơ ngác, một ông già ngồi gần đó bước đến an ủi:

– Thôi thì của đi thay người, lần sau nhớ cẩn thận hơn, giựt điện thoại, bóp xách, dây chuyền còn hơn cơm bữa, hai người bị cướp giựt mà không bị té hay bị xây xát gì kể cũng còn may lắm đó. Ở thành đô này mọi người phải sống chung với cướp giựt quen rồi, ông bà dưới quê mới lên nên hổng biết đó thôi!

Nghe ông già nói thế thì vợ chồng Đậu cũng thấy được an ủi đôi chút, thì ra mình còn may chưa bị té chấn thương sọ não, nếu không thì có mà bán hết ruộng vườn cũng hổng đủ chữa trị. Riêng Đậu thì ấm ức lắm, tiếc của đau lòng, cái điện thoại thông minh của Tàu mua bằng 2 tấn lúa chứ ít sao, nó rất hiện đại. Chỉ cần quẹt quẹt là xuất hiện bao nhiêu chương trình từ cải lương, tấu hài, cho đến xem mấy em mẫu áo tắm chân dài… Đậu buồn xo, hai vợ chồng lủi thủi đi bộ quay về nhà người em họ, gần đến nhà thì cả hai đạp phải bãi cứt chó, đã thế một con bẹc giê to và dữ như cọp hổng biết từ đâu xồng xộc lao tới, hai vợ chồng hoảng sợ quýnh quáng vừa chạy vừa kêu cứu. Nghe ồn ào, một người đàn ông phốp pháp từ ngôi nhà gần đó bước ra huýt gió kêu con chó quay lại. Ông ta nói:

– Chó tui giống bẹc giê Đức chỉ ăn thịt bò Kobe Nhật, uống sữa cô gái Hà Lan, tắm xà bông Dove của Mỹ… Nó sủa vậy chứ hổng có cắn đâu.

Đậu vừa sợ vừa tức nên lầu bầu chửi:

– Con bà nó, ỷ giàu khoe chó, nói dóc, làm màu!

Ngày đầu lên thành nhiều việc rất bỡ ngỡ, giao tiếp cũng khác dưới quê. Đậu phải ráng bắt chước người ta chứ sợ người ta cười mình hai lúa. Giấc xế trời nắng hừng hực, Đậu không biết làm gì cứ đi ra đi vào chán rồi lại nằm ở sô pha thiêm thiếp ngủ. Ngay lúc ấy tiếng loa kẹo kéo của nhà bên mở hết công suất, thì ra nhà người ta ăn nhậu hát karaoke. Không khí oi bức mà mấy cái giọng nhựa nhựa hơi men cứ nỉ non: “Ngoài kia tuyết rơi đầy, anh không đến bên em chiều nay”. Một giọng the thé tone trees cất lên: “Đêm đông ai lê gót chân phong trần tha hương…”, bài này chưa hết thì một giọng bass tiếp nối: “Hai mươi năm cuộc tình dở dang, lá rơi đắp mộ cuộc tình…” cứ như thế họ ăn nhậu và hát cho đến tận đêm khuya. Đậu thấy đầu óc nhức như tra tấn vì tiếng hát loa kẹo kéo, người em họ đi làm về lấy mấy viên thuốc nhức đầu cho Đậu uống. Người em họ cười méo xẹo:

– Hổng biết bao nhiêu cái mộ mà nó đắp mấy năm nay hổng xong, đắp hoài, ngày nào cũng đắp mộ cuộc tình, rồi còn đêm đông lạnh giá, tàn thu mơ phai … Con bà nó! Karaoke nó như giặc phá xóm làng, hổng cho ai ngủ nghỉ, ông già bà cả, con nít mới sanh, người bệnh liệt giường … cũng phải chịu trận.

– Sao dân ở đây hổng báo cáo lên phường?

– Nhằm nhò gì anh! Mấy ổng cũng hát Karaoke như điên chứ có thua ai.

– Như vậy thì chịu sao thấu?

– Hổng chịu cũng phải chịu chứ giờ biết làm sao được? Mình không nói còn đỡ, mình mà nói nó làm tới còn mệt hơn, Nó thách thức ra mặt nhưng có ai làm gì được đâu, đụng vô mấy thằng say không chừng còn mệt hơn nữa, bởi vậy cả khu phố gồng mình với loa kẹo kéo, sống chung với tiếng ồn.

Những ngày kế ngồi trong nhà hổng có việc gì làm nên tay chân thừa thãi, quanh quẩn trong 4 bức tường nên thấy chán. Người em họ thì đi làm cả ngày. Đậu mở ti vi coi để giết thời gian, chương trình thời sự đang trực tiếp đưa tin ông bí thư đang phát biểu:

– Kiên quyết đẩy mạnh xây dựng thành đô ta xanh và sạch hơn Singapore, lãng mạn trữ tình hơn thành Vienna, hiện đại văn minh hơn Tokyo, giàu sang hào nhoáng hơn Las Vegas, văn hóa nghệ thuật cao hơn Ba Lê … Dưới sự lãnh đạo của đỉnh cao trí tuệ thì thành đô của chúng ta thông minh hiện đại hơn bất cứ thành đô nào trên thế giới này. Chúng ta phải lo cho dân, giáo dục, y tế miễn phí, đời sống tự do, an toàn, phẩm chất nhất thế giới. Tóm lại thành đô của chúng ta là nơi đáng sống nhất quả đất.

Nghe thế Đậu sướng rơn cả người, quên đi những chuyện bực bội mấy ngày qua. Đậu nói với vợ:

– Bà nó có nghe không? Thành đô này là nơi đáng sống nhất quả đất, mấy nay mình gặp chuyện xui cũng nhỏ như con thỏ thôi khắc phục mấy (năm) hồi!

Vợ Đậu ừ hử cho qua chuyện chứ biết nói gì, trong bụng còn tiếc đứt ruột vì cướp giựt mất cái điện thoại rồi, 2 tấn lúa chứ ít sao.

Chiều, người em họ đi làm về sớm đưa cả hai vợ chồng Đậu đi ăn đặc sản. Quán đông nghẹt người, phải chờ cả tiếng đồng hồ mới có bàn, lại ngồi chờ thêm một lát nữa mới có đồ ăn bưng lên. Trong quán  mùi hải sản tanh tanh, mùi nấu nướng chiên xào quyện với mùi bia rượu đặc quánh. Mùi hơi người và mùi nước hoa xen vào… tra tấn lỗ mũi Đậu. Đậu thấy khó thở quá, dưới quê quen mùi cứt bò hăng hăng ngái ngái, mùi bùn thum thủm… vậy mà hít thở sướng hơn. Đậu chưa hết phân tâm vì mùi nhà hàng thì tiếng hò dô dô, tiếng cười nói cãi vã đặc nghẹt tai Đậu. Đậu cứ lơ ngơ như người cung trăng xuống.  Ăn xong người em họ cầm hóa đơn xem, bỗng dưng mặt xanh lét:

– Tại sao mắc vậy? giá trên thực đơn ghi 1 mà sao hóa đơn tính đến gấp 3 lần?

Người phục vụ giải thích do tiền chênh lệch về phẩm chất  của đặc sản, tiền phụ thu ghế và tiền phí khấu hao… Người em họ tuyên bố chỉ trả tiền đúng theo giá trên thực đơn. Hai bên cãi vã lời qua tiếng lại một chặp, bấy giờ tự dưng xuất hiện quanh bàn ăn mấy thanh niên xăm trổ vằn vện, vẻ mặt đằng đằng sát khí đứng khoanh tay. Mặt Đậu đang đỏ vì mấy chai bia ấy mà nhanh chóng chuyển sang xám xịt, vợ Đậu run như cầy sấy, tay bấu chặt đùi Đậu. Người em họ của Đậu cũng chẳng khá gì hơn. Anh ta lặng lẽ móc bóp chồng đủ tiền rồi lặng lẽ kéo Đậu ra về. Trên đường về anh ta tức giận nhưng không làm gì được, cứ lầu bầu:

– Thôi thì cúng cô hồn, tụi nó chặt chém dã man, làm ăn gian dối, thề không bao giờ quay lại quán đó nữa!

Thấy trời chiều còn sáng, cả nhóm ghé vào công viên văn hóa chơi, bên kia đường có tấm bảng ghi: “Khu phố văn hóa” gắn cờ xí đỏ lòm, bên này đường đầy những khẩu hiệu chữ to nhan nhản nào là: “Công viên văn hóa vững mạnh tiến lên”, “Thành đô sạch – xanh- đẹp”, “Ứng xử văn minh nơi công cộng”… Đậu lẩm nhẩm đọc cho kỳ hết mà lòng thơi thới quên ngay chuyện vừa bị chặt chém ở quán ăn đặc sản. Cả mấy anh em đi bộ ngắm cảnh, nhìn ông đi lại bà đi qua. Chợt đằng xa có tiếng la thất thanh, tiếng hét hãi hùng, tiếng khóc inh ỏi rồi thấy người ta chạy thục mạng … Ba người hổng biết chuyện gì nhưng cũng tạm núp vô sau gốc cây dầu cho nó lành. Những người vừa khóc vừa chạy miệng la oai oái:

– Thằng ngáo đá nó chém loạn xạ, chạy mau!

Chừng 10 phút sau lắng bớt cả ba mới dám ló đầu ra, bấy giờ thấy mấy người bị chém máu me tùm lum, kêu khóc inh ỏi còn thằng ngáo đá thì leo lên cột điện cao thế ngồi vắt vẻo tự bao giờ. Đậu tò mò hỏi người em họ:

– Ngáo đá là gì vậy?

– Là mấy thằng hút xì ke, chích ma túy đó, bây giờ nó còn có loại ma túy tổng hợp mạnh kinh khủng, nó như viên thuốc, uống vô khiến người ta không còn biết gì nữa. Người chơi thuốc đó có thể làm bất cứ việc gì mà người bình thường không dám làm. Chơi ma túy đá nó có thể giết cả cha mẹ hay bất cứ người nào … Người chơi thuốc lắc, ma túy tổng hợp gọi là ngáo đá.

Đậu gật gù ra vẻ hiểu rồi ngước nhìn thằng ngáo đá trên cột điện tỏ vẻ thán phục:

– Giỏi ghê vậy ta! sao leo lên được cột điện ngồi mà không bị té hay bị điện giựt?

Người em họ nói:

– Nhằm nhò gì, tụi nó còn đi trên tường, chạy trên nóc nhà, đu dây điện nữa kìa vì tụi nó bị ảo giác! Dân thành đô cũng quen rồi, phải sống chung với ngáo đá!

– Trời! Ghê vậy, có nhiêu vậy mà thành đô hổng giải quyết được sao? dân chịu sao nổi? sao nghe mấy ông lớn nói thành đô là nơi đáng sống nhất quả đất?

Đậu còn nêu lên bao nhiêu câu hỏi tại sao khiến người em họ cười méo xẹo:

– Hơi đâu nghe bọn ngáo đá nổ sảng anh ơi! Bộ anh hổng nghe người ta nói:”Miệng quan trôn trẻ” sao?

– Ủa, mấy ổng cũng ngáo đá hả?

– Trời! Anh đúng là Đậu thiệt tình luôn đó! Mấy ổng nổ sảng quá nên dân thấy giống mấy thằng ngáo đá nên nói vậy thôi!

Sáng Chủ Nhật, cả nhà đi ăn phở, giữa chừng trời mưa xối xả, nước lênh láng khắp mọi ngả đường, nước ngập lên mắt cá, rồi từ từ nước lên ngập cả bánh xe. Xe máy chết máy la liệt khắp nơi, có khúc nước chảy xiết làm cho nhiều người và xe cộ ngã té ì xèo. Vợ chồng Đậu xăn quần bì bõm lội, người em họ dắt xe chết máy mò mẫm đi ngược dòng nước đen ngòm đầy rác rưởi. Quê Đậu vốn sông nước vậy mà Đậu chưa từng thấy nước ở đâu ra mà lênh láng nhiều như thế. Chợt nhiên Đậu nhớ lời ông chủ tịch hay ông bí thơ gì đó nói trên tivi: “Thành đô ta đẹp lãng mạn như thành Vienna bên Ý”. Đậu lội nước bì bõm khoái chí cà rỡn với vợ:

– Phải chi mình đem theo cái vỏ lãi thì giờ lái taxi nước sướng biết mấy!

Ngoái đầu nhìn người em họ, thấy vẻ mặt của nó đầy lo lắng. Đậu hỏi:

– Có chuyện gì mà thấy mặt "căng" quá vậy chú em?

– Ráng đi nhanh hơn chút, về lo tát nước ra!

Đậu hổng hiểu tát nước gì nhưng cũng hổng hỏi nữa, lo cố gắng đi nhanh hơn chút. Đội mưa lội nước về đến nhà Đậu mới té ngửa ra. Nhà thằng em họ như cái hồ cá tra, nước ngập tới gối luôn. Thằng em đã chuẩn bị sẵn bao cát chặn cửa, thế là cả 2 vợ chồng phụ nó tát nước ra ngoài, tát sặc sừ luôn, những tưởng dưới quê mới tát nước lên giồng ai dè trên thành cũng tát nước mà tát hộc xì dầu luôn. Thằng em họ chỉ cho Đậu thấy vết ngấn nước trên tường:

– Anh coi nè! những lần trước nước ngập sâu và ngập lâu hơn nên còn dấu!

– Ngập hoài chịu sao thấu?

– Hổng thấu cũng phải chịu chứ biết chạy đâu giờ? mưa nhỏ ngập cạn, mưa lớn ngập sâu thậm chí không mưa cũng ngập. Nước mưa còn đỡ, nước thủy triều và nước cống tràn lên mới ghê, dơ thấy bà cố, đen ngòm, hôi rình, rác rến tùm lum. Tụi con nít nó đặt đồng dao hát tưng tửng: ‘Còn khá nước ngập mắt cá, la lối nước ngập đầu gối, lu bu nước ngập cu, lông bông nước lên tới hông, lù đù nước đụng vú…’ Người thành đô phải sống chung với ngập, hổng quen rồi cũng phải quen.

Chiều cùng ngày, người em họ chở vợ chồng Đậu ra bến xe để dìa lại quê. Bấy giờ Đậu mới để ý thấy lớp lớp người trên đường mặt mày che kín mít, ai nấy áo xống dài tay, áo khoác lùng bùng dù trời nóng như điên, đàn bà thêm tấm xà rông quấn phần thân dưới, tất vớ kỹ càng, đầu đội nồi cơm điện… cứ như Ninja trong mấy phim chưởng. Dòng người bọc kín người, chen kín đường nhích từng tí. Trời nắng như đổ lửa, khói dầu xe máy và xe hơi tuôn nồng nặc, bụi bay bám trên mọi bề mặt, không khí ngột ngạt kinh khủng, tiếng gầm rú của động cơ xe muốn nổ tung cái đầu, len lách luồn từng tí, có lúc chạy trên vỉa hè nhưng rồi cuối cùng cũng vào được bến xe. Ngồi trên xe đò hạng sang mà người em họ đã mua vé trước giúp cho. Đậu dán mặt vào kiếng xe nhìn người ta tất tả tán loạn bên ngoài. Đậu thì thầm:

– Thôi hén, chào tạm biệt thành đô nơi đáng sống nhất quả đất! Tui dìa với quê của tui sướng hơn.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 1223)

Máy Bay Đầu Tiên Do Viện Hàn Lâm Khoa Học & Công Nghệ VN Sáng Chế

 

Sau cuộc họp thành công tốt đẹp, cả hội nghị T/Ư được mời đi thăm Phân viện phía Nam của Viện hàn lâm Khoa học & Công nghệ.

BCT được ngồi khoang VIP, còn các UV/TƯ ngồi khoang thường. Trước khi máy bay cất cánh, phi công trưởng lễ phép thông báo:

“Chúng tôi rất vinh hạnh được chào đón các đ/c lãnh đạo cao cấp của đảng trên chiếc máy bay đầu tiên do Viện hàn lâm Khoa học & Công nghệ VN sáng chế.”

Phi công trưởng vừa dứt lời, các UV/TƯ từ khoang thường chen nhau đổ xô ra cửa máy bay thoát thân. Trong khi trên khoang VIP, các UV/BCT vẫn ngồi trò chuyện.

Một UV/TƯ thấy thế thưa:
– Sao các anh không chạy, nó mà rơi thì ai lãnh đạo đảng và đất nước?

Trưởng ban tuyên giáo cũng thấy hơi lo, quay sang hỏi TBT:

– Thưa anh, hay là chúng ta cũng chờ đi chuyến sau vậy?

TBT giọng điềm đạm, giải thích,

– Phải hết sức bình tĩnh. Chúng ta phải nắm vững lý luận và hiểu thực tế…[Đúng là người bắc và có lý luận]

– Dạ, nhưng đây là máy bay do Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ của VN ta thiết kế chế tạo. Em thấy cũng lo lắm ạ.

TBT có vẻ hơi bực mình nói,

– Các cậu chẳng hiểu gì cả. Ta cứ ngồi im để làm gương “người VN dùng hàng VN” chứ.

Trưởng ban Tuyên giáo cầu xin,

– Hay là anh cho phép em xuống ạ.

Không nhịn được nữa, TBT quát,

– Sao ngu thế, có bay được đâu mà rơi.


Kim Duncan 

Hồ Sơ JFK: Lật Mặt Nhà Nước Ngầm

 

Ngày 22 tháng 11 năm 1963, Dallas, Texas – khoảnh khắc nước Mỹ hóa đá. John F. Kennedy, vị tổng thống với mái tóc bồng bềnh, nụ cười làm tan chảy cả trái tim băng giá, và bộ óc dám thách thức cả thế giới, đã bị bắn gục giữa phố phường, ngay trước mắt hàng triệu người. Một phát đạn. Hai phát. Ba phát. Và rồi, giấc mơ Mỹ đẹp đẽ tan thành mây khói. Từ đó, "hồ sơ JFK" ra đời cuốn sách bí ẩn bị khóa chặt trong két sắt quốc gia, phủ bụi thời gian như lời nguyền không ai dám động vào. 

Nhưng bạn có biết? Bí mật trong đó không chỉ là cái chết của một người, mà là chìa khóa để lật mặt cả một đế chế quyền lực đen tối! Bạn tưởng trong hồ sơ là gì? Một dòng chữ nguệch ngoạc kiểu: "Thứ Ba, trời đẹp, CIA xử JFK cho vui"? Đừng mơ! Thay vào đó là một đống bằng chứng rối tung, chỉ thẳng vào bàn tay nhơ bẩn của CIA và cái gọi là "Nhà nước ngầm hay Deep State". Từ lật đổ chính phủ, chiến tranh vi khuẩn, thao túng tâm lý, đến buôn súng, buôn ma túy – tất cả đều là đặc sản của họ. Nghe cứ như phim hành động Hollywood, nhưng tiếc thay, cái kết lại chẳng bao giờ có hậu!

Nhà nước ngầm: Những bóng ma quyền lực giật dây cả thế giới

Nhà nước ngầm hay Deep State không phải đám người ngồi hút xì gà trong căn phòng tối như phim gangster đâu. Không, họ là những kẻ tinh vi hơn cả tiểu thuyết trinh thám! Đây là mạng lưới của các "ông trùm" quyền lực: từ sếp lớn CIA như Allen Dulles kẻ bị JFK sa thải nhưng vẫn âm thầm giật dây, đến các tướng quân đội như Curtis LeMay gã mê chiến tranh hơn cơm bữa, rồi những tỷ phú giấu mặt như David Rockefeller – ông hoàng ngân hàng với bàn tay nhúng vào mọi thứ từ dầu mỏ đến truyền thông.

Họ không cần danh thiếp hay logo, nhưng họ là "bộ não" đằng sau mọi biến động lớn. Muốn lật chính phủ? Họ bơm tiền cho đảo chính. Muốn giàu từ chiến tranh? Họ xúi hai nước đánh nhau rồi bán súng cho cả đôi bên. Muốn bịt miệng ai? Một viên đạn hay tai nạn "tình cờ" là xong. Tài nhất là gì? Họ khiến bạn tin chẳng có gì xảy ra như kiểu mất ví mà cứ nghĩ mình quên ở nhà! Những cái tên như George H.W. Bush sau này làm tổng thống nhưng thời đó đã lảng vảng trong CIA  cũng được cho là "người trong cuộc". Đây chính là đám "bà ngoại bí ẩn" của thế giới ngầm này, không ai thấy mặt nhưng mọi thứ đều qua tay họ!

JFK: Khi "anh trai đẹp" thách thức cả hệ thống

Vậy Nhà nước ngầm liên quan gì đến JFK? Đơn giản thôi: Kennedy là "cơn ác mộng" của họ! Ông không chỉ đẹp trai chết người, mà còn dám chơi lớn: chấm dứt Chiến tranh Lạnh, rút quân khỏi Việt Nam nơi đám trùm vũ khí như LeMay đang hốt bạc, và kiểm soát CIA – sân chơi riêng của Allen Dulles. Ông mơ về một nước Mỹ minh bạch, nơi dân chúng làm chủ, chứ không phải bù nhìn cho mấy lão già quyền lực. Với họ, JFK không phải tổng thống, mà là "kẻ phá bĩnh" đáng chết! (Kiểu giống Trump bây giờ vậy đó).

Thế là họ ra tay. Lee Harvey Oswald? Chỉ là con rối ngơ ngác, bị đẩy ra làm bia đỡ đạn – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đằng sau là kế hoạch hoàn hảo: Dulles chỉ đạo CIA, LeMay bật đèn xanh từ quân đội, và đám chính trị gia như Lyndon Johnson – người lên thay JFK  giả vờ ngây thơ. Bằng chứng? Viên đạn "ma thuật" bay kiểu khoa học viễn tưởng, hàng chục nhân chứng "bốc hơi" bí ẩn, và hồ sơ bị khóa chặt 60 năm. Nhà nước ngầm không chỉ giết Kennedy, họ giết cả hy vọng của một thế hệ, rồi cười khẩy: "Ai dám đụng đến tao?"

Covid: "Trò chơi vi khuẩn" của Deep State

Chuyển cảnh sang 2020: cả thế giới đeo khẩu trang, nhốt mình trong nhà, bác sĩ chạy đua cứu người. Covid-19 ập đến như cú đấm trời giáng, nhưng đừng tin nó tự nhiên "mọc" từ chợ cá Vũ Hán! Hồ sơ JFK, nếu bung ra, sẽ phơi bày rằng chiến tranh sinh học là "món ruột" của Nhà nước ngầm. Virus này, nhiều người tin, được "nuôi" trong phòng thí nghiệm từ Vũ Hán đến Mỹ – với bàn tay của những kẻ như Anthony Fauci, người đứng đầu nghiên cứu y tế nhưng bị nghi ém thông tin, và các tỷ phú như Bill Gates, ông trùm dược phẩm luôn mồm nói về "giảm dân số".

Ai đứng sau? Nhà nước ngầm, còn ai nữa! Họ hợp tác với tập đoàn dược khổng lồ như Pfizer, tung virus để gieo rắc nỗi sợ, rồi bán vắc-xin nhanh như siêu anh hùng cứu thế giới. Mục tiêu? Kiểm soát dân số, kiếm tiền tỷ, và thử xem nhân loại chịu đựng được bao lâu trước khi phát điên. Bằng chứng? Thông tin từ Vũ Hán bị bưng bít, vắc-xin ra đời thần tốc như có phép màu, và cả thế giới bị dắt mũi mà chẳng ai dám hỏi: "Cái này tự nhiên thật không?" Họ không chỉ giết bằng súng, họ giết bằng vi khuẩn chậm mà chắc, âm thầm mà kinh hoàng!

Trump và Elon: Hai "người hùng" đối đầu Deep State

Rồi đến Donald Trump gã đàn ông tóc vàng, tính bốc đồng như ngôi sao sân khấu. Ông hét lên: "Bạch hóa hồ sơ JFK đi! Dân chúng cần phải biết!" Không phải ông rảnh rỗi, mà vì ông thấy kịch bản 1963 lặp lại: ám sát ông hụt, truyền thông bị bóp méo, và Nhà nước ngầm nhắm đến ông. Hồ sơ JFK là "sổ tay bí mật" của họ, từ giết Kennedy đến tung Covid, mở biên giới, lật đổ Ukraine (thấy giống chiến tranh VN mình không?). Nếu nó bung ra, bạn sẽ thấy: ai suýt "xử" Trump? Ai biến báo chí thành loa phát thanh? Ai đang chơi cờ trên lưng nhân loại?

Và không chỉ Trump, Elon Musk thiên tài lập dị với giấc mơ thay đổi thế giới cũng là cái gai mới của Deep State. Họ muốn "xử" cả hai, vì Trump và Elon dám thách thức hệ thống, dám phá vỡ vòng luẩn quẩn của lịch sử. Nếu Kennedy là quá khứ, thì Trump và Elon là tương lai hai người hùng có thể mang hòa bình thực sự, nhưng chỉ khi chúng ta bảo vệ họ khỏi bàn tay nhơ bẩn của Dulles, Fauci, Gates, Bill, George, Rockerfeller và đám quyền lực kia!

Đứng lên hay mãi cúi đầu?

Cười thì có đấy cười ra nước mắt vì cả thế giới bị dắt mũi mà cứ tưởng mình thông minh. Nhưng sợ thì nhiều hơn sợ vì Kennedy ngã xuống, sợ vì Covid cướp đi hàng triệu sinh mạng, chỉ để lộ ra sự thật ai cũng biết mà không dám nói. Vậy bạn chọn gì? Ngồi khóc hay đứng lên? Hồ sơ JFK không chỉ là quá khứ, nó là ngọn lửa để bạn thắp sáng ngày mai. Nhà nước ngầm mạnh, nhưng không bất bại. Bạn – người dân thường, kẻ yêu sự thật chính là vũ khí họ sợ nhất. Đừng để họ chơi ván cờ định mệnh trên lưng bạn mãi, đừng để nụ cười của Kennedy, tiếng khóc của nhân loại, hay giấc mơ của gia đình con em bạn. Giấc mơ Trump và Elon trở thành vô nghĩa. Hãy bảo vệ họ, vì chỉ Trump và Elon mới có thể đập tan Deep State, mở ra triều đại mới cho thế giới!

"TẠI SAO HỒ SƠ JFK ĐƯỢC BẠCH HÓA?

Để bạn không chỉ cười cho vui, khóc cho xong, mà để cầm ngọn lửa sự thật, đốt cháy màn đêm quyền lực! Chúc các bạn tỉnh táo như cà phê sáng, gan dạ như chiến binh, và vững tâm bền bỉ. Nhà nước ngầm giật dây, nhưng bạn có kéo cắt phăng đi, vì bạn xứng đáng sống trong ánh sáng! Hãy cùng Trump và Elon thay đổi lịch sử!"


 (1) Nhất Nguyên - HỒ SƠ JFK: LẬT MẶT NHÀ NƯỚC NGẦM - CƯỜI RA NƯỚC MẮT,... | Facebook

Robots Helping In Household Work

Friday, March 28, 2025

Ánh Mắt Của Cha -Tâm Chánh

BBT: Tác giả Tâm Chánh là người con gái của Trung Tá Từ Tôn Khán, Khoá 10 Võ Bị, Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Huế. Ông bị Việt Cộng bắt và sát hại trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế


Nếu bây giờ ông Trời ban cho tôi một ước nguyện thì điều tôi sẽ cầu xin không một giây ngần ngại: xin cho Cha của tôi được sống lại dù chỉ là một ngày để Mẹ tôi có được niềm vui trước khi bà từ giã cõi đời, để cho các con tôi được gặp Ông Ngoại. Một mơ ước thật hão huyền và sẽ không bao giờ đạt được nhưng tôi vẫn khấn nguyện, vẫn ước mơ…

Người Cha thân yêu của tôi bị bọn Việt Cộng khát máu đoạt mệnh trong biến cố tết Mậu Thân năm 1968 khi tuổi đời của Ông chưa đến ba mươi bảy. Mẹ tôi trở thành góa bụa ở tuổi ba mươi hai, cái tuổi thanh xuân đẹp nhất của một người phụ nữ, bơ vơ với sáu đứa con thơ dại và đứa con út mới tượng hình ở trong long. Nửa thế kỷ qua, lòng tôi chưa bao giờ ngưng tiếc nhớ, ray rứt, và đau khổ.


Thuở đó, gia đình của tôi cư ngụ tại đường Bạch Đằng, một con đường nằm ngay tại trung tâm của tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Con đường này song song với đường Huỳnh Thúc Kháng nổi tiếng với những tiệm bánh mứt, kẹo mè xửng giòn, dẻo đủ loại. Hai con đường cách nhau bởi giòng sông Gia Hội, nơi có những chiếc đò đưa khách sang sông trong suốt bốn mùa.

Trong khu đất rộng của Ông Bà Cố tôi để lại gồm có ba căn nhà: căn Nhà Cẩn có lối kiến trúc xưa tọa lạc ngay chính giữa của khu vườn, là nơi thờ phụng tổ tiên với các điện thờ và các cột trụ thiếp vàng chạm trổ rẩt tinh vi, với bàn ghế giường tủ và các tấm mành đều được cẩn xà cừ. Nhà Tây được xây cất theo lối kiến trúc của Pháp, nằm về phía tay trái của Nhà Cẩn. Ở giữa hai căn nhà có bụi chè tàu rất lớn được trồng từ mấy đời trước, cành lá xum xuê cao quá đầu người. Đằng sau Nhà Cẩn, qua một khu vườn đầy hoa Tường Vi là căn Nhà Mới được kiến trúc theo lối tân thời.

Chúng tôi đã sống thời thơ ấu hết sức êm đềm trong căn nhà của Tổ Tiên. Ông Bà Nội của chúng tôi lúc đó đã không còn ở Huế, nhưng chúng tôi được sự thương yêu đùm bọc của Ông Bà Ngoại. Cha tôi đi hành quân thường xuyên, mỗi lần về ông đều đàn hát cho Mẹ tôi nghe và chở chúng tôi lên thăm Ông Bà Ngoại. Mấy Mẹ con quấn quýt bên Cha trong hạnh phúc ngập tràn.


Một lần về sau chuyến hành quân, Cha đem về một con chó. Ông gặp nó bị thương, nằm bên vệ đường. Ông đã tự tay săn sóc vết thương cho đến khi con chó bình phục. Kể từ đó gia đình chúng tôi có thêm một thành viên mới, chú chó Berger cao lớn. Con chó hết sức quyến luyến Cha tôi. Nó vô cùng mừng rỡ bất cứ khi nào ông về đến nhà, nó luôn luôn quanh quẩn ở bên ông khiến Mẹ tôi đôi lúc cũng bực mình khi bị nó làm chộn rộn.

Những tưởng cuộc sống sẽ được mãi ấm yên như thế… Nhưng tất cả đã thay đổi vào đầu năm 1968.

Đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, chúng tôi tụ họp ở nhà Ông Bà Ngoại để cúng tết và dùng bữa với gia đình của các Cậu Dì đến từ các thành phố khác. Khoảng gần mười giờ đêm bỗng có những tiếng nổ. Ban đầu mọi người đều ngỡ là ai đó đốt pháo Tết sớm, nhưng chỉ sau vài phút, Cha tôi biết ngay là tiếng nổ của súng. Gương mặt và đôi mắt Ông đầy lo âu. Chỉ trong khoảnh khắc, Ông nhận được điện tín về lệnh chuẩn bị cấm trại và tuyệt đối đề phòng cảnh giác. Cha tôi xin phép Ông Bà Ngoại để đưa Mẹ con chúng tôi về vì phải đi trực.  Mọi người đều năn nỉ Cha tôi ở lại vì có lẽ họ đã linh cảm được điều không hay nhưng Cha tôi cương quyết từ chối. Ông nói là cấp chỉ huy thì không thể vi phạm kỷ luật quân đội.

Khi gia đình tôi vừa về đến nhà thì con chó sủa vang và cứ cắn ống quần của Cha tôi. Tuy vậy, Cha vẫn không chú ý đến những cử chỉ khác thường của nó vì ông đang tìm cách liên lạc với cấp trên để nói chuyện. Con chó vẫn sủa ăng ẳng và kéo ống quần của Cha. Đang ở trong tình huống căng thẳng, lo âu, Cha đã nạt lớn và hất mạnh con chó sang một bên. Nó sợ hãi bỏ chạy ra ngoài sân, và hôm sau những người giúp việc đã cố công tìm kiếm con chó nhưng không ai thấy nó.

Đêm Mồng Một Tết, Việt Cộng (VC) tấn công. Vài ngày sau, chúng chiếm thành phố Huế.

Cha bảo Mẹ và tất cả chị em chúng tôi chạy qua trú dưới căn hầm của một gia đình láng giềng cách nhà của chúng tôi năm căn. Cha ở lại nhà tiếp tục liên lạc điện thoại, làm việc với cấp trên.

Sau nhiều ngày chui rúc trong căn hầm, chúng tôi không nghe tin tức gì của Cha nên Mẹ rất lo lắng. Rạng sáng ngày 10 tháng 2 năm 1968, Mẹ tôi đã nhờ O Lan, cô giúp việc trong gia đình, bò về nhà để thăm dò tin tức. Nhân lúc Mẹ đang cho em bé út chưa được một tuổi bú sữa, tôi lén đi theo O Lan.

Khi O bò ra khỏi miệng hầm được một quãng ngắn thì O mới biết là có tôi đi theo. Dù lo lắng Mẹ tôi sẽ rầy la, nhưng O cũng mừng vì có tôi bên cạnh cho đỡ sợ.

Lúc đó khoảng gần 5 giờ sáng, trời mùa đông xứ Huế vẫn còn tối đen và lạnh căm căm. Vất vả lắm chúng tôi mới len qua được những hàng rào ở phía sau các khu vườn và lẻn về đến nhà.

Chúng tôi giật mình vì thấy người lạ đứng đầy sân. O Lan vội kéo tôi nằm sát xuống đất sau bụi chè tàu ở giữa Nhà Cẩn và Nhà Tây.

Từ đó, tôi trợn mắt cố nhìn xuyên qua bóng tối. Tôi rụng rời khi thấy Cha tôi và các chú cận vệ đang bị trói ké tay trước hàng hiên của căn nhà Tây. Chúng đang tra hỏi các chú Mãng, Chú Phấn, và chú Truật với những câu được lập đi lập lại “Các anh muốn chúng tôi khoan hồng thì hãy khai ra những gì mà Thiếu Tá Khán giấu diếm, bằng không đừng trách chúng tôi”.

Khi nghe vậy tôi và O Lan lâm râm cầu nguyện để các chú đừng khai mặc dù tôi không thật sự hiểu bọn VC muốn các chú khai những gì…

Họ bắt đầu đánh các chú. Tiếng đấm, đá bình bịch như xoáy vào đầu tôi. Rồi tôi nghe giọng Cha tôi “Các anh muốn gì thì cứ hỏi tôi, binh lính của tôi không có tội tình chi mà các anh hành hạ họ.”  Tôi nghe chúng cười gằn rồi nói: “Thiếu Tá đừng lo, sẽ tới lượt chúng tôi hỏi thăm sức khỏe Thiếu Tá”

Mấy phút im lặng trôi qua, tôi không nghe được khi bọn chúng nói nhỏ những gì với nhau. Lúc ấy, O Lan và tôi vừa lạnh vừa sợ, hai hàm răng của chúng tôi đánh lập cập vào nhau. Chúng tôi càng co rúm người lại, tưởng như chúng sắp phát giác ra sự hiện diện của chúng tôi.


Khi trời mờ sáng thì tôi và O Lan phải đổi tư thế để ngồi xổm lên để lá chè che khuất. Từ chỗ núp, tôi đã thấy được rõ ràng cảnh tượng trước hiên nhà. Bọn VC mặc đủ sắc phục, đứa thì mặc nguyên bộ đồ nhà binh, đứa thì mặc quần tây, áo sơ mi, nhưng trên cánh tay áo của chúng đều có đeo băng đỏ. Tên nào cũng cầm một cây súng có họng dài và quanh lưng đeo băng đạn, có tên còn cầm lựu đạn trên tay. Trong đám người mặt đầy sát khí này có một người đàn bà mặc bồ đồ đen, tay cầm súng lục. Chúng vây lại quanh Cha, la hét tra khảo về những việc làm của Cha. Cha trả lời:

– “Tôi có lý tưởng của tôi, các anh có lý tưởng của các anh, tôi không khai báo, không chỉ điểm đồng đội của tôi.”

Chúng gầm gừ, chửi rủa rồi quay báng súng đánh túi bụi vào đầu, vào mặt Cha. Một tên thét lớn:

-“Vận mạng của cả gia đình mày đang nằm trong tay của chúng tao. Nếu mày chịu khai báo thì chúng tao sẽ tha và không sai người đi lùng bắt vợ con mày”.

Cha thở hổn hển vì đau nhưng chỉ nói:

– “Các anh cứ làm nếu thấy cần, tôi thà hy sinh vợ con chứ không thể hèn mà đầu hàng các anh”.

Mụ đàn bà la the thé:

-“Đánh nữa! Đánh nữa đi”!

Chúng vừa đánh vừa kéo một sợi xích sắt lớn khóa chân Cha tôi và các chú cận vệ lại với nhau. Rồi những báng súng, những cái đá, cái đạp lại liên tiếp giáng xuống đầu, xuống ngực, xuống lưng Cha. Nước mắt tôi rơi ràn rụa, ngực tôi nhói lên với từng tiếng hừ hự vang lên từ phía Cha tôi…

**

Cha! Đã năm mươi năm qua, con vẫn nhớ như in những giây phút ấy. Những giây phút khủng khiếp mà lời lẽ không bao giờ đủ để diễn tả. Những cây súng giơ lên, quật xuống. Chúng vây quanh Cha, liên tiếp đánh.

Từ sau bụi chè tàu, con đã đứng lên. Con gạt phăng tay O Lan đang hết sức níu lấy con. Con nhào tới, sụp xuống lạy xin bọn chúng tha cho Cha và các chú. Cha đã cố ngẩng lên và nhìn thấy con. Cha sững sờ trong khoảnh khắc. Rồi Cha trầm giọng bảo con phải can đảm, đừng van xin vô ích.

Con bỗng nghe đau nhói trên đầu. Một bàn tay thô bạo đã xoắn tóc con, dúi đầu con xuống đất, trước mặt Cha. Chúng gào lên rằng sẽ bắn con nát óc để xem Cha có còn cương quyết từ chối khai báo nữa hay không. Con sợ hãi đến tột cùng, toàn thân con run bần bật. Con tưởng Cha sẽ đầu hàng nhưng con đã nghe tiếng Cha bảo chúng rằng:

– “Các anh cứ bắn con tôi đi, nếu các anh muốn, nhưng tôi vẫn không thể làm theo lời yêu cầu của các anh”.

Con khóc nghẹn từng cơn như sắp tắt thở, vừa van xin chúng, vừa năn nỉ Cha. Và, lúc đó, con đã bắt gặp ánh mắt Cha nhìn con. Ánh mắt đầy cương nghị, nhưng cũng chan chứa thương xót, khổ tâm. Ánh mắt của Cha đã cho con thêm can đảm, thêm nghị lực để chịu đựng. Con đã bớt hoảng loạn, đã có thể lắng nghe lời Cha trăn trối. Cha dặn con phải thay Cha để lo cho Mẹ, cho em. Khoảnh khắc đó chỉ dài vài phút, nhưng mãnh lực của ánh mắt, lời nói trước khi Cha con mình vĩnh viễn xa nhau đã theo con cho đến hôm nay.

Bỗng nhiên có một tên VC khác chạy vào, bọn chúng tụ lại bàn nhau điều gì đó với vẻ lo lắng. Cha nhìn thẳng vào mắt con lần nữa, mấp máy môi nói thật nhỏ “Con chạy đi!” Rồi bất ngờ Cha la to “Anh em tấn công!” Bọn VC vội dàn hàng, quay mặt về phía cổng chính. Ngay giây phút đó, con đã phóng qua bụi chè tàu, chạy thục mạng ra khỏi vườn sau.

**

Sau 26 ngày, quân đội Quốc Gia đã tái chiếm thành phố Huế. Con đã được cho theo cùng với Ông Ngoại, Mẹ, và chú Bốn tài xế để đi tìm Cha ngay lập tức. Mọi người khởi hành từ 4 giờ sáng ngày 27 tháng Giêng năm Mậu Thân. Trời còn tối đen mà tiếng khóc đã rền rĩ khắp các nẻo đường. Từ cầu Đông Ba đi về phía cầu Gia Hội, nhìn đâu cũng thấy xác người nằm la liệt.

Khi con đến trường Gia Hội, thì những toán đi tìm đang đào những hầm chôn tập thể lên. Có những nạn nhân chưa chết hẳn nhưng khi thân thể của họ được vực lên thì đa số họ hộc máu và tắt thở trong vòng vài phút.

Mùi tử khí đã khiến Ông Ngoại, Mẹ, và con bị xây xẩm mặt mày nhiều lần. Đến khoảng 2 giờ chiều, sau khi đã tìm kiếm ở tất cả các mồ chôn tập thể ở sân trường Gia Hội, Mẹ đã đuối sức vì lúc đó Mẹ đang mang thai mà không biết. Ông Ngoại đề nghị trở về nhà và sẽ tiếp tục chuyện tìm kiếm vào ngày hôm sau. Ông cũng an ủi Mẹ con là biết đâu Cha đang bị chúng bắt làm tù binh. Chú Bốn cũng đồng ý, thế là mọi người thất thểu quay về.

Mọi người vừa qua khỏi cầu Gia Hội chưa đầy một thước bỗng nhiên con chó của Cha bất thần xuất hiện. Mọi người chưa hết kinh ngạc thì con chó tru lên đầy ai oán. Nó cắn lấy ống quần của Mẹ, kéo bà đi theo nó. Ông Ngoại tái mặt, biết ngay là điềm chẳng lành. Ông vội kéo con đi theo con chó.

Đến cửa Thành Nội, ngay dưới chân bức tường đầy rêu phong là một nấm đất cao được đắp sơ sài. Con chó dừng lại, ngửa cổ sủa liên tục. Dân ở những nhà gần đó kéo ra, họ nói với Ông Ngoại là chính họ đã chôn cất Cha. Họ nói là thấy đám VC dẫn đầu bởi Nguyễn Thị Đoan Trinh, và Hoàng Phủ Ngọc Phan, đã áp giải Cha tới đó. Họ đã chứng kiến cảnh Cha bị đánh đập vô cùng dã man nhưng Cha vẫn nhất định không hé một lời. Rạng sáng ngày 11 tháng 2, 1968, họ nghe tiếng súng nổ, sau đó họ tìm thấy Cha nằm gục ở chân tường. Tuy biết Cha, nhưng họ sợ bị trả thù nên đã phải đợi đến đêm hôm đó mới vội vã chôn Cha.

Khi Chú Bốn đào huyệt lên, Mẹ té xỉu khi vừa nhìn thấy Cha. Cha nằm đó trong cái huyệt nông chưa đầy một thước. Sóng mũi Cha vẫn cao, đôi mắt Cha khép kín nhưng khuôn mặt với nét cương nghị vẫn còn nguyên vẹn. Con đã run rẩy cúi xuống thật gần để rờ mặt Cha. Con đã thấy những dòng máu khô đen từ những vết đánh ở hai bên má và màng tang của Cha.

Cha ơi! Con đã đứng nhìn Cậu dùng khăn tẩm rượu trắng để lau máu trên thân thể cha. Chiếc áo len đen do chính tay Mẹ đan bị lủng nhiều chỗ ở ngực nên con biết là cha đã bị bắn nhiều phát vào tim. Qua chỗ rách Con còn thấy thẻ căn cước của Cha lòi ra khỏi túi áo sơ mi trắng. Qua làn nước mắt ràn rụa, con thấy các binh lính của Cha đóng áo quan cho Cha từ những tấm ván bởi vì cả thành phố Huế chỉ còn một chiếc hòm nhỏ, không vừa với Cha. Sau đó, những chú lính đã cùng chú Bốn đưa Cha về lại nhà của mình.

Cha nằm giữa phòng khách của Nhà Tây. Ở ngay nơi đó, chỉ một tháng trước chúng con và Mẹ còn quây quần cười nói bên Cha, nay chỉ có chúng con đội tang trắng xóa, ngơ ngác khóc than trước di ảnh Cha. Con nức nở gọi Cha ơi nói chuyện với con đi, đừng im lặng nhìn con như vậy nữa. Trong ánh nến lung linh, con đã thấy như Cha đang đưa mắt nhìn nhìn theo từng đứa chúng con. Ông Ngoại bảo không nên di chuyển xa trong lúc tranh tối tranh sáng, VC nằm vùng đang còn trà trộn khắp nơi. Các chú đã đào huyệt cho Cha ngay trong vườn, phía bên trái của căn nhà Tây. Các vị sư chỉ dám đến để tụng kinh một tiếng đồng hồ rồi hạ huyệt.

Giờ phút cuối, chúng con đi vòng quanh áo quan trước khi các chú di chuyển Cha ra huyệt, con thấy như ai đâm vào người con hằng trăm mũi dao nhọn. Con tự trách mình đã bỏ chạy để Cha ở lại với bầy quỷ dữ, con tự giận mình không nghĩ ra kế để cứu Cha cùng các chú cận vệ.

Rồi chúng con lại phải ném những miếng đất xuống huyệt. Từng mảnh đất đen rơi lộp bộp lên cỗ quan tài mà Cha nằm trong đó. Nỗi đớn đau trong lòng con không thể có ngôn ngữ nào diễn đạt được, Cha ơi.

**

Cha yêu thương, chuyện xảy ra đã năm mươi năm về trước nhưng hình ảnh của Cha cùng ánh mắt Cha nhìn con trong những giây phút cuối cùng vẫn mãi mãi trong tâm trí con.

Định mệnh đã khiến con trốn Mẹ đi về nhà để được gặp Cha, để được nghe Cha dặn dò lần cuối. Định mệnh đã cho con thấy được ánh mắt cương nghị, đầy dũng khí của Cha, dù Cha đã bị bọn người khát máu hành hạ. Ánh mắt chan chứa xót thương của Cha đã nâng con dậy trong thời gian con bị khủng hoảng sau khi Cha ra đi, và không biết bao nhiêu lần sau đó khi con ngã quỵ trong những tháng năm dài côi cút.

Định mệnh đã cho con cơ hội nhìn tận mặt để nhận diện những người đã giết Cha, mặc dù mấy chục năm qua con chưa có can đảm tìm hiểu về những cái tên mà người mà dân trong Thành Nội đã kể cho Mẹ và con. Mãi đến đầu năm nay, 2018, Cô C. đã gửi cho con xem cuộc phỏng vấn tên Hoàng Phủ Ngọc Phan về Tết Mậu Thân. Con đã run rẩy suýt đánh rơi cái Ipad khi thấy mặt hắn. Năm mươi năm trước, vào ngày 10 tháng 2 năm 1968, chính tên này đã dọa giết cả gia đình mình, chính hắn và đồng bọn đã vung báng súng đập lên Cha và các chú.

Cha yêu thương, đến giờ phút này con vẫn khâm phục tài trí của Cha. Cha biết chúng không bao giờ tha cho Cha, dù Cha có khai báo. Vì thế, Cha thà chịu cho cha con mình cùng chết, nhưng Cha đã quyết bảo vệ cho gia đình những đồng đội.

Từ đó đến nay, con luôn nuối tiếc vì không còn nghe được tiếng Cha răn dạy. Đó là nỗi mất mát to lớn của tụi con. Em út không hề nghe được giọng nói và không hề thấy được gương mặt của Cha.  Con cứ tưởng tượng đến nỗi khổ đau của Mẹ, và con đã khóc trong suốt mấy chục năm qua, nhất là mỗi khi chồng con vô tình choàng vai ôm con để an ủi đã khiến hình ảnh Cha ôm Mẹ ngày nào trở về rõ rệt trong trí con. Con lại bật khóc như đứa trẻ lên năm.

Cha ơi! Bây giờ con đã nên người, đã thành công, đã giữ trọn lời con hứa với Cha năm nào, con đã làm tròn trọng trách Cha đã giao phó cho con. Tất cả các con, các cháu của Cha đã thành nhân. Cha không có con trai nhưng đứa con gái mít ướt này đã cho Cha một thằng cháu ngoại và đứa cháu ngoại này cũng cho Cha một đứa cháu cố trai. Vì ai mà Cha không được một lần thăm chúng! Vì ai mà Cha lỗi hẹn với Mẹ của con!

Viết cho Cha mà nước mắt con vẫn trào và sẽ không bao giờ ngưng khi con nhớ đến người Cha vắn số của con. Con hãnh diện được làm con của Cha, một người Cha đầy lòng nhân hậu, đầy trí dũng cảm đã giữ đúng cương vị, tư cách, và uy tín của một sinh viên sĩ quan của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Nhớ Cha hoài.

Con gái mít ướt của Cha.

Tâm Chánh

*Ánh Măt Của Cha: Tác giả Tâm Chánh nhận giải thưởng Outstangding Award của Việt Báo VVNM

Nắng Mưa Cuộc Đời - Đỗ Công Luận

Một Y Sĩ Hải Quân Đi Tù Cải Tạo Tại Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa - Nguyễn Vĩnh Bình


Tôi thật rất có phước được là một y sĩ Hải Quân, và tôi là y sĩ Hải Quân duy nhứt “được” đi tù cải tạo tại miền Bắc. Nhiều người thương hại cho số phận hẩm hiu của tôi, nhưng tôi coi đó là một hân hạnh. Hân hạnh vì đất nước tôi trong cuộc tranh đấu cho Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ đã trải qua một cuộc chiến anh dũng. Nay vì vận nước nghiêng ngả, đồng bào lâm cảnh lầm than đau khổ, chúng tôi bị đi đày tận miền bắc thì kể như chúng tôi tiếp tục tham dự cuộc chiến trong phần đen tối nhất và đóng góp phần đời và xương máu để cùng chia xẻ với cái nhục mất nước chung của toàn dân.
Sau đây tôi xin ghi lại khoảng đời đó của chúng tôi:

1- Y Bạ trích ngang:
Tôi tốt nghiệp Y Khoa Đại Học năm 1965, và được trưng tập về phục vụ Quân Chủng Hải Quân năm 1966. Được bổ nhậm làm việc tại Vùng 2 Duyên Hải, ở Cát Lở, Vũng Tàu và Bệnh viện Hải Quân ở Saigon và Khối Quân Y thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Năm 1972, nhà tôi được Bộ Y Tế bổ nhậm làm việc tại Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Long Xuyên. Tôi xin thuyên chuyển về làm tại Bịnh Xá Căn cứ Hải Quân Long Xuyên. Năm 1973, tôi được biệt phái về làm việc ở Long Xuyên.

2- Cuộc đổi đời:
Thế rồi ngày 30/4/1975 đến. Một tiểu đội Việt Cộng từ bắc Vàm Cống rụt rè tiến về thành phố. Không 1 tiếng súng. Không có cảnh đau lòng của bọn cách mạng 30 nhiễu nhương đường phố. Nhưng bỗng nhiên mọi việc đều thay đổi. Một bầu không khí ngột ngạt bổ xuống. Phố xá vắng người. Tiếng ra rả tối ngày của các loa tuyên truyền la vang động duy nhất của một thành phố đang hấp hối trở thành thị xã của tỉnh Long Châu Hà của Việt Cộng, gồm Long Xuyên-Châu Đốc-Hà Tiên cũ.

Công an xử bắn một hai người:
Bịnh nhơn Quân Y Viện Long Xuyên bị đuổi ra đường. Các bạn ở Quân Y Viện bị đưa về đâu không biết. Anh em chúng tôi ở Bệnh Viện Long Xuyên rồi thì cũng bị gom vào trung tâm cải huấn cũ. Nơi đây tập trung đầy đủ Quân-Dân-Cán-Chính của chế độ cũ. Nhanh chóng chúng tôi trở thành tù mặc dù chánh sách “khoan hồng” bảo là “Cải tạo viên”. Chúng tôi sớm biết thế nào là ngoan ngoãn tuân hành nội quy cách mạng.

Ban điều hành trại cho một anh lao công cũ của trại lên nhận thư của một số anh em chúng tôi nhờ chuyển tin tức về gia đình, để rồi nạp cho trại. Chúng tôi bị tập họp lại và bị “lên lớp”. Những anh em gởi thơ lén liền bị điều động đi biệt tích, còn lại chúng tôi bị làm nhục, hăm he đủ điều. Sau nhiều cuộc “biên chế” (sắp xếp), dân số tập trung bị chuyển đi dần mà không biết chuyển đi đâu.

Lối tháng 8/75, chúng tôi gồm 5 Y sĩ Thiếu Tá biệt phái của Châu Đốc, Long Xuyên bị đưa qua trại giam tù binh cộng sản ở Cần Thơ.Lúc này, toàn thể quân nhân thuộc Quân đoàn 4 đều bị tập trung, và cấp Tướng và Đại Tá đã bị chuyển khỏi vùng, còn lại cấp Trung Tá, Thiếu Tá và một binh Nhất. Anh này không biết do ai cố vấn, tự động trình diện cải tạo với cấp bậc Thiếu Tá, hy vọng sẽ được tốt nghiệp như Thiếu Tá cải tạo để le lói với đời. Bị phát giác, nhưng anh vẫn được giữ lại, có lẽ để được xử dụng theo dõi chúng tôi.

Một hôm chúng tôi đang lao động nhổ cỏ, một anh bạn thì thầm nhận xét: Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa sang thiệt, dùng toàn thành phần bác sĩ để làm việc nhổ cỏ. Mà sang thật, họ bắt chúng tôi vào tù, chúng tôi phải tự mình biến chế tự làm ra từ chiếc ghế nhỏ để ngồi đến sạo thiếc để ngủ, từ hội trường đến nhà bếp, từ xây giếng đến đào nhà xí. Bếp núc cũng do chúng tôi xây, dĩ nhiên nấu nướng cũng do chúng tôi. Đồ ăn thức uống thì nói cho có, chỉ toàn rau úng, cá ôi, gạo ẩm đầy sỏi cát. Khẩu phần thì ngày càng hạn chế. Trại cho như vậy là rất tốt để chuẩn bị chúng tôi vào học tập và đón nhận chân lý cách mạng và nếp sống văn minh của Xã Hội Chủ Nghĩa.

Bài học gồm 10 bài. Nội dung và cách giảng dạy rất sơ đẳng. Mục đích không phải là thuyết trình lý luận Chủ nghĩa vô sản, mà chính là để ghép chúng tôi vào tội phản quốc, chống cách mạng, là bắt chúng tôi phải nhận đã gây nhiều tội ác “trời không dung, đất không tha”, và phải thành khẩn khai tội lỗi càng nhiều càng tốt, càng khai nhiều tội thì càng sớm được cứu xét về lại với gia đình. Chúng tôi còn được khuyến khích, bắt buộc phải khai báo, phóng đại những “tội ác” có thật hoặc tưởng tượng của toàn thể các cấp của chế độ cũ. Dĩ nhiên là trại đã thất bại, chúng tôi đã “nín thở qua sông”, khai báo lấy có. Sau cùng gần như toàn thể chúng tôi bị đưa ra miền Bắc. "Học tập cải tạo" hay khổ sai, lưu đày?

3- Một chuyến ra đi, trên đất thù:
Vào tháng 6/1976, giờ “đền tội” đã đến. Giống như Tết Mậu Thân, ở Huế, vì sợ tốn đạn, hơn 3,000 đồng bào bị chôn sống trong những nấm mồ tập thể, giờ này, để khỏi mang tiếng diệt chủng như Pol Pot ở Cao Miên, chúng tôi bị đày ra miền Bắc để chết lần mòn, suy kiệt ở các trại lao tù hẻo lánh của Thượng Du Bắc việt.

Chúng tôi xuống những chiếc tàu sắt dài khoảng 20 thước tại Bình Thủy, Cần Thơ. Qua một khung vuông, chúng tôi leo xuống một hầm bít bùng chật hẹp vừa đủ chỗ để ngồi sát nhau. Suốt 4 ngày đêm, với nắp hầm được khép kín, tàu linh đinh không biết về đâu. Có anh trào phúng cho rằng: “Chúng mình được đưa về phóng thích tại Saigon trước sự chứng kiến của truyền thông quốc tế để chứng minh chính sách khoan hồng của chế độ”. Ai nấy đều ngao ngán, khoan hồng như thế này à? Cảnh người nô lệ thời Trung Cổ không thể tệ hơn.
Anh T.Đ.V, Trung Tá (dường như là bạn cột chèo với Tướng Ng.C.K) huỵch tẹt cho rằng: chúng nó đưa bọn mình ra Bắc chớ không có đưa đi đâu hết. Nghe ra ai nấy đều ngỡ ngàng. Miền Bắc xa vời lắm, đưa ra ngoải để làm gì?

Sau cùng thì đoàn tàu cũng cập bến. Vừa thoát ra khỏi hầm, ánh bình minh làm chóa mắt sau những ngày trong bóng tối. “Xem kìa, rặng núi nơi xa kia là rặng núi Bửu Long Biên Hòa, chúng mình sắp được về Saigon rồi!”. Đó là lần chót chúng tôi nghe nói đến 2 địa danh của miền Nam, vì hiện tại, chúng tôi đang đặt chân lên miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, thành phố Vinh.
Xế chiều chúng tôi bị dồn vào những toa xe lửa để xuôi ra Bắc. Đường rầy xe lửa Xuyên Việt thời Pháp để lại, chiều ngang rất hẹp nên mỗi lần quẹo cua, thì xe chao đảo tưởng chừng như sắp ngã lúc nào không hay. Từ nay vĩnh viễn xa quê hương, sống chết có nghĩa gì!
Xe lửa chậm chạp đưa chúng tôi qua làng xã miền Bắc. Chúng tôi qua Thủ Đô Hà Nội nghèo nàn, vượt sông Hồng cạn nước, và đến một vùng đồi núi, cây cọ vùng Phú Thọ, đất của Tổ Hùng Vương. Trên toa xe, có một linh mục già nhìn ngọn cây cọ xa xa, mắt chan chứa đổ lệ, vì đây là quê của ngài. Là người đã lìa bỏ quê làng để vào Nam 20 năm trước, nay nhìn lại cố quận qua khe vách cửa của xe tù, bảo sao mà cầm được nước mắt! Cha ơi, con xin chia xẻ và cảm thông với mối xót xa của Cha.

Tối đến, chúng tôi đến một nơi không biết là đâu, đèn đuốc lu câm. Chúng tôi bị lùa xuống, và hối hả bị đốc xuống một chiếc phà gỗ nhỏ. Chiếc phà được kéo bằng dây luộc xuống một khúc sông khá rộng. Đó là phà Yên Bái vượt qua song Hồng. Chúng tôi bị tách rời thành nhiều toán, và rải rác phân phối khắp miền Tháp Bà, Lào Kay, Tuyên Quang, Cao Bằng, Sơn La... Nhóm chúng tôi được chất lên những xe Molotova và vất vả đoàn xe rồng rắn vượt qua núi đồi. Thế là hết, chúng tôi sẽ được đem đi giấu ở những đỉnh núi miền Thượng Du, để rồi như bầy cua bị nhốt cùng chung một rọ, lần hồi gãy gọng gãy càng chết lần chết mòn.
Đang mệt mỏi ngủ gà ngủ gật thì có tiếng quát: “Tới rồi, tất cả xuống hết, khẩn trương tập họp...” Thì ra trời vừa sáng, một khoảng đất trống đầy sương hiện ra trước mắt, chung quanh núi đồi, không thấy nhà cửa, trại lều.. thật là hoang vắng sơn dã.Quá xa lạ, ngỡ ngàng, chúng tôi như con người máy, lũ lượt làm theo lệnh. Tối đến chúng tôi ngã người xuống đất đầy cỏ gai và sâu, ngủ một giấc không hồn.Sáng hôm sau thức dậy, chúng tôi thấy còn sống vì còn nhận ra được mặt mày thân thương của bạn tù. Từng cuộn khói bốc lên sau các ngọn đồi chung quanh. À, bạn hữu mình cũng được phân phối quanh đây.

Chúng tôi thuộc Trại 6, Liên trại 4 của Đoàn 776. Tất cả có 9 trại rải rác ở quận Phú Yên, tỉnh Sơn La, nghe nói cách Điện Biên Phủ 60km về phía Tây. Sau 3 tháng ổn định nơi ăn chốn ở, có nghĩa là làm từ con số không, với 2 bàn tay trắng chúng tôi đã xây dựng được trại, lán, và hàng rào tre chia cách các khu. Chúng tôi sống như những người tiền sử, không đèn đuốc, không dụng cụ, không một cây đinh, khúc sắt.
Tuy nhiên việc tẩy não không hề thiếu vắng. Nào họp tổ, bình bầu, đấu tố (vâng đấu tố) nghĩa là kiểm thảo, tố cáo, vạch mặt, chửi bới, không thiếu mục nào. Những thức ăn chúng tôi giấu được sau nhiều đợt khám xét cạn dần. Cái đói, và bịnh đã xuất hiện.
Trời đã cuối Thu, se se lạnh. Từng cơn gió ào ào thổi qua ngọn cây. Chúng tôi bắt đầu nếm mùi giá lạnh Thượng Du Bắc Việt.

Ngay sau khi đến đây được một tuần, một sáng đang tập họp nhận lệnh công tác lao động trong ngày, một lán báo cáo vắng mặt 4 anh. Anh em xầm xì “trốn trại!” Ai nấy đều cảm phục nhưng đầy lo âu cho 4 anh, thầm mong các anh thoát khỏi.

7 ngày sau, 4 anh mình mẩy sưng vù, máu me, cùm trói như con vật, bị vệ binh kéo xệt về trại, và bị giam nhốt riêng ra. Về sau bị chuyển nào biết nơi nào. Cả năm sau, anh B, 1 trong 4 anh, vì bịnh phong, được chuyển về Bịnh viện Yên Bái kể lại. Ngay ngày đầu, các bạn bàn với nhau và quyết định trốn trại. Các anh tích trữ khẩu phần ăn, muối, phơi khô. Tạm đủ, các anh rời trại vào buổi tối lối 11 giờ, tương đối dễ, vì vệ binh canh gác sơ sài. Nhóm gồm có 1 anh Thiếu Tá Biệt Động Quân, trước có tham dự trận Điện Biên Phủ.Anh hướng dẫn đêm đi, ngày nghỉ, hướng về phía Tây, cố vượt biên giới Việt-Lào, để tìm đường đi Thái Lan... Đến ngày thứ năm bị lộ vì quá đói, đào trộm sắn (khoai mì) của người Mường. Họ phát giác sắn bị đào nên săn đuổi các anh ráo riết và bao vây các anh ở một ngọn đồi. Với giáo mác gậy gộc, họ lăn xả vào các anh, đánh đập, đâm chém, vừa la hét: “Giết, giết bọn hút máu ăn thịt này, chính bọn này đã hãm hiếp, giết người, đốt làng xã của họ”. Toàn là những luận điệu tuyên truyền của nhà nước với người thiểu số.
Sau một hồi, tưởng là các anh đã chết, họ mới giao nộp cho công an xã và bọn này giải giao các anh cho bộ đội trại. Đó là trận đào thoát thất bại đầu tiên mà chúng tôi chứng kiến.

Một buổi sáng, chúng tôi gồm khoảng 14 anh em gồm Y, Nha, Dược Sĩ được chọn từ 9 trại về 1 nhà tráng xi măng duy nhất của liên trại để thành lập bệnh xá. Nhà này nghe nói trước là nhà tù SơnLa của thực dân Pháp, giam cầm các lãnh đạo cộng sản đầu thập niên 40. Cùng với 5 anh em được chuyển về từ các trại khác, chúng tôi bắt đầu vào việc chuyển nhà giam thành bệnh xá. Từ tay không, và không phải tay nghề, chúng tôi đã dựng nên được một nơi mà chúng tôi hy vọng các anh em đồng cảnh tù bị bịnh sẽ tìm được sự chăm sóc hoặc ít nhứt là sự an ủi cảm thông vì chúng tôi thừa biết phương tiện y tế và thuốc men kể như là số không.

Quả vậy, sự hiện diện của chúng tôi, những người áo trắng, giữa cảnh tù tội, đã đem lại cho anh em tù một nguồn an ủi. Vì trong mấy tháng vừa qua, một số chúng tôi đã giúp nhiều đồng đội trong cơn bệnh hoạn, ngay cả đã giải phẫu một, hai trường hợp cứu cấp khá thành công, cán bộ, bộ đội cũng lén lút đến nhờ chúng tôi cứu chữa, hoặc xin thuốc “con nhộng” (Aureomycine, Terramycine...). Phần nào chúng tôi cũng có được sự nể nang âm thầm, nhưng vẫn phải chịu chung sự đối xử nhục nhã, thô bạo của kiếp tù. Nhứt là trong những buổi học tập chính trị không thể thiếu.

4- Lên đồi - xin nhận nơi đây là quê hương:
Anh em bịnh hoạn từcác trại được chuyển về.Có gì đâu để chữa trị, nhưng ít nhất cũng không phải lao động.
Và cái chết đầu tiên xảy ra: đó là một anh Trung Tá bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Thật đau lòng. Tuyệt vọng không phải vì không thuốc chữa, nhưng mộng ước được chết giữa người thân yêu xa vời, mặc dù đã nhiều lần xin cứu xét.
Anh ra đi! Một kiếp người. Ai nấy đều tủi cho số phận của anh và cũng của chính mình.

Anh thứ hai là một Trung Tá của Quân đoàn 2. Anh được chuyển đến để làm lao động cho bệnh xá. Anh rất yếu, bị “xơ gan cổ chướng” (Cirrhosis), anh cùng tôi nằm gần bên nhau. Anh rất hiền lành. Tôi không nghe anh than thở, xin hỏi thuốc men. Một tối, anh mửa ra máu và ra đi. Tôi tiễn người bạn tôi lên đồi.

Nhưng có một anh khi ra đi đã gây trong lòng tôi một nỗi buồn sâu đậm. Anh đến bịnh xá vì có vẻ khác thường: thầm lặng và biếng ăn. Một đêm anh lên cơn làm náo động cả bịnh xá. Vệ binh ôm súng lên cò la hoảng: “Tù binh thoát trại”. Chúng tôi giữ yên được anh. Sáng ra, ban quản giáo ra quyết định cách ly (nhốt riêng) anh. Anh hoàn toàn mất trí. Tôi tình nguyện săn sóc anh. Tôi sống với anh 24/24 ở một chòi cách ly. Giữa mùa Đông giá lạnh, sống và chăm sóc một người lú lẫn nặng không phải dễ. Ban ngày đút cho anh ăn chiếm cả thì giờ. Tối lại, anh thường lên cơn, vì bóng tối khiến cho anh hoảng sợ, tôi phải canh anh suốt canh dài. Cả một sự kiên nhẫn, ân cần giữ anh sống được qua ngày. Rồi anh yếu dần và ra đi sau một cơn động kinh. Tôi chăm sóc anh như một người thân. Anh đi rồi, tôi buồn lắm.

Một buổi tối, cận Tết, chúng tôi nhận lệnh đón một bệnh nặng từ trại 9 chuyển đến. Đến 4 giờ sang anh mới được võng đến (anh nằm trên võng do hai anh gánh đến). Anh bị bịnh viêm màng bụng (peritonitis) đã 2 ngày, tình trạng rất nguy kịch. Cán bộ ra lệnh “phấn đấu giải phẫu!” Trại mộc gần bên “khẩn trương” đóng bàn giải phẫu. Anh V.T.A (cựu Thứ Trưởng Bộ Chiêu Hồi) được lệnh đi bệnh viện Phú Yên (cách 7-8 km) xin tiếp liệu y cụ và dược phẩm cần thiết cho cuộc giải phẫu. Phải đến 2 giờ chiều anh mới về trại. Anh kể, anh phải chờ, Bác sĩ bệnh viện đang bận giải phẫu. Và bác sĩ quả thật đang mổ heo, vì ngày hôm nay là ngày bệnh viện được cấp 1 con heo. Bác sĩ mổ thịt chia bán cho nhân viên. Anh A. mang về được 1 chai nước cất, 2 ống ether, 2-3 cuộn bang. Thế thôi.

Chưa có ca giải phẫu nào mà có nhiều bác sĩ, dược sĩ tham dự như vậy, và cũng không có cuộc giải phẫu nào mà y dụng thô sơ đến như thế. Đánh ngủ bằng đổ Ether qua một lớp bông gòn, bịt ngay lỗ mũi. Cuộc giải phẫu rất đơn giản. Thành bụng lép xẹp, không mỡ, bị rạch mà không chảy máu (có máu đâu mà chảy). Ổ bụng có mủ, một cọng rễ (có lẽ là rễ một loại rau dại) đâm thủng thành ruột non mỏng dánh. Phải nương tay lắm mới khâu được lỗ thủng. Và cũng vừa lúc bệnh nhân cựa quậy ra khỏi cơn mê vì đã hết Ether từ lâu. Thành bụng không khâu, sợ bịnh nhân chết vì quá yếu, chịu đau không nổi.
2 ngày sau, khi chúng tôi lao động trên núi, có tiếng kẻng từ Bịnh xá gọi về. Qua khỏi cổng, chúng tôi nghe: “Gi. đã địt được rồi!” Ai nấy đều mừng, đường ruột của anh Gi... đã hoạt động. Và chúng tôi có được những ngày Tết ấm cúng bên cạnh đống củi khô cháy rực giữa phòng, với sự bình phục của anh Gi., một Gi., cựu Tiểu đoàn Trưởng Biệt Động Quân vui tính và rất tiếu. Sau Tết, riêng mình tôi bị “biên chế”. Tôi người trẻ nhứt, bị tách rời để đổi đi Yên Bái. Anh em ái ngại nhìn tôi trèo lên xe Molotova chở đầy bộ đội xa rời liên trại.

5- Bịnh viện Yên Bái - Đoàn 776:
Vào khoảng trưa, tôi qua phà Yên Bái, và được đến một ngọn đồi, mênh mang giữa bao ngọn đồi. Nơi đây tôi gặp lại Ng.Tr.B, Trung Tá Công Binh trước cùng nằm bên nhau ở trại tù Cần Thơ. Anh và một nhóm anh em được điều động đến xây dựng một lều tạm để bắt đầu xây dựng bịnh viện xử dụng chung cho trung đoàn 776 và tù cải tạo. Lần hồi tụ tập thêm một nhóm anh em Hạ sĩ quan Cảnh Sát Quốc gia, trước bị giam ở Phú Quốc, và 3 bác sĩ tuyển mộ từ các trại Tháp Bà, Tuyên Quang, Nghĩa Lộ. Chúng tôi lại xây dựng từ con số không với 2 bàn tay trắng. Đến khi vào sinh hoạt, chúng tôi có 1 khu cho chỉ huy trại, khu cho cán bộ quản giáo, khu giải phẫu và điều trị cho đoàn 776, khu dành cho bịnh nhân cải tạo, một nhà chờ xuất viện, một khu nhà bếp, một gian nhà cho tù cải tạo phục vụ bịnh viện, và một khu cách ly. Chúng tôi xây được một cái giếng ciment, và những cầu xí 2 ngăn.
Không bao lâu, bịnh viện lác đác nhận bịnh, bộ đội, cán bộ riêng, tù cải tạo riêng. 3 anh bạn bác sĩ được phân phối phục vụ Bịnh viện cùng với một số anh em già yếu. Tôi được sắp cùng với số còn lại để lao động nặng. Ngoài ra, có một số được chia ra để làm mộc, đóng bàn ghế, rương hòm cho cán bộ, và một số khác phụ trách trồng trọt tăng gia nuôi cả trại. Tôi ở đây từ đầu năm 1977 đến cuối năm 1978. Nơi đây tôi chứng kiến vực thẳm của tù đày và sự vinh quang của sự đổi mới.

6- Hai bạn trong số bạn hữu lại ra đi:
Đúng vậy, thời buổi này là tệ hại nhất. Thiếu ăn, rét lạnh, và dịch bệnh tàn phá chúng tôi không thương tiếc.
Không thăm nuôi, không tin tức gia đình, lao động nặng, khí hậu khắc nghiệt đã quật ngã chúng tôi. Chúng tôi là những xác không hồn, những sinh vật bò bốn chân, lê lết ba chân. Anh em chúng tôi thi nhau ra đi. Riêng tại bệnh viện, những anh em may mắn được chuyển đến, để rồi cũng tiếp tục ra đi. Làm gì được? Thức ăn không có, lấy gì có thuốc mà cầm cự. Chúng tôi hết đào huyệt rồi lại đào mồ. Chúng tôi liên tục vác các anh em chúng tôi nằm trong 6 tấm ván mục sơ sài xuống đồi. Có lắm lần đường đồi trơn trượt, chúng tôi chúi nhủi, hòm các anh rớt xuống, lăn đè lên chúng tôi. Đâu đó có tiếng cầu nguyện: “Quý anh ơi, xin ra đi thanh thản, chớ bận bịu mà ôm chúng tôi làm gì, tội chúng tôi lắm...”

Tôi nhớ rõ 2 trường hợp: Anh Ph Q T, TrungTá giải ngũ. Anh bị sơ gan cổ chướng. Bụng to như trống chầu, da bụng mỏng tanh. Trong gói quà mà tôi nhận được lần duy nhất từ khi ra Bắc, có một gói bột Bích Chi. Tôi đem tặng anh, anh không nhận, tôi phải thuyết phục anh: “Anh dùng đi, cái này rất tốt, vì theo phương pháp dưỡng sinh Nhựt Bổn, bột gạo lức có rất nhiều chất bổ dưỡng trị được sơ gan”. Anh nhận, nhưng anh biết rõ tình trạng sức khỏe của anh. Một đêm, anh ộc ra từng bụm máu. Tôi ngồi bên anh, giữ anh ngồi để máu không tràn vào phổi, anh thì thào: “Bác sĩ cho tôi nằm”. Anh nằm xuống, gương mặt xanh xao, nhưng tỉnh táo: “Bác sĩ, tôi yên tâm có bác sĩ bên cạnh, tôi chết không tiếc nuối. Bác sĩ có được thả về, nhớ ghé nhà tôi báo tin dùm”.
- Anh T, tôi xin hứa. Anh có muốn tôi rửa tội cho anh không?
- Xin Bác sĩ giúp tôi.
- Tôi rửa tội cho anh Phêrô T, Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Anh T lạnh dần và ra đi.

Trường hợp thứ 2: Anh Trung Tá L V Ng, người hùng Tống Lê Chân. Anh đến bịnh viện từ lúc bắt đầu. Anh bị bướu ác tính vòm họng, di căn qua các hạch ở cổ và vòm họng, bóp nghẹt khí quản và thực quản. Anh thở và ăn uống rất khó nhọc. Dáng anh rất thư sinh, một thư sinh rất ốm đang vật lộn với căn bịnh ngặt nghèo. Sáng nào cũng vậy, anh để cả tiếng đồng hồ để cố khạc nhổ đờm dãi ứ đọng trong cổ, để rồi dùng cả buổi để cố gắng nuốt thử hạt bo bo. Nếu có hình ảnh kiên trường chiến đấu cùng tử thần, thì đó là hình ảnh của anh. Hình ảnh thảm thương của cuộc chiến đấu vô vọng trong thầm lặng anh dũng (gémir, crier, ce n’est que lâche!), anh kéo dài được hơn 1 năm. Ngày cuối của anh là một đêm rất lạnh. Tôi ngồi cạnh anh, anh rất yếu, khó khăn lắm mới rót được một hơi mỏng manh. Anh bảo: “Chắc... tôi... chết”! Tôi ái ngại xoa bóp lưng anh, tôi không biết nói chi.

Chôn cất anh xong, nhớ lại câu trối của anh: “Chắc tôi chết!”, tôi mới hiểu sự quyết tâm của anh chống lại cái chết để anh về với gia đình, cho đến hơi thở cuối cùng anh mới: “chắc tôi chết”. Anh Ng ơi, người chiến sĩ già không bao giờ chết, họ chỉ thoáng qua thôi.

7- Những Tướng VNCH đã qua bịnh viện Yên Bái:
Chuẩn Tướng Ph H Th, Cục Trưởng Cục Quân Y đến bịnh viện không phải để được điều trị, mà chỉ để tạm trú qua đêm để hôm sau xuôi về Nam,có lẽ để được phóng thích. Chúng tôi rất vui mừng, “hồ hởi” vì ông là người đầu tiên thoát khỏi thiên đường Cộng sản.

Thiếu tướng Đ V Qu, cựu Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt đến bịnh viện vì bị đau dạ dày.Là Tướng lãnh của Quân lực VNCH, ông không bao giờ hạ mình tuân lịnh nội quy bịnh viện: nghiêm chỉnh đứng chào cán bộ mỗi khi họ vào phòng. Bọn nhóc tì vô cùng tức giận, hoạnh họe chửi rủa cộc cằn. Chúng liền trả ông về trại cũ. Có sao, ở đây cũng chẳng có thuốc men, khác chi ở trại. Tôi được biết ông mất một thời gian sau đó, và cũng chẳng có thuốc thang gì.
Thiếu Tướng Ng X Tr, Bộ Tổng Tham Mưu, được đưa đến bịnh viện trong cơn đau đớn tột cùng của Acute Glaucoma Crisis (cơn đột phát tăng nhãn áp cấp tính). Ông đến không đúng lúc vì lúc đó bịnh viện đang có một phái đoàn y tế cao cấp đến công tác, phổ biến và nâng cao trình độ y học cho cán bộ bịnh viện. Họ đem trường hợp của ông để giảng dạy và phô trương. Họ đem ông vào phòng mổ, và biểu diễn tài giải phẫu, bằng mổ và móc mắt ông. Đây là cách điều trị siêu hạng Xã hội Chủ nghĩa. Từ nay, một Tướng VNCH nhờ được ta cứu, nhìn vinh quang Cách mạng với một con mắt đầy cảm phục!
Y sĩ Thiếu Tướng V Ng H, cựu Cục Trưởng Cục Quân Y đến vì bị sa bẹn (hernia). Sợ trường hợp của Thiếu Tướng Tr tái diễn, anh bạn bác sĩ Ph T L nài nỉ xin được làm phụ mổ. May phước, Tướng H được tai qua nạn khỏi. Ông được xuất viện trả về trại cũ sau khi được mổ khá bình thường.
Một ông Tướng của Thống Tướng Tưởng Giới Thạch, tình nguyện phục vụ cho Quân Lực VNCH được đưa đến bịnh viện vì bị đái ra máu do nhiếp hộ tuyến bị sung. Ông rất hề hà, nói không rành tiếng Việt. Không thuốc men gì, trả về trại thôi.

8- Một tù cải tạo hào hùng - Một bạn vàng:
Ở bên trại 4 Hoàng Liên Sơn có một cải tạo viên rất nổi tiếng. Từ Nam ra Bắc, anh có cuộc sống rất hào hùng, dọc ngang trời đất, trên đầu nào có ai.Anh sống rất hiên ngang, coi bọn cán bộ không ra gì. Anh có cái hay là lúc nào anh cũng thoát khỏi đòn thù của bọn họ. Đó là Tiểu Đoàn Trưởng Nhẩy Dù Ng L. Tôi được kể lại khi ở trại Sơn La, một sáng ra ngoài lao động, đội đang đi thì có một thiếu phụ người Dao (đồng bào Dao rất nổi tiếng vì cái đầu tóc rất bù xù, một năm mới tắm gội một lần) đi ngược chiều. Anh L bỏ hàng ngũ và bước tỉnh bơ theo gót người đẹp và chung sống được 1 tuần. Nhớ bạn bè, anh lại trở về trại, không nghe nói anh bị hình phạt ra sao, chỉ biết một thời gian sau, anh được chuyển đến bịnh xá của các bạn đồng nghiệp cũ của tôi, vì chảy máu hậu môn (trĩ). Các bạn đồng nghiệp tìm cách chuyển anh về bịnh viện Yên Bái. Anh có đến gặp tôi và chuyển lời chào của các bạn cũ.

Một thời gian sau, anh xuất viện, nằm ở Khu chờ đợi trại cũ đến lãnh về.Một bữa lúc 4g30 sáng anh âm thầm ra trại, đem theo quần áo bạn bè ra chợ Yên Bái đổi lấy thức ăn, bánh trái và ăn uống suốt ngày thoải mái. Đến 11 giờ đêm anh lục tục đi về.Trong nháy mắt,anh quăng phắt tất cả bánh trái cho anh em,vừa đúng vệ binh chạy đến bắt và còng anh đi. Sáng sớm tôi ra giếng rửa mặt, gặp anh bị còng trói phơi người trong đêm lạnh. Tôi nhìn anh đầy thán phục, anh nhìn tôi mỉm cười coi như trò chơi. Anh thật là một hảo hán trong cõi lao tù.

Đồng thời ở bịnh viện Yên Bái có một anh rất được mến mộ, anh Đại Úy Thiết giáp, anh có dáng như một ông Địa, tay chân, bụng, mặt no tròn, sưng phù. Cái miệng như lúc nào cũng cười toe toét. Anh bị viêm thận vô niệu, mỗi ngày chỉ đái được vài giọt nước đỏ lòm. Và cũng không có thuốc men gì cả. Trong gói quà tôi nhận được có ít viên B1 nội hóa, tôi đem cho anh uống. Do sự trùng hợp ngẫu nhiên, trong đêm anh đi đái được và đái rất nhiều. Sau 2 ngày, anh như ông già Michelin bị xì hơi thành một anh hề Hardy ốm lòi xương. Chúng tôi trở thành đôi bạn đầy cảm thông. Chúng tôi không nói gì với nhau nhiều, nhưng mỗi lần gặp nhau chúng tôi thấy vui trong lòng.

9- Một sự hồi sinh:
Thời gian ở bịnh viện Yên Bái là thời gian khổ tâm vô cùng. Tôi tìm lại nguồn an ủi bằng cách ôn lại trong đầu, những bài giảng đạo khi tôi còn học trường Lasan Taberd. Một ông Trung Tá cho tôi mượn đọc một cuốn sách Kinh mà ông giấu được. Hằng đêm tôi đọc kinh thầm và suy gẫm lời Thánh kinh. Lần hồi trong tôi xâm nhập lòng thương xót và hoài niệm về Tình Thương. Cái đói lạnh, cái khổ thể xác và tinh thần vẫn còn đó, nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Chung quanh tôi có rất nhiều gương của lòng tốt, tình người. Bọn tôi không ai có thể thoát chết mà về được với gia đình nếu không có sự giúp đỡ, chia xẻ, săn sóc và an ủi của anh em đồng cảnh tù. Về sau tôi được chứng kiến nhiều cảnh cảm động của những cụ già, những thiếu phụ xanh xao ốm yếu, những trẻ thơ gầy guộc ngơ ngác, lặn lội từ xa, gồng gánh những gói quà ra nuôi và cứu chữa anh em chúng tôi. Chính tình yêu của gia đình đã vực chúng tôi khỏi vực thẳm của tử thần.

Tôi cũng đã chứng kiến, trong cảnh lao tù thiếu thốn, một số trong anh em chúng tôi đối xử đầy tình người với chính những kẻ đã đối xử chúng tôi như kẻ thù, và chúng tôi cũng giúp đỡ được đồng bào trong những trường hợp hy hữu. Ngược lại, không ít trường hợp chúng tôi cũng nhận được lòng tốt của cán bộ, vệ binh và đồng bào, tuy là lén lút.

10- Một thời buổi đáng ghi nhớ-Sưởi ấm ở Quảng Ninh:
Thuở đó, vào cuối năm 1978, có tin đồn có vấn đề biên giới Việt - Trung. Đoàn 776 có dấu hiệu “biên chế”. Khu dành cho Đoàn bị giải tán. Bên cải tạo thì có nhiều trường hợp chuyển trại. Còn lại một phần nhỏ để thanh toán trại và 40 anh em bịnh nhân quá yếu không thể chuyển trại được. Tôi được trại “bố trí” để lo cho 40 anh em này để chuyển tới một địa điểm mới. Lần đầu tiên trại mướn 2 chiếc xe dân sự loại Volswagen 14 chỗ ngồi, chở chúng tôi về Quảng Ninh, một trại tù dân sự do Công an quản lý. Chúng tôi bị nhốt trong một phòng gạch có 2 hàng băng xi măng, có từng trên bằng gỗ làm giường ngủ. Nơi đây có 2 cụ già rất yếu, còn sót lại sau đợt chuyển trại của các viên chức cao cấp chế độ Cộng Hòa, trong đó có Đại Tá V.V.C cựu Đô Trưởng Saigon. Một cụ là chủ đò Thủ Thiêm, một cụ là Khóm trưởng. Hai cụ vì bị thù oán cá nhân với bọn cách mạng 30 địa phương mà bị đày ra đây. Hằng ngày 1 Trung úy công an với 1 tù hình sự đến mở cửa sắt, điểm danh, cho tù hình sự đem nhiều bó tre đến để cho chúng tôi đan rổ rá. Chiều đến, ông đến kiểm điểm thành quả lao động trong ngày và nhốt chúng tôi lại vào “chuồng” và đương nhiên là không có thuốc men cho mỗi ai. Ông chỉ định tôi chịu trách nhiệm anh em.

Những ngày đầu chúng tôi rất khốn khổ, chia ra từng nhóm riêng rẽ, và có xảy ra hục hặc tranh chấp. 1 bầu không khí nặng nề khó chịu bao trùm chúng tôi, ai nấy nặng chĩu ưu tư lo sợ. Cảnh thế này thì khó tránh được điều tệ hại nhứt. Chúng tôi cùng quyết tâm với nhau:
- Không có thuốc, thì phải cố gắng tránh cho bịnh không trở nên trầm trọng.
- Không ăn uống đầy đủ, thì phải tiết kiệm năng lượng. Làm sao?
- Lao động tối thiểu.
- Ngủ nhiều để dưỡng sức, vì mất ngủ sẽ hao mòn sức khỏe rất nhanh.
- Tránh buồn phiền ưu tư và gây gổ.
- Nâng cao tinh thần bằng vui ca, và tự hào về đời sống “Ngụy” của chúng mình.

Từ đó chúng tôi làm việc cầm chừng. Nhiều anh sinh hoạt làm thơ, học đờn, sáng tác nhạc. Tối lại chúng tôi đờn, ca hát nhạc vàng, kể nhau thành tích quá khứ, truyện chưởng và truyện tiếu lâm. Và chúng tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Chúng tôi có cuộc sống bất chấp kỷ luật và nội qui trại (cùi rồi đâu sợ lở).Cũng may, ông Trung úy và cả trại dường như bỏ bê chúng tôi. Chúng tôi đâu có hay rằng chúng tôi được đoàn 776 chuyển đến đây để tạm trú, trong những ngày tháng giá lạnh của mùa Đông. Chúng tôi đã qua được những ngày lạnh giá mùa Giáng Sinh và mùa Tết 78-79 đáng ghi nhớ nhứt, vì chúng tôi đã sống như con người của chúng tôi trước năm 75. Không một ai trong chúng tôi bị trở bịnh và mệnh hệ.

11- Trại Mễ Nam Định, rửa tội và về Nam:
Ra Xuân,vào tháng 4/79 chúng tôi được trả về trại Nam Hà do công an quản trị.Chúng tôi được đưađến trại Mễ, trại bịnh của hệ thống trại tù Nam Hà.Trại này ở ngoại ô Phủ Lý, Nam Định, cạnh một nhánh của sông Mã. Trại có rất nhiều anh em cải tạo bệnh nặng từ các trại từ Nam Hà chuyển đến. Hằng đêm tiếng còi hú của đoàn tàu xuôi nam làm không ít anh em thức giấc đêm dài. Tại đây chúng tôi bắt đầu được gia đình ra thăm nuôi, và trại cũng bắt đầu kinh doanh làm tiền bằng cuối tuần nấu phở bán cho cải tạo viên, hoặc trao đổi lén lút hàng hóa. Và cũng tại đây bắt đầu có những đợt phóng thích. Mỗi lần thấy một số trong 40 anh em chúng tôi được về xum họp cùng gia đình, trong tôi có một cảm giác mừng vui khó tả. Đặc biệt nơi đây, cha H (tôi gọi thân mật như vậy) linh mục dòng Đồng Công đã rửa tội cho tôi dưới sự chứng kiến của một vài anh em Công Giáo. Ban trật tự sắp xếp tôi làm công tác y tế cho trại. Đó là mỗi sáng sớm khám những anh em khai bịnh để khỏi lao động. Đã nói nơi đây là trại bịnh, nhưng ban điều hành lại vẫn bắt anh em lao động, dù là chẳng có gì, nhưng mục đích vẫn là đày ải. Vì vậy anh em nào không muốn lao động thì tôi cứ ghi thuận “miễn lao động”, cùng lắm thì tôi sẵn sàng bị đuổi, trỏ về cùng với anh em lao động.

Rồi một ngày tôi được kêu lên trại “làm việc”. Tôi bị bắt ký vào 1 tờ giấy khai tôi không bị hành hạ ở trong các trại cải tạo. Hôm sau, một mình tôi bị chuyển trại. Tôi buồn và hoang mang nhưng sau hàng rào sao lạicó một vài anh em vẫy tay chào tôi vui vẻ? Tôi được đưa vào trại A,Nam Hà vào ngày lễ 2/9. Gặp lại 1 vài bạn các trại tù cũ, tôi được biết nơi bịnh xá trại này đã quy tụ các anh em đồng nghiệp đã ở cùng chung trại ở Sơn La.

Sáng hôm sau, chúng tôi độ 14 người được tập họp ở một khoảng sân trống. Nhìn lại toàn là anh em chúng tôi, đều là những Y Nha Dược sĩ của các trại tù miền Bắc. Một cán bộ tuyên bố: “Các anh được tự do, chúng tôi sẽ đưa các anh ra ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Chúng tôi sẽ trao các anh vé tàu lửa và tiền lộ phí. Kể từ đây chúng tôi hết trách nhiệm về các anh”.
Chỉ có vậy, vào tù cũng không có lệnh, ra tù chỉ là lời nói! Tôi giữ lại 1 kỷ niệm với Thủ đô Xã hội Chủ nghĩa bằng ăn 1 tô phở ở chợ Đồng Xuân. Tưởng là bát phở nổi danh của Hà Nội 36 phố phường, nhè đâu là tô phở nhạt nhè Xã hội Chủ nghĩa mà ngay cả tôi, một tù cải tạo đói khát cũng không thưởng thức nổi!

12- Từ tù nhỏ ra tù lớn:
Sau 4 ngày 5 đêm thì chúng tôi cũng về được đến Sài Gòn (à quên Hồ chí Minh) thân yêu. Ga Bình Triệu hơi vắng. Chúng tôi xuống sau cùng, một vài bạn được gia đình đón rước. Rồi tất cả cũng rời đi, còn lại tôi và một anh bạn nha sĩ trẻ, không tiền, không thân nhân. Một bác phu xích lô máy đồng ý chở chúng tôi về nhà, trả tiền sau. Mà nhà nào? Nhà tôi quanh chợ Bà Chiểu, gần rạp hát Cao Đồng Hưng nay còn đâu! Thôi thì về nhà ông bà già vợ ở đâu đó ở Hóc Môn. Trong thơ duy nhất mà tôi nhận được, ba má nhà tôi bị đuổi ra khỏi nhà ở trong nha Mục Súc, và có về Hóc Môn, ở ấp Cây Sộp làm trại nuôi heo. Bác xích lô máy chở chúng tôi qua Hạnh Thông Tây, đến chợ Cầu. Nơi đây có vài trại nuôi heo, và hỏi thăm trại của bác sĩ Tư. Và đây rồi, chúng tôi cũng tới được: “Ba má ơi, con về đây!”

Tiếng chó sủa rân, một ánh đèn dầu bật sáng. Em vợ tôi bật cửa chạy ra. Vào nhà, ba má già nua thấy rõ, nhìn 2 chúng tôi ngỡ ngàng và thương hại. Hai tin đang chờ tôi: Má tôi và cả gia đình bên tôi đã vượt biên và hiện đoàn tụ cùng 1 người chị và 1 người anh đã ra đi từ 4/75. Ngoại tôi 84 tuổi cũng đi theo vượt biên, bà thở hơi cuối cùng khi vừa đặt chân trên đảo Bidong. Bà đã hy sinh cho con cháu được sống. Ngoại ơi! ngoại... ơi!! Tin thứ nhì là nhà tôi và thằng con trai 10 tuổi đang ở miền Bắc, tìm cách thăm nuôi tôi.

13- Một thiếu phụ và 2 con giữa bầy thú dữ:
Nhà tôi là một trong 2 bác sĩ chế độ cũ còn lại phục vụ cho Bịnh viện Long Xuyên.Nhà tôi phụ trách ngoại khoa và giải phẫu, làm việc rất bận rộn và vất vả. Cùng với toàn thể nhân viên chế độ cũ, nhà tôi được ban giám đốc và lãnh đạo đối xử như những công dân hạng hai (second class citizen). Vào thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhà tôi và 2 con sống rất chật vật và thiếu thốn như mọi người. Không được tin tức của tôi là nỗi đau lòng luôn luôn canh cánh bên lòng. Nhà tôi cằn cỗi và tiều tụy trông thấy. Đã vậy có lắm lần bọn cách mạng tìm cách lại ve vãn nhà tôi. Có một anh chàng đến nói thẳng: “Thằng chồng của cô sẽ không bao giờ được thả về, có thế mới bắt cô ở lại phục vụ bịnh viện chớ. Cô nên sớm lo liệu cho cô đi!” Rồi có lần hắn đến dằn một cái cộp, cây súng lục trên mặt bàn và nói: “Nhiều khi lời nói không đem đến kết quả, thì vật này sẽ làm được việc”. Cũng may, hắn ta, có lẽ có quá nhiều thành tích, nên bị chuyển công tác khỏi tỉnh.

Khi chuẩn bị vượt biên, má tôi cũng kêu nhà tôi cùng đi, bảo rằng: “Biết bao giờ thằng Bình mới được thả về!” Nhà tôi vâng lời. Trùng vào ngày nhà tôi và 2 con đi theo chị tôi xuống trước để xuống ghe trốn đi, thì nhận được lá thơ duy nhứt của tôi gởi về từ Yên Bái. Nhà tôi nẩy ra ý: nếu nhà đi vượt biên thì bao giờ tôi mới được ra tù? Vì vậy vào giờ chót nhà tôi ở lại. Cũng may tối hôm đó, thằng con trai lên cơn sốt, nó bị sưng màng óc. Số nó còn hên nên được cứu chữa kịp thời. Có 1 người bạn tôi, bác sĩ Đ.H.Đ làm ở Châu Đốc. Anh bị sắp cho đi tù vì bị kết tội là cố tình mổ chết 1 cán bộ. Nhà tôi cho anh hay và nói anh khai bịnh để chuyển từ Châu Đốc xuống Long Xuyên để nhà tôi gấp rút chuyển anh về Bịnh Viện Bình Dân vì quá khả năng điều trị. Trước khi đi anh kịp thời bảo nhà tôi “chị ráng lo cho thằng Bình, chớ không thì nó sẽ chết ngoài Bắc”. Anh cho nhà tôi địa chỉ của bạn cùng lớp, BS N.V.Tr, anh này là em Thứ trưởng Bộ Y Tế, Sáu Cương. Nhà tôi liền lên gặp anh Tr và Sáu Cương. Ông này nói thẳng “Ai tôi cũng muốn xin về để phục vụ ngành y tế vì rất thiếu bác sĩ, nhưng vừa lãnh xong, vừa về, thì hôm sau lại đi vượt biên tuốt luốt. Coi kìa, Bác sĩ T.Ph.L cũng là bạn của Tr và chồng cô, tôi lãnh về xong thì cũng vượt biên mất rồi. Vậy cô có bảo đảm với tôi rằng nếu được lãnh ra về, anh Bình và cô có hứa sẽ ở lại phục vụ hay không?”


Nhà tôi trả lời ngay tức thì “Danh dự không cho phép tôi hứa những gì trong tương lai thời thế không cho tôi giữ được”. Quả là câu trả lời quá bộc trực của dân miền Nam. Ông Sáu Cương cảm thông và đích thân viết một đơn xin lãnh chồng và đưa cho nhà tôi ký. Vừa về lại LongXuyên thì có 1 cô em đến cho nhà tôi hay “Em mới vừa thăm ba em ở tù ngoài Bắc vừa về. Ba em cho biết Bác sĩ Bình đang ở cùng trại với ba em, và bác sĩ Bình bịnh rất nặng, bà bác sĩ đi thăm mau đi, kẻo không kịp”.
Tin này loan ra mau, rất nhiều người thân đến giúp nhà tôi chuẩn bị đồ đạc để gấp rút ra thăm tôi. Cùng lúc trong bịnh viện có 1 bịnh nhơn già bị thổ huyết nặng vì loét bao tử. Nhà tôi mổ khẩn cấp. Hôm sau trước khi về Saigon để ra Bắc, nhà tôi vào bịnh viện hậu phẫu thăm ông. Con ông cám ơn nhà tôi: “Nghe nói bác sĩ sắp ra thăm ông ở ngoài Bắc, tôi có thể giúp bác sĩ mua vé máy bay”. Thời buổi này mà đòi đi thăm chồng bằng máy bay thì chuyện không tưởng, nhà tôi không chú ý lắm. Cho tới khi tới ga xe lửa Saigon mua giấy, thì được bảo rằng phải đăng ký 1 tuần lễ mới có vé, nhà tôi mới đến nhờ mua vé máy bay, và mua được 2 giấy cho cả 2 mẹ con ra Bắc. Hôm sau nhà tôi và thằng con trai được cô B, một bịnh nhơn cũ đến đưa ra phi trường. Tại đây công an đòi phải xuất trình thẻ công nhân vì trên vé máy bay ghi tên nhà tôi là công nhân công ty xăng dầu đi công tác ở Hà Nội. Cô B liền bảo nhà tôi đứng chờ, cô chạy lên lầu và trở xuống với 1 cán bộ. Ông này là cháu của cô và cũng là trưởng công an phi trường. Ông can thiệp cho nhà tôi được lên phi cơ. Phi cơ rất dơ và chở toán người ngoại quốc, có lẽ là người Liên Xô.

Tới phi trường Nội Bài cũng hơn 9 giờ tối.Phi trường rất tối và đe dọa. Trên xe ca về Hà Nội có 2 thanh niên trẻ măng mặc quần áo bộ đội, 2 em giúp nhà tôi cất đồ đạc lên xe vì quá nặng nề cho mẹ con nhà tôi.Nhân tiện nhà tôi nhờ 2 em xem 2 địa chỉ nhà tôi được giới thiệu để tá túc trong thời gian thăm tôi, và coi nơi nào thích hợp nhứt. Xem xong, 2 em nói “Địa chỉ thứ nhất thì ở giữa Thủ đô nhưng ở tận từng 5 không tiện vì khi chị lên đến đó và trở xuống thì đồ đạc bị chúng khuân đi mất rồi. Địa chỉ thứ hai thì ở ven đô thành tiện hơn và phải đi xe hơi”. 2 em phụ chất đồ lên xe lôi, 1 loại cyclo như trong Nam, nhưng không có gối có đệm.Nhà tôi gởi 2 em một chút tiền để dùng café, 2 em tuyệt nhiên từ chối: “2 em giúp chị vì thấy đồ đạc quá nặng nề, thế thôi”.

Nhà tôi đến nơi, thì đây là một căn nhà rất nhỏ, phía trước chưng bán tạp hóa, phía sau là một cái phản để làm giường ngủ. Anh chủ nhà bảo: “Cô là bạn của cô Minh nhờ chúng tôi giúp đỡ. Như cô thấy chỗ chúng tôi quá chật. Thật tình nếu cô không ngại, chúng tôi sẽ đưa cô đến một người bà con ở ngoại ô, cô có thể tá túc được”.Ông mới cho 1 em bé gái đạp xe hướng dẫn bác xe lôi chở mẹ con nhà tôi đến NgãTư Sở (về sau chúng tôi cố tìm đến để tạ ơn thì không thể tìm ra, Hà Nội biến đổi quá nhanh). Nơi đây là một nhà xưa, có 2 chái. Chủ nhà vui vẻ cho trú ngụ. Nhà giữa thì có 2 phản cho 2 vợ chồng và 2 con. Bà cụ của chủ nhà ở 1 chái, bên chái kia thì vợ chồng em chủ nhà ở. 2 đứa con bị đuổi đi sang qua ở bên chái của vợ chồng người em, để chỗ cho mẹ con nhà tôi. Khoảng 1 giờ đêm, nhà tôi nghe lục đục ở trước và tiếng xì xầm. Ông chủ nhà làm ca đêm vừa về. Sáng ra anh chủ nhà cũng tên Tường trùng tên với nhà tôi bảo: “Cô ra thăm chú ấy ở Phủ Lý, đồ đạc nhiều quá, chuyên chở bất tiện, nếu cô không gấp thì chờ tôi vào sở xin phép nghỉ, ngày mai tôi chở giúp cô vào thăm”. Hôm sau ông cùng người em rể và 1 người bạn chở vợ con tôi vào trại Mễ. Tới nơi, sau khi chờ đợi khá lâu thì được cho biết không có giấy phép thăm nuôi thì họ không cho thăm. Anh Tường phải năn nỉ mãi thì mới được cho biết tôi không còn ở trại Mễ nữa và đã được chuyển vào trại A Nam Hà. Anh Tường bảo: “Trại A ở đường đi Chi Nê, nhiều đồi dốc khó khăn, cô và cháu chịu khó ghì chặt, mình ráng vào cho kịp giờ”. Khổ nhọc lắm chúng tôi cũng đến được trại A, để được cho biết đã hết giờ thăm nuôi. Anh Tường lại năn nỉ: “Cô em tôi ra thăm chú ấy, tôi phải nghỉ phép để đưa cô đi, xin đồng chí thông cảm cho cô thăm chú”. Nhưng vô ích. Nhà tôi quá mệt mỏi và thất vọng, ngồi bẹp xuống đất, nón lá che đầu. 1 công an trẻ đến khều trên nón lá, và ngoắc nhà tôi đến 1 góc phòng. Tưởng là họ muốn làm tiền, nhà tôi đến và được hỏi nhỏ: “Phải nhà chị có tên Nguyễn Vĩnh Bình không? Anh ấy được thả rồi”.Nhà tôi mừng quá cho anh Tường hay, đồng thời nói với anh công an trẻ: “Cho tôi tặng lại anh các gói hàng này, tôi không rinh về được”. Anh công an trẻ vội nói: “Ấy chết, tôi mà nhận,bọn họ biết tôi cho chị tin thì tôichết với họ”.

Chúng tôi lại trở về Hà Nội. Anh Tường đưa nhà tôi lên Bộ Cải Tạo để xác nhận tin tôi được thả về.Nơi đây bảo tuần sau trở lại sẽ có kết quả. Suốt thời gian chờ đợi, chị Tường đưa nhà tôi đi quanh Hà Nội. 1 hôm chị bảo: “Hôm nay cô Tường và cháu đi thăm viếng lăng Bác nhé!” Nhà tôi chối từ. Chị Tường nói: “Ậy, mình đi để được mua mỗi người 1 mẩu bánh mì giá rẻ cơ”. À thì ra thế, người ta bỏ ra một ổ bánh mì rẻ tiền để dựng được huyền thoại lòng sùng kính của quần chúng với lãnh tụ vĩ đại, và để tha hồ tuyên truyền với toàn dân thế giới.

Tuần lễ đã qua, anh Tường và nhà tôi trở lại Bộ Cải tạo và được xác nhận tin tôi đã được thả. Trên đường đi “đăng ký” vé máy bay, anh Tường nói: “Tôi khuyên, có chú ấy được về, cô chú sớm tìm đường ra nước ngoài. Tôi thấy cháu kháu khỉnh tôi thương quá,cháu sẽ không được đi học, không có một tương lai trong xã hội này”. Anh Tường khuyên thành thật. Về sau chúng tôi được tin buồn, anh Tường và con trai bị bắt khi tìm đường vượt biên ở Hải Phòng. Trong xã hội độc tài, nhà tù mà chúng tôi sống qua được là cũng nhờ vào lòng tốt, và tình người cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Trong gian nan khốn khó, lòng nhân đạo được cảm nhận sâu xa và đầy đủ nhứt. Chúng tôi là những nhân chứng sống.

14- Một chuyến ra đi:
Về lại Saigon, chúng tôi quyết định, tôi sẽ ở lại cùng với ba má nhà tôi và nhà tôi tiếp tục làm việc ở LongXuyên, để tiện việc lo vượt biên.Tháng 4/1980, chúng tôi được cố Giám Mục (N.K.Ng) Long Xuyên sắp xếp cho đi vượt biên cùng với tổ chức của ông S. Ông này đã tổ chức thành công nhiều chuyến. Chuyến này là chuyến chót. Ông đem hết gia đình trên 2 chiếc ghe chở khoảng 210 người. Chúng tôi ra đi vào cuối tháng Tư.Ngày trước có giông bão cấp 4.Sáng ngày đi, trời còn âm u và mưa lất phất. Chúng tôi chuyển xuống ghe lớn an toàn, và sau 2 ngày 2 đêm chúng tôi tới Khlong Giai, tỉnh Thái ở sát biên giới Cao Miên. Chúng tôi vào trại tỵ nạn Liêm Sỉnh.

Chúng tôi bị trở ngại khi đi phỏng vấn với phái đoàn INS. Chị hai của nhà tôi hình dáng nhỏ thó rất khác với nhà tôi,quá nhút nhát không chịu trả lời phỏng vấn viên, nên hồ sơ tỵ nạn bị xếp lại. Cũng may, nhờ có 1 nhân viên tòa Đại sứ Mỹ ở BangKok chuyển gia đình chúng tôi về trại Lumfuini ở Bangkok.Tại đây, 1 cô tình nguyện viên làm thân với nhà tôi, và dẫn ông chồng đến gặp chúng tôi. Ông này là người phụ trách toàn chương trình định cư của Mỹ ở Thái Lan. Ông đã giúp chúng tôi nhanh chóng hoàn tất thủ tục để định cư ở Mỹ. Lại một lần nữa, gia đình chúng tôi đón nhận lòng tốt và nhiều sự giúp đỡ trên đường đi tỵ nạn từ nhiều người, thân, lạ, đều có đủ. Đầu tháng Giêng 1981, 11 giờ đêm, phi cơ phản lực American Airway cất cánh, đem chúng tôi lên cao dần,nhìn qua khung cửa,ánh đèn thành phố mờ dần, một quãng đời tôi cũng lùi vào quá khứ, 1 nỗi buồn man mác tràn dâng trong lòng tôi. Phi cơ càng lên cao, ánh trăng bàng bạc soi sáng không trung, lòng tôi thầm cảm tạ ơn Chúa và tri ân lòng tốt và tình người mà nhiều thân, bạn hữu và ân nhân đã tặng cho chúng tôi.

Một vài đám mây nhẹ nhàng trôi, tôi tự nhủ cố gắng sống cho phải đạo để đáp ứng phần nào nghĩa tình mà tôi chắc chắn rồi đây trong khoảng thời gian còn lại, nơi chân trời xa lạ chúng tôi sẽ tiếp tục đón nhận. Con tàu tiếp tục phi đạo vào không gian vô tận, không gian của Tự Do và Tình Người.


Raleigh vào mùa Đông
Nguyễn Vĩnh Bình
Một Y Sĩ Hải Quân đi tù Cải Tạo tại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.