Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, July 30, 2025
Gả Thiếp Về Rừng! - Đoàn Xuân Thu
Đoàn Xuân Thu
Tuesday, July 29, 2025
Một Thời Chinh Chiến Điêu Linh - Nguyên Nhung
Anh là một phóng viên chiến trường, ngoài phần lương khô và vật dụng cá nhân trong ba lô mang trên lưng như bao nhiêu người lính khác, anh còn phải đeo lủng lẳng cái máy quay phim và máy chụp hình trước ngực. Hành trang anh chỉ có thế, mũ sắt trên đầu, cuốn sổ tay trong chiếc túi áo có nắp gắn hai chữ “Báo Chí”, hai tấm thẻ bài, một bộ râu tua tủa vì đã mấy ngày anh theo đoàn quân tiến vào trận địa.
Người lính ra chiến trường đã có cây súng làm bạn, riêng anh, người phóng viên chiến trường đi vào vùng lửa đạn, chỉ vỏn vẹn có chiếc máy quay phim, đã ghi lại biết bao nhiêu hình ảnh trung thực của người lính sống thời chiến chinh gian khổ, trên mọi nẻo đường đất nước.
Tiếng đạn bay líu chíu ngang đầu, anh thầm nghĩ: "Không biết sống chết lúc nào". Chiếc máy quay phim đã thu vào bao nhiêu thước phim giữa mặt trận khi nóng bỏng, lúc âm ỉ đến lạnh người. Ðoàn quân lầm lũi tiến vào rừng dừa trước mặt, phân tán mỏng theo lệnh viên sĩ quan chỉ huy. Những bóng người lầm lũi bước, đôi giày vải ướt sũng trên thửa ruộng xâm xấp nước, đói và mệt, chiếc ba lô trên vai anh như nặng trĩu xuống. Trong bóng chiều nhập nhoạng, thần chết như rập rình chiếc lưỡi hái trên thân phận người lính, cơn mưa chiều luồn những giọt tái tê vào lòng người chiến sĩ.
Anh nhớ lại trận đánh ở vùng Thới Lai, Cờ Ðỏ vào mùa mưa năm trước, trong một vùng dầy đặc cỏ lác và sông rạch. Không phải lần nào quân ta cũng thắng. Ðêm ấy, anh bị mất phương hướng, giữa bóng đêm chập chùng và ánh trăng khuya mờ ảo, anh lần mò ra được đường cái, ở đấy có một ngôi chùa nằm chơ vơ ven quốc lộ. Dưới ánh trăng mờ, ngôi chùa âm u không một ánh đèn, không một tiếng chuông tiếng mõ, chỉ có mùi dìu dịu của hoa sứ phảng phất giữa đêm khuya. Ðã mấy ngày mà trận đánh chưa kết thúc, sự yên tĩnh tạm thời để chờ một cuộc đụng độ tiếp theo, dân chúng hầu như đã tản cư ra quận lỵ, hoặc chạy theo phía bên kia vào những làng mạc xa hơn.
Ngôi chùa tương đối nằm ở khu khá yên tĩnh giữa hai lằn đạn, nhưng không có bóng dáng người dân nào ở đó. Trong bóng tối mờ mờ và yên lặng, anh lần mò men theo mấy bụi cây thấp trước cổng chùa, anh nhìn thấy nhiều thân người nằm la liệt trên sân, im lặng như một bãi tha ma. Họ đang ngủ, quá mệt mỏi cho nên anh chỉ kịp cởi ba lô vứt xuống đất, rồi cứ thế nằm vật xuống bên cạnh một người lính. Anh cần ngủ hơn tất cả mọi thứ trên đời, dù chưa ăn uống gì nhưng anh không cảm thấy đói, chỉ có giấc ngủ mới làm anh tạm quên đi tiếng đạn réo, tiếng bom rơi, tiếng đại bác rền rĩ trong những giờ phút căng thẳng của chiến trường. Anh thiếp đi thật mau, trong lúc ngủ mê hình như anh có đạp chân vào người lính kế bên nhưng không nghe tiếng chửi thề, hạnh phúc nhất của người lính có lẽ là những phút giây hiện tại, tạm quên đi nỗi nguy hiểm, cận kề với nỗi chết.
Chưa bao giờ anh có một giấc ngủ ngon lành đến thế. Không chiêm bao mộng mị, không giường, không chiếu, chỉ có một mặt đất ẩm lạnh và bầu trời nhấp nháy sao đêm. Gió đêm như được ướp mùi hương của những bông hoa sứ làm loãng đi mùi gì tanh tanh giống như mùi máu.
Sáng ra, ánh mặt trời rọi vào mặt anh khiến anh thức giấc, chim chóc hót líu lo chào một ngày vừa lên, sự sống của muôn loài vẫn diễn ra bình thường dù chiến tranh và sự chết đang hiện diện quanh quất, đó đây. Anh hoàn toàn tỉnh giấc, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng, rồi lạ lùng ngó đám người nằm ngủ trên sân chùa, chợt một cảm giác lạnh toát chạy dài trên sống lưng người lính. Giờ thì anh đã hiểu, đêm qua anh đã ngủ một giấc ngủ tròn trịa và yên bình bên những người lính tử trận, xác họ ngày hôm nay sẽ được chở về nhà xác trên tỉnh lỵ, chờ thân nhân đến nhận.
"Không phải lúc nào ta cũng thắng", anh nghĩ như vậy khi nhìn những tử thi nằm lạnh lẽo suốt đêm trên sân chùa. Chiến tranh là vậy, thắng hay thua thì bên nào cũng có người nằm xuống, có những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ, chỉ có điều thật buồn khi tất cả đều là người Việt Nam. Anh nghe có tiếng bước chân nhẹ nhàng của một tà áo đà lướt bên hiên chùa, và mùi nhang thoảng bay trong gió. Một vị sư già có lẽ là người duy nhất còn lại nơi đây, đang cầm một nắm nhang ra cắm xuống trước những thây người nằm la liệt dưới sân chùa, miệng lâm râm niệm Phật. Ðôi mắt nhà sư thoáng một vẻ ngơ ngác và sợ hãi, khi nhìn thấy một người sống đang ngồi thu lu giữa đám người chết, cả hai cùng im lặng không nói được lời nào.
Năm 1969, anh theo cuộc hành quân miền biên giới giữa Campuchia và Việt Nam, Cộng quân đang cố thủ trong vùng núi Cô Tô, Châu Ðốc. Người phóng viên chiến trường hơn ba mươi tuổi, đang độ chín muồi của nghề nghiệp, hăng say lao vào vùng lửa đạn khi Cộng quân dùng Campuchia làm bàn đạp thôn tính miền Nam.
Gia đình anh gốc gác miền Bắc, cả một thời ấu thơ và thanh niên anh gắn bó với quê nhà, may mà năm 1954 anh nhanh chân chạy thoát. Bố anh chết ngay năm đó, tất cả gia tài, sự nghiệp bỗng dưng mất hết trong một ngày khiến người cha phẫn chí mà chết. Mẹ anh dẫn ba đứa em dại, đầu quấn khăn tang lếch thếch lên chuyến tàu há mồm xuôi Nam. Một cuộn phim của dĩ vãng vừa hiện về trong trí anh, căn nhà gạch hai gian bề thế phố Cửa Tiền, rặng bàng trước cửa, hoa gạo đỏ mùa hè, giếng nước Tiền Hùng, cái ao sau nhà xanh um khóm chuối ngự, cả một tuổi thơ đầm ấm và mối tình đầu tuổi thanh xuân nằm lại sau lưng cho một tất tả bỏ chạy.
Từ trên máy bay trực thăng anh nhảy xuống theo gót chân người sĩ quan chỉ huy, máy quay phim chạy rè rè thâu vào hình ảnh núi non chất ngất, những người lính chạy lúp xúp nép vào những bờ đá cao tiến tới. Ðịch bắn ra như mưa, viên đạn đi ngọt như cắt từ một hốc núi bay thẳng tới ngực anh, anh chưa thấy đau vì tầm đạn đi nhanh quá khiến anh ê ẩm như bị một viên gạch ném tới đột ngột. Cho đến khi anh thấy ấm ấm và rát bỏng trên ngực áo, máu đã ướt thẫm hai chữ Báo Chí trên chiếc áo nhà binh. Anh loạng choạng ngã xuống với thước phim đang quay dở, chỉ kịp nhìn thấy loà nhoà hình ảnh người lính cứu thương bế anh lên chiếc trực thăng tải thương, đang phần phật đôi cánh quạt trên một vùng cỏ xanh.
Lần ấy viên đạn đi cách tim anh
khoảng hai cm, nếu không giải phẫu kịp, máu ứ đầy phổi có lẽ anh đã nằm xuống
ngay tuổi ngoài ba mươi. Anh thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, phải nằm trong
Quân Y Viện mấy tháng trời, để được nhìn thấy sự hy sinh và đau đớn tận cùng
của người lính trong thời chiến. Những hình ảnh ấy vương vấn trong hồn anh, mãi
mãi về sau, tim anh vẫn thắt lại khi bất chợt hôm nào nhìn thấy trên vỉa hè,
người thương binh lê đôi nạng gỗ, khập khễnh bước khi đôi mắt chất chứa nỗi bất
hạnh cho cả một tương lai.
Năm 1972, mặt trận lại sôi động ở vùng biển Long Toàn, Trà Vinh. Bom đạn rền rền át cả tiếng sóng biển rì rào, người dân Khờ Me sống ở những làng mạc hiền hoà với chùa chiền cổ kính, lại vội vã bỏ vùng quê đi lánh bom đạn. Nhà cửa đổ nát, vườn tược tan hoang, anh ứa lệ nhìn hai đứa bé lạc mẹ, mặt mày nhem nhếch nước mắt, nước mũi giữa cảnh khói lửa tơi bời. Giữa vùng giao tranh, chỉ có lằn đạn líu chíu trên đầu người thường dân vô tội, quê hương mình sao khốn khổ đến thế.
Anh nhớ lại một ngày năm 54, năm ấy anh mới mười tám tuổi và đứa em út mới lên sáu, mẹ anh trắng hai bàn tay làm lại cuộc đời trên miền Nam tự do. Những buổi chiều gió mưa, mẹ con ngậm ngùi nhớ về quê nhà. Khu phố êm ả có rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, những buổi chợ phiên người trong các làng quê kĩu kịt gánh hàng ra chợ Nghệ.
Người phóng viên chiến trường đâu phải lúc nào cũng ngồi trên máy bay, đâu phải lúc nào cũng theo đuôi Tư Lệnh để quay cảnh chiến thắng, gắn huy chương lên ngực áo người chiến sĩ. Anh đã phải ngắm nhìn chiến tranh như phải xem một bức tranh vẽ bằng máu, thâu vào hình ảnh và sự chiến đấu cam go của người lính nơi vùng lửa đạn. Trong khi ấy, chiến tranh quả là khó hiểu, những bàn tay giấu mặt như mụ phù thuỷ đang vẽ vời những lời nguyền rủa sấm sét xuống quê hương anh. Chiến trường này tiếp nối đến chiến trường khác, những cuộc hành quân liên miên từ tháng này qua tháng nọ, nghĩ đến đời sống gian khổ của người lính trong vùng đóng quân đầy những rủi ro bất trắc, anh chỉ ao ước một ngày nào chiến tranh chấm dứt. Một ngày nào đó những thước phim của anh chỉ là hình ảnh nụ cười dễ thương của trẻ thơ, là nét mặt vui tươi của người lính giữa khung cảnh ấm cúng của gia đình, là đôi mắt hấp háy của mẹ già không ứa lệ, khi đêm đêm vẫn thì thầm cầu nguyện sự an bình cho những đứa con.
Anh phóng viên chiến trường giơ ống kính lên, thâu bằng cận ảnh hai khuôn mặt ngây thơ, bốn con mắt ngơ ngác giữa khói lửa mịt mù của hai đứa trẻ thơ mà anh bắt gặp, khi cuộc chiến không bao giờ tính toán được sự bi thảm của nó. Những đôi mắt trẻ thơ sợ hãi, ngác ngơ khi địch quân dùng khu vực nhà dân làm bàn đạp để tiến quân, hai đứa bé còn lại khi cha mẹ chúng có thể đã ngã xuống bởi những lằn đạn vô tình.
Tình cảm giữa người và người bắt anh phải quên đi những thước phim, những tấm hình giá trị khi lọt vào tay bọn thông tấn nước ngoài. Hai tay bế hai đứa bé anh băng ra khỏi khu nhà đang rần rật cháy, giờ phút ấy anh chỉ có một ý nghĩ phải mang hai đứa bé ra khỏi vùng giao tranh, dù có thể lãnh một viên đạn của đối phương.
Suốt một đời làm lính và xông pha
nơi những chiến trường nóng bỏng, anh phóng viên chiến trường đã bao phen đối
mặt với tử thần. Anh còn bị thương một lần nữa trước khi chiến tranh kết thúc,
chiếc máy bay trực thăng bị hỏa tiễn tầm nhiệt bắn trúng đằng sau đuôi, như một
khối sắt khổng lồ rớt xuống cánh đồng ngập nước vùng Ðồng Tháp Mười. May là
Thượng đế đã che chở anh, đã cho anh trở về với một xác thân lành lặn.
Ngày chiến tranh kết thúc, một kết thúc bi thảm khiến anh hụt hẫng. Người lính bại trận trở về miền quê với những vết đau âm ỉ mỗi lần nhớ đến bạn đồng đội cũ. Trong những chiều gió mưa, lòng anh bùi ngùi khi hồi tưởng đến một khoảnh khắc nào đó, bóng dáng những người lính năm xưa giờ như những bóng ma buồn bã trong dĩ vãng, và anh lặng lẽ nghe những giọt nước mắt buồn tủi chảy ngược vào tim buốt lạnh.
Từ đây cuộc đời bắt đầu là những
chia xa, bạn bè anh tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Có những người nằm xuống
trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, đã bị quên lãng với mồ hoang mả lạc. Có những
người ra đi làm cánh chim cô đơn, gậm nhấm nỗi sầu vong quốc. Có những
người đi vào chốn lao tù với đói khát triền miên, khi trở về chỉ là những chiếc
bóng ngác ngơ, sợ hãi cả tiếng bước chân của chính mình.
Sau ba mươi năm ngày chiến tranh kết thúc, người phóng viên chiến trường năm xưa nay đã già, ngồi bán cá kiểng, cá đá cho trẻ con trước khuôn viên một trường Tiểu Học, cạnh ngôi giáo đường cổ kính. Mỗi lần nghe tiếng chuông ngân ban chiều, anh lại thì thầm đọc mấy câu kinh cho những linh hồn đã khuất.
Gia tài của anh chỉ có một hồ cá bằng thủy tinh với những con cá đủ màu bơi lội nhởn nhơ. Cả một xã hội cá quây quần bên nhau lượn lờ tranh sống, những cọng rong xanh, vài con lăng quăng sót lại từ bữa ăn chiều. Anh chép miệng, bầy cá đã no rồi, chứ lúc đói chúng nó cũng tranh nhau đớp mồi như đám người khốn khổ chen nhau chờ phát chẩn. Lúc này anh đâm lẩn thẩn như thế, chuyện cá chuyện người cứ lẫn lộn trong con mắt người phóng viên đã hết thời
Lúc ấy trời đã về chiều, hai đứa bé đánh giày độ trên mười tuổi vào hàng, ngắm nghía mấy con cá lia thia được rọng riêng trong những chiếc keo thủy tinh trên bệ gỗ, giữa mỗi cái keo đều có một tấm giấy cứng để che cho chúng khỏi nhìn thấy mặt nhau. Mỗi đứa chọn một con, chúng thò tay vào túi lôi ra những đồng tiền nhàu nát, đưa cho người bán cá. Hai thằng nhỏ bày ra cuộc đá cá ngay cửa hàng của người bán cá, tự nhiên anh cũng cảm thấy hào hứng muốn theo dõi trận đá cá của hai đứa trẻ con. Không biết ở đâu lố nhố mấy đứa trẻ nữa quần áo bẩn thỉu, chân đi đất, xúm vào bu xung quanh hai thằng nhỏ đánh giày, khiến anh tự nhiên hồi hộp như ngày xưa mỗi lần theo đoàn quân vào vùng lửa đạn.
Hai con cá trong một cái keo, không biết thù nhau tự kiếp nào xông vào nhau, hai cái thân cá mình xanh vây đỏ lúc ấy phồng lên những chiếc vảy óng ánh, mình chúng như to ra qua thành thuỷ tinh, xoắn lấy nhau đẩy ra những cú húc tơi tả. Lũ trẻ vây xung quanh nín thở, hai con cá lia thia mê mải tấn công nhau, thỉnh thoảng chiếc mỏ cá lại va vào thành keo đau điếng. Sau một lúc quần nhau dữ dội, một con như ngộp thở ngoi lên mặt nước hớp không khí, cái mình cá vảy óng ánh màu xanh nay đã nhợt nhạt như màu miếng vỏ dưa cố chạy thoát thân, lũ trẻ đứng bên ngoài vỗ tay hét rộ lên những tràng cười khoái chí.
Tan cuộc, hai thằng nhỏ đánh giày bỏ
hai con cá cho người bán cá, bưng hộp đồ nghề đi về ngả thành phố, chỗ “hotel”
và mấy quán rượu có đông người ngoại quốc và đám Việt kiều về thăm quê. Trời
giăng giăng những đám mây đen khiến phố xá chừng như tối sầm lại, bất giác anh
chợt nhớ đến cơn mưa đầu mùa của Tháng Tư năm nào làm lòng quặn lên một nỗi
buồn. Tự nhiên, người phóng viên chiến trường năm xưa cảm thấy ngùi ngùi, tưởng
mình như con cá bại trận manh giáp tả tơi, bị vứt lại bên lề đường một cách
thảm thương.
Tội nghiệp anh, những cuộn phim của dĩ vãng như run rẩy theo làn khói thuốc, anh bập hoài điếu thuốc đen trên môi, những móng tay cáu vàng ám khói. Cơn mưa chiều đột ngột đổ xuống rơi lộp độp trên tấm Poncho nhà binh che trên vỉa hè, gõ những nhịp trống vào đầu khiến anh nghĩ đến những cơn mưa nơi vùng hành quân năm xưa, khi anh còn là một người lính.
Anh tưởng tượng lát nữa đây khi về
nhà, với âm thanh hùng hồn của một ngày nào rất xa, anh sẽ tường thuật cho đứa
cháu ngoại nghe trận đá cá chiều hôm nay trước cửa trường học. Hai con cá cùng
một loại đá nhau chí tử, một con thắng nhưng cũng ê ẩm, lòng vòng trong chiếc
keo thủy tinh chật hẹp, không hy vọng đá nổi một trận nữa, một con bại anh
quăng ra mặt đường, đã nát mình dưới những vòng xe lăn.
Phố đã lên đèn, anh thu dọn cửa hàng
để về nhà mà lòng nặng trĩu một nỗi buồn không tên tuổi. Anh phóng viên chiến trường năm xưa thì thầm nói với
mình, “Hơn ba mươi năm rồi, chẳng biết còn ai nhớ đến mình không
nhỉ?”
Nguyên Nhung
(Viết cho anh tôi, người phóng viên chiến trường)
Monday, July 28, 2025
Đôi Mắt Người Thương - Nguyễn Cát Thịnh
Nó và tôi không xa lạ. Thời sinh viên, tôi là gia sư của anh em
nó. Trái với đứa anh, nó thông minh, có cá tính, nhưng ham chơi biếng học. Tôi
mất nhiều thì giờ dậy dỗ nên nhớ nó rất rõ.
Sau cuộc biển dâu, gặp lại nhau trên đất khách quê người. Dù nó
đã lột xác, tôi vẫn nhận ra.
Thật là thích thú được nghe câu chuyện đời tư của nó.
Tôi chỉ viết lại theo lời kể, không thêm bớt.
Ghi chú: nhân vật xưng “Tôi” chính là nó.
***
TÀI XẾ VÀ THÁNH NỮ
Tôi là một người Việt gốc Hoa. Nhà tôi có 3 anh em. Trên tôi là
anh Hai, hơn tôi gần 2 tuổi. Dưới tôi là gái út, kém tôi 4 tuổi.
Thuở nhỏ, tôi và anh Hai học cùng lớp. Anh sáng dạ, học rất khá. Tôi lười học, chỉ giỏi mầy mò tháo ráp máy móc, thích đánh lộn..
Đến tuổi quân dịch, anh Hai nhận được giấy gọi nhập ngũ. Anh buồn
lắm, nhìn thấy tương lai mờ mịt, suốt ngày than thở. Thương anh phải bỏ dở chuyện
học hành, tôi ngỏ lời tình nguyện đi thay. Tôi và anh hoán đổi lý lịch.
Sau này, dù đáo hạn tuổi, anh vẫn được hoãn dịch, lý do gia cảnh,
vì anh trở thành con trai duy nhất còn lại trong gia đình.
Cha mẹ đồng ý.
Phường khóm chỉ biết chúng tôi với những cái tên ở nhà nên khi tôi cầm giấy tờ của anh trình diện, không ai nghi ngờ. Vả lại, anh em tôi nhìn không khác nhau nhiều.
Sau khi mãn khoá quân trường, ông nội lo lót cho tôi về phục vụ trong ban quân xa của một đơn vị ngoại thành.
Một dịp ngẫu nhiên, tôi được điều động đi sửa chữa khẩn cấp xe jeep của một vị sĩ quan cấp tá chết máy khi đang trên đường công tác. Thấy tôi nhanh nhẹn, tay nghề vững chắc, vị sĩ quan rất hài lòng. Mấy tuần sau tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm tài xế cho vị sĩ quan đó.
Cuộc đời tôi bước vào một ngã rẽ, và số mệnh đã được định đoạt từ đây.
Ngoài công tác lái xe, tôi được ông Tá (tên vị sĩ quan) xem như
người nhà. Khi rảnh rỗi, tôi tình nguyện giúp sửa chữa những việc lặt vặt tại
tư gia của ông. Thỉnh thoảng được mời ngồi ăn cơm chung với gia đình.
Ông bà có 4 người con, 2 trai 2 gái. Tất cả đều học trường Pháp. Cô gái lớn tên Sylvie xinh đẹp, có dáng dấp khỏe mạnh tây phương, rất tự nhiên với tôi. Nhưng tôi thì không tự nhiên khi tiếp xúc, có cảm tưởng cô chỉ xem tôi như một gia nhân. Tự ti mặc cảm, tôi chấp nhận, không thắc mắc.
Một ngày nọ, bà Tá bận việc không đón cô tan học như thường lệ
nên ông Tá nhờ tôi.
Hôm đó trời mưa tầm tã suốt buổi.
Chiếc xe jeep nhà binh không có vạt che 2 bên, mưa tạt mạnh vào
trong. Trông cô như một tài tử đang diễn cảnh vừa rơi xuống hồ bơi mặc nguyên
quần áo, bước lên xe. Run rẩy.
Chiếc chemise trắng và chiếc jupe vàng dán sát làm phông, nổi bật
nội y. Lồ lộ một bông hoa đang hé nở. Toàn thân phác họa sẵn những đường nét
hình thành một thần vệ nữ tương lai.
Tôi không ướt nhiều mà cũng run rẩy. Mặt nóng bừng bừng, mê man
trong cơn sốt ảo.
Chỉ đến khi cô nhắc cho xe chạy tôi mới sực tỉnh.
Tôi cởi chiếc áo khoác lính đưa cô che đậy. Tránh ánh mắt nhìn hau háu, chiêm ngưỡng, ghen tỵ của những chàng trai qua đường.
Tôi sung sướng suốt mấy ngày. Cười nói huyên thuyên. Chiếc áo khoác tôi treo sát đầu giường, không bao giờ phơi, không bao giờ giặt. Hương thơm phảng phất cho tôi quên hết mệt nhọc sau ngày dài làm việc và ban đêm dìu tôi vào giấc ngủ dễ chịu êm ái nhất.
Hình ảnh hôm ấy của cô khắc sâu trong tâm trí. Nếu là họa sĩ tôi có thể vẽ không thiếu một chi tiết.
DI TẢN VÀ ĐỊNH CƯ
Ngày di tản. Dòng người hối hả chen lấn xô đẩy khi chiếc máy bay chưa kịp ngừng hẳn. Tôi xách 2 chiếc vali định trao cho ông Tá rồi trở về nhưng bị chèn ép, không thoát ra được. Bị nhét vào bên trong máy bay, trở thành người di tản bất đắc dĩ.
Chúng tôi được định cư ở Grand Rapids thuộc tiểu bang
Michigan.
Tại Mỹ, tôi hội nhập dễ dàng hơn gia đình ông bà. Hội nhà thờ giới thiệu tôi và ông Tá làm công nhân trong một xưởng sản xuất phụ tùng xe hơi. Tôi học thêm nghề hàn, sống khá thoải mái. Bà Tá vẫn còn hoài niệm mệnh phụ phu nhân, không chấp nhận lao động chân tay. 4 người con được xếp vào các lớp học theo độ tuổi.
Trong hãng xưởng có nhiều công nhân Việt Nam thuộc đủ mọi thành
phần xã hội. Buổi ăn trưa chúng tôi thường tách thành nhóm riêng, nói tiếng Việt
rôm rã.
Một hôm, có một thanh niên không hiểu sao sừng sỏ, nói bóng gió,
ở VN làm tướng làm tá hách dịch, qua đây thằng nào cũng như thằng nấy, cũng cu
li như nhau. Tôi không dằn được cơn giận, định dậy cho anh ta một bài học nhưng
ông can ngăn.
Tôi lớn tiếng, ông thầy tôi đã ngã ngựa nhưng vẫn khí khái.
Không nề hà công việc nào, miễn là lương thiện, anh phải kính phục hơn là khinh
thường. Hơn nữa tuổi của ông ta bằng tuổi cha chú của anh, anh không được hỗn
xược gọi ông là thằng.
Mọi người vỗ tay hoan nghênh, anh ta xấu hổ bỏ đi, từ đó bị tất
cả xa lánh.
Ông Tá lủi thủi bước, cúi mặt, nói với chính mình, “Thằng ông lưu vong ơi, đã đủ nhục chưa?”.
Cô Sylvie bỏ học, theo đám bạn bè cùng lứa, sống bầy đàn khiến ông bà phiền lòng không ít. Ông vốn sống lặng lẽ lại càng lặng lẽ. Tôi là người duy nhất hầu chuyện ông, giúp ông khuây khỏa.
Có lần ông nói với bà mà tôi vô tình nghe được, phải chi con
Sylvie chịu lấy thằng … thì đâu đến nỗi.
Bà trừng mắt nói, ông muốn gả con gái ông cho ai? Cho nó ư? Nó
chỉ là thằng lính tài xế!
Ông nhỏ nhẹ, tuy thế nó biết trên dưới, biết lễ độ, biết chí thú làm ăn, không khá hơn cái đám bạn bè ăn chơi của con bà ư?
Tôi không khỏi suy nghĩ. Tự nhủ, phải quyết tâm tìm chút công danh cho mở mắt với đời. Tôi dành thời giờ buổi tối, ôn luyện chương trình trung học. Sau đó nhờ bà láng giềng tốt bụng hướng dẫn ghi danh học ở Kalamazoo Valley Community College 2 năm và tiếp theo 2 năm nữa ở University of Michigan-Flint.
Bốn năm học tập vất vả rồi cũng qua. Tôi nhận được văn bằng tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kỹ thuật Cơ khí. Ông Tá chúc mừng, đãi tôi bữa cơm thân mật. Ông nói với bà:
-Bà thấy chưa? Mỹ là đất nước của cơ hội. Mọi người đều bình đẳng. Có ý chí phấn đấu sẽ thành công. Từ thằng tài xế nó đã trở thành ông kỹ sư. Không tiến thủ, ỷ lại, sẽ bị bỏ rơi phía sau như con gái bà. Đấy! Cô tiểu thư của bà, dân trường tây trường đầm bây giờ có ra gì!
Bà Tá tỏ vẻ bất cần, không đáp trả.
Tôi tìm được công việc mới, phù hợp với khả năng. Ông Tá thay đổi
công việc vài lần rồi tới tuổi hưu trí.
Mỗi cuối tuần tôi đều rủ ông đi uống cà phê, đi câu cá, đi ăn
ngoài hoặc đi gặp các bạn già của ông.
Ông rất quý mến tôi. Riêng tôi vẫn kính trọng ông như ngày xưa, nói với ông, tôi lúc nào cũng là lính của ông.
Tôi âm thầm theo dõi sinh hoạt của cô Sylvie, vẫn tôn thờ thánh
nữ của tôi. Đồng thời cùng chia sẻ sự lo lắng của ông bà Tá.
Tôi hứa với cô, bất cứ khi nào cô cần đều có tôi, không điều kiện. Những lần cô gọi tôi giúp giải vây đám côn đồ, tôi đều hăng hái. Cô xem đó như là nhiệm vụ của tôi phải bảo vệ cô. Buồn ít nhưng vui nhiều.
ĐÔI MẮT NGƯỜI THƯƠNG
Những năm sau này tôi nhận ra mắt thường bị khô, cộm. Đôi lúc nhạy
cảm với ánh sáng, nhất là với ánh sáng chói. Tôi nghĩ, có lẽ do hậu quả của thời
gian làm nghề hàn nên không quan tâm.
Tôi hối hận đã không mua thêm bảo hiểm cho dịch vụ khám mắt định
kỳ, ngoài Medicaid của tiểu bang. Nếu được phát hiện sớm tôi đã không lâm vào
hoàn cảnh ngặt nghèo.
Cho đến khi thị lực giảm, nhìn mờ. Soi gương thấy có đốm trắng
trên giác mạc, tôi hoảng hốt, đến bệnh viện nhãn khoa khám thì tỉnh trạng đã
khá nghiêm trọng.
Bác sĩ chẩn đoán thoái hóa giác mạc nặng, thị lực có thể suy giảm
theo thời gian. Nguy cơ mù vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời.
Các loại thuốc nhỏ mắt và thuốc nhỏ nước mắt nhân tạo chỉ giúp
giảm khô mắt và bảo vệ giác mạc tạm thời.
Hai giải pháp được bác sĩ đưa ra. Hoặc cấy ghép mô nhân tạo bằng
phương pháp hiện đại giúp tái tạo giác mạc, hoặc phẫu thuật ghép giác mạc của
người hiến tặng. Giải pháp thứ hai có lẽ thích hợp với tôi hơn, nhưng danh sách
chờ ghép quá dài, vi hiếm nguồn hiến tặng.
Tôi được giới thiệu ghi danh tại chi nhánh của tổ hợp “Northwest Eye Surgeons” ở Chicago, với hy vọng rất mỏng manh.
Tin dữ ập đến với gia đình ông bà Tá. Cô Sylvie bị tai nạn giao
thông! Tình trạng nguy kịch. Bệnh viện tiên liệu xấu, khó qua khỏi. Gia đình họp
khẩn cấp. Không ai giữ nổi bình tĩnh ngoại trừ ông Tá.
Tôi nghe tin mà bất lực, mắt đã mờ hẳn, không thể di dịch xa như ý muốn. Cậu em trai của cô chở tôi đến bệnh viện gặp mọi người.
Cô Sylvie đã chết não. Bà Tá khóc lóc thảm thiết, ôm con nói
trong nước mắt ràn rụa, con tôi chết trẻ, chết oan uổng, làm sao có thể nhắm mắt.
Ông Tá nghe thế, đột nhiên có một ý nghĩ nảy sinh trong đầu. Ông
đề nghị hiến giác mạc của cô Sylvie cho tôi để cặp mắt của cô sẽ sống mãi.
Bà Tá không đồng ý nhưng dưới áp lực và lời khuyên chân thành cuối
cùng chấp nhận.
Quá bất ngờ, tôi không kịp suy nghĩ, bất động, cảm kích không nói nên lời.
Việc lấy giác mạc phải được thực hiện trong vòng 6-24 giờ sau khi người hiến qua đời để bảo đảm chất lượng mô nên xe cứu thương đưa xác cô Sylvie và tôi đến bệnh viện nhãn khoa “Northwest Eye Surgeons” tức thời.
Cuộc phẫu thuật thành công như mong đợi. Ghép giác mạc là một phẫu
thuật ngoại trú.
Sau khi theo dõi vài giờ, không thấy có nguy cơ biến chứng, tôi
đã được xuất viện cùng ngày. Phải giữ băng mắt trong 2 ngày và dán nắp kính bảo
hộ khi ngủ, để tránh vô tình chạm dụi mắt.
Sau 2 ngày thì tháo băng. Không có cảm giác khó chịu và sưng nên
tôi lại nhờ cậu em trai đưa về nhà ông bà Tá để cảm ơn tấm lòng nhân đạo bao la
của ông bà và cũng để đến trước di ảnh cô Sylvie thành tâm tưởng nhớ.
Ông bà muốn xem đôi mắt tôi nhưng không được vì vẫn còn mang kính do nhạy cảm với ánh sáng và chảy nước mắt. Chỉ khi thị lực ổn định mới được để mắt trần.
Điều kỳ lạ, mỗi khi nhìn vào gương, tôi không thấy chính mình,
mà thấy hình bóng cô Sylvie. Đôi mắt ấy, cái nhìn ấy – là của cô!
Mỗi lần nhắm mắt, tôi đều cảm nhận như cô vẫn ở bên cạnh, cười với tôi, nói chuyện với tôi bằng chính đôi mắt đó.
Bà Tá vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận sự thật. Bà không biểu lộ thiện
cảm với tôi vì nghĩ tôi không xứng với con gái bà. Nhưng giờ đây, mỗi lần nhìn
tôi, bà lại thấy đôi mắt ấy – đôi mắt của cô Sylvie, trong veo mà day dứt.
Có lần bà buồn bã nhìn tôi, chợt hỏi:
– Dạo này… con có nhớ Sylvie nhiều không?
Tôi sững lại. Bà chưa từng gọi tôi là “con”. Tôi khẽ gật đầu:
– Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bà ạ.
Bà Tá im lặng nhìn tôi. Gọi tôi là con nhưng có bao giờ bà xem tôi như con đâu. Giờ đây, từng ánh nhìn, từng cử chỉ của tôi đều gợi cho bà hình bóng cô Sylvie. Có lẽ, định mệnh đã sắp xếp để chàng trai này cùng chung sống với một phần cơ thể của con gái bà.
Một buổi chiều muộn, tôi ghé thăm nhà. Ông Tá ra mở cửa, vỗ nhẹ lên vai tôi, vẫn ánh mắt ấm áp:
– Vào đi con, lâu rồi sao con không tới ăn cơm với gia đình?
Căn nhà từng đóng kín cửa vì nỗi đau mất con, hôm nay lại mở rộng với tôi. Bước vào, thấy trên bàn thờ di ảnh cô Sylvie, rạng rỡ như ngày nào. Tôi khẽ cúi đầu, thì thầm trong lòng:
-Cô…, cô vẫn đang đồng hành củng tôi trên con đường đời, đúng không?
Ngoài hiên, gió nhẹ lay lay những chùm hoa giấy, nghe như tiếng động gật đầu.
Từ ngày bước vào căn nhà của ông bà với tư cách một người thân,
tôi dần quen với sự hiện diện của bà và ông trong cuộc đời mình.
Bà Tá vẫn không thể gọi tôi là “con rể”, nhưng sự quan tâm của
bà dành cho tôi không khác gì mẹ lo cho con.
Bà kín đáo quan sát tôi. Mỗi lần đến thăm, bà đều cho tôi thưởng
thức những món ăn Sylvie từng thích.
Đôi khi bà hỏi han chuyện công việc của tôi, rồi chuyện nọ chuyện
kia. Nhắc nhở tôi giữ gìn sức khỏe.
Tôi không biết từ khi nào tôi đã trở thành một thành viên của
gia đình ấy.
Mỗi khi ở bên ông bà, tôi cảm thấy gần cô Sylvie hơn, như thể cô vẫn hiện diện đâu đây, qua từng món ăn, từng bức ảnh, từng kỷ niệm nhỏ mà mọi người kể lại.
Sau ca ghép giác mạc, tôi phát hiện ra một điều lạ lùng. Đôi mắt
tôi không chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn mà dường như còn chứa đựng một phần ký ức.
Có những lúc mơ màng, mơ mà như thực. Tôi thấy mình lái xe dưới cơn mưa tầm tã đón cô ở cổng trường, thấy bàn tay mình cầm một cuốn sổ nhỏ với những dòng chữ quen thuộc tôi chưa từng viết.
Một đêm nọ, tôi giật mình tỉnh dậy, tim đập thình thịch. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang đứng trước gương, nhưng khuôn mặt phản chiếu không phải của tôi, mà là của cô. Cô cười vui, hàm răng trắng bóng, ánh mắt tràn đầy yêu thương.
– Cô vẫn ở đây, bên tôi, đúng không? Tôi lẩm bẩm, nhìn chằm chằm vào gương.
Đôi mắt trong gương loé lên ánh nhìn linh động. Không có tiếng trả lời, nhưng tôi có cảm giác như cô đang mỉm cười với tôi qua chính đôi mắt ấy.
Tôi không kể điều này với ai. Tôi sợ nếu nói ra, người ta sẽ bảo
tôi bị bệnh hoang tưởng. Dần dần cảm giác đó không ám ảnh nữa. Nó trở thành một
sự hiện hữu quen thuộc, một niềm an ủi đích thực.
Tôi không còn thấy cô đơn, vì biết rằng cô vẫn ở bên tôi, theo một
cách đặc biệt.
Bà Tá lúc đầu vẫn giữ khoảng cách với tôi, nhưng càng ngày, bà
càng thấy hình ảnh của chính con gái mình rõ nét hơn trong từng ánh mắt, từng cử
chỉ của tôi.
Bà lặng lẽ nhìn tôi chăm sóc chậu hoa giấy con gái bà từng yêu thích, thấy tôi cẩn thận lau chùi từng món đồ kỷ niệm của Sylvie, thấy tôi thỉnh thoảng lặng người nhìn về phía bàn thờ, như đang trò chuyện với cô.
Một hôm trong bữa cơm, bà bỗng giật mình, dí sát, nhìn vào mắt tôi, rơi cả đũa. Ảo giác khiến bà lạc giọng:
– Đúng rồi! Đúng đứa con gái bé nhỏ của mẹ đây rồi! Con tôi đã trở về! Con tôi! Mẹ đã thấy con trong đôi mắt con. Mẹ…mẹ muốn…cho mẹ ôm con vào lòng…
Bà giang hai tay ôm một chiếc bóng vô hình rồi hôn lên mắt tôi.
Bà nếm những giọt nước mắt lăn dài mà tôi không biết chảy từ lúc nào.
Bà nói trong nước mắt:
-Cứ khóc đi con! Mẹ và con cùng khóc ! Những giọt nước mắt hạnh phúc của hai mẹ con mình!
Qua cơn xúc động, bà trìu mến hôn lên mắt tôi một lần nữa:
-Hay là con dọn về ở đây đi. Mẹ muốn thấy con của mẹ mỗi ngày.
Rồi giọng bà mềm đi:
–Ừ!, mẹ biết… con thương Sylvie. Con hãy xem nơi này như nhà nghe con.
Tôi nghẹn lời. Đã vài lần bà gọi tôi là “con”, nhưng lần này gọi con xưng mẹ một cách tự nhiên. Cảm giác nhận được chân tình của bà tràn ngập trong lòng, tôi khẽ gật đầu.
Từ hôm đó, tôi qua lại nhà ông bà hàng ngày. Tôi chăm sóc họ như
cha mẹ mình, còn họ xem tôi như con trong gia đình. Bà không khách sáo, mà dần
chấp nhận sự thật.
Bằng tâm linh, con gái bà vẫn tiếp tục sống trong thế giới này, với đôi mắt ấy, thông qua chàng trai trước mặt bà.
Thời gian trôi qua, tôi vẫn không yêu ai khác. Trong lòng tôi,
cô chưa bao giờ rời xa.
Tôi vẫn giữ thói quen đi dạo trên những con đường cô từng đi, vẫn giữ quyển sổ nhật ký của cô bên mình, dù chưa một lần mở ra. Tôi sợ biết những điều không muốn biết.
Một buổi chiều, khi đang ngồi bên hiên nhà ngắm nhìn hoa giấy bay trong gió, bà Tá chợt hỏi:
– Con vẫn không định tìm một ai khác sao?
Tôi mỉm cười lắc đầu. Không cần phải nói gì thêm, vì bà đã hiểu.
– Thôi được rồi… Bà thở nhẹ, không còn băn khoăn như trước. Dù sao thì, con vẫn là con của gia đình.
Tôi nhìn bà, cười tươi. Tôi biết, dù cô đã không còn, nhưng tôi
thay chỗ cô trong gia đình, vẫn cùng cô đi đi về về.
Và dẫu cuộc sống có ra sao, tôi vẫn luôn mang theo đôi mắt người thương, để nhìn thế gian này bằng ánh mắt của cô, để yêu thương mọi thứ theo cách cô từng yêu thương.
Hoàng hôn buông xuống, nhuộm vàng cả khung trời. Qua làn gió thoảng,
dường như có ai đó đang cười bằng mắt.
***
Đồng cảm, người viết gửi tặng người trong truyện mấy câu:
Một đôi mắt, nhập hai tâm hồn,
Vui buồn cười khóc với thế nhân.
Sống-chung đời-lòng thề không đổi,
Nhắm mắt cùng nhau lúc lìa trần.
Nguyễn Cát Thịnh
Ngày 10 tháng 2 năm 2025
Lời Khuyên Vô Tội Vạ
Thời
buổi này, đáng sợ nhất không phải bệnh mà là những lời khuyên vô tội vạ !
Người Bên Thua Cuộc - Trần Bạch Thu
Trời chưa tắt nắng, những tia sáng màu vàng ối còn chiếu
dọi qua hàng cây cao trên con đường mùa Hè làm thành một
vũng ánh sáng chói lòa đan xen vào nhau, soi rõ từng đám bụi mù chen lẫn với
khói xe lãng đãng trên con đường chật cứng xe cộ đang di chuyển vào một chiều
thứ Bảy ở thành phố Westminster.
Tôi đi đến Nhà hàng The Villa nằm trên đường Beach để dự đám cưới của một đứa
cháu gái kêu vợ chồng tôi bằng Dì Dượng. Đây là một nhà hàng rất quen thuộc với
người Việt Nam lúc gần đây, nơi nầy thường được người địa
phương đến đặt tiệc cưới vì giá cả tương đối trung bình với thức ăn Việt hoàn
toàn và đặc biệt hơn nữa là nhà hàng tọa lạc trong một khu vườn cây cao bóng
mát, bãi đậu xe rộng rãi, nhất là nhà hàng thiết kế nhiều chỗ chụp hình được
trang hoàng cây cảnh rất đẹp.
Vì là người
thân trong gia đình họ nhà gái nên chúng tôi đến rất sớm, khi bên trong khu nhà
tiếp tân chỉ có một ít nhân viên đang sửa soạn quầy rượu cùng với các cô phụ
dâu đang sắp xếp bàn ghế trưng bày ảnh của cô dâu, chú rễ cũug như kê bàn đặt
phiếu dành cho khách mời đến lấy dễ dàng và dò biết mình thuộc bàn sổ mấy, tất
cả đều rất ngay ngắn, ngăn nắp sao cho mọi người đều có thể thấy rõ.
Đúng 6:00 PM
quầy rượu bắt đầu hoạt động, nhân viên nhà hàng bưng từng khay đựng thức ăn nhẹ
đi quanh khu nhà tiếp tân để mời mọi người thưởng thức những món ăn được ghim sẵn
để trên khay như chạo tôm, bánh bao nhỏ nhưn mặn, tôm chiên dòn, bánh nướng
.... Mọi người đứng quanh từng nhóm năm, ba người tụm nhau trò chuyện râm ran
chật kín cả khu tiếp tân. Âm thanh ồn ào, mọi người đi đi, lại lại thật là uyên
náo. Ở đầu cửa ra vào một số người đang xếp hàng để đến lượt ra đứng bên cạnh
cô dâu chú rễ chụp hình kỷ niệm lấy liền sau chừng nửa tiếng đồng hồ, hình được
đặt trên bàn ở gần chỗ chụp hình cho chủ nhân hình ai nấy tìm.
Đang còn đang
loay quay trò chuyện với nhiều người quen thân, bất ngờ có một người đàn ông
chen chân bước tới nhìn sững ngay trước mặt khiến tôi hơi ngờ ngợ, nhưng rồi
sau đó hai người chợt bùng lên một tràng cười như bể rạp. Người đàn ông ấy vẫn
gương mặt thật hiền lành, tuy có vài nếp nhăn nhưng không thể nào lầm lẫn vào
đâu được qua cặp mắt u uất, buồn rười rượi dài hơn thế kỷ. Anh Hòa! Tôi ôm chầm
lấy anh mà nước mắt muốn ứa ra. Gần 40 năm trời chưa một lần gặp
mặt. Biết bao nhiêu câu chuyện đời tưởng chừng như đã đi vào quên lãng, nay bất
chợt hiện về, rõ mồn một như một khúc phim quay chậm.
* * *
Hồi ấy tôi mới
lên Kontum nhận nhiệm sở về quận, anh là Tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn
nhiều năm trước đó, anh có gương mặt thật hiền như “thầy tu.” Tôi gặp
anh qua những lần họp hàng tháng ở Tòa hành chánh tỉnh. Trong buổi họp anh ngồi
im, ít nói nhưng khi trình bày công việc ở Ty sở thì anh lại nói năng rất mạch
lạc hấp dẫn. Tôi rất thích kiểu cách nầy nên bắt đầu làm quen thân với anh từ
đó. Cứ một vài hôm, chiều ở quận về sớm là tôi đến rủ anh ra quán bún thịt nướng
uống bia. Lâu dần tôi biết anh là người chăm sóc gia đình, một vợ 4 con, ba gái
một trai rất chu đáo đầy trách nhiệm với tình thương yêu hết mực. Trong
xứ đạo Tân
Hương (Kontum) gia đình anh là một gia đình công giáo thuần thành.
Lúc bấy giờ có
chương trình “ngủ ấp”, các viên chức và cán bộ tối về sinh hoạt ở nông thôn
theo lịch định kỳ cho nên tất cả đều mặc bộ đồ “bà ba” đen, xây dựng nông thôn,
vải ka ki dày cho tiện lợi. Anh tặng cho tôi hai bộ đồ để thay đổi, ngoài ra
anh còn tặng thêm một cái áo jacket hai lớp màu xanh trây dzi “mặc cho ấm” trên
đường đi xuống quận.
Anh em gần gũi
nhau qua những lần đi công tác chung, tiếp nhận các dự án xây dựng đường xá, cầu
cống hay trạm xá, trường học ở các xã, ấp. Có khi ngủ lại ở nơi đây, sáng cùng
lên trực thăng về lại tỉnh. Vui buồn đời công vụ ở tỉnh lẻ, thật thắm tình đồng
đội.
Mãi cho đến
tháng Ba năm 1975, tôi di tản về Sài Gòn an toàn, anh cùng vợ con chạy giặc tới
sông Ba, Phú Bổn bị địch pháo kích dữ dội nên cùng đường, hết lương thực cả gia
đình bèn trở về lại Kontum.
Khi về tới nơi
thì cộng sản đã chiếm được thị xã, anh và vợ con phải trốn ngược lên phía Đakto
ở nhờ nhà người bà con để rồi từ từ sẽ tìm đường vượt thoát vào Nam. Chưa được
bao lâu thì nhận được tin Sài Gòn thất thủ, tướng Dương Văn Minh đầu hàng, chiến
tranh kết thúc, anh đành thúc thủ tại quê nhà.
Ở địa phương
Kontum, một vài viên chức VNCH trở cờ, tham gia hăng hái vào hàng ngũ bộ đội cộng
sản làm kẻ chỉ điểm, ruồng bố vào từng nhà bắt giữ đồng đội cũ của mình. Anh bị
bắt trong đợt truy quét nầy do một viên chức trước đây từng là Chánh văn phòng
Tòa hành chánh tỉnh chỉ điểm.
Anh bị bắt đưa
đi nhốt ở Trung Tâm Cải Huấn cũ của VNCH. Đến khoảng trung tuần tháng Năm năm
1975 thì anh bị đưa ra Sân Vận Động tỉnh xét xử công khai cùng với hơn 20 người
khác được cho là có nợ máu với nhân dân.
Hôm ấy, dân
chúng tụ tập rất đông theo lệnh của cán bộ cộng sản. Chủ trì phiên tòa xét xử
là một cán bộ nằm vùng, tục gọi là chị Ba ngồi trên chiếc ghế sa lon màu đỏ huyết
dụ đặt ở giữa sân, phía sau lưng là 2 cái bàn dài dành cho 3 cán bộ miền Bắc đầu
đội mũ cối, bên hông giắt súng ngắn cùng với 4 nam, nữ dân quân du kích mặc đồ
bà ba đen đội mũ xanh tai bèo.
Mở đầu phiên
xét xử, chủ tọa gọi tên từng người ra đứng đối diện với chủ tọa đoàn khai tên họ
và chức vụ trong bộ máy chính quyền cũ, sau đó chỉ một mình chị Ba đứng lên nêu
tội ác của các đương sự một cách chung chung. Rồi cũng chính chị ấy tuyên án mà
không có tranh cải. Đến phiên anh, sau khi khai rõ họ tên chức vụ, chủ tọa buổi
xét xử đột nhiên rời ghế bước tới tát vào mặt anh liên tiếp và gầm lên, mắng
như mưa:
- Mày là đồ ngụy gian ác mang nợ máu với nhân dân, chống phá cách mạng triệt
để.
Sau đó trở về
chỗ cũ, chị đứng thẳng người lên dõng dạc đề nghị xử tử hình tên tỉnh đoàn trưởng
ngụy.
Đám đông dân
chúng im phăng phắc, không có một ai lên tiếng, rồi cũng giống như các trường hợp
vừa xử trước vì không có ai lên tiếng nên chị Ba giãm án dần xuống còn 20 năm,
15 năm, 10 năm ... và khi đến mức 5 năm thì cán bộ ra hiệu cho mọi người giơ
tay lên đồng ý. Lúc bấy giờ chị Ba mới ra lệnh cho tội nhân phải quỳ xuống chấp
nhận bản án và cúi đầu nói lời xin lỗi nhân dân. Tiếp theo sau đó, hai cán binh
đến kè xốc nách dẫn tội nhân đi nhanh để phiên tòa còn tiếp tục xử người
khác...
Kể từ sau ngày
đó, anh bị chuyển đi khắp các trại cải tạo từ Nam ra Bắc, thời gian kéo dài hơn
6 năm rồi mà vẫn chưa được thả, mặc dù đã có án 5 năm cải tạo như phiên tòa xét
xử năm 1975. Cho đến khi được chuyển về trại Gia Trung ở Plei ku anh mới có hy
vọng là sẽ được thả trong một thời gian ngắn chừng một, hai năm nữa, theo như lời
kể của các bạn tù ở đây, nhiều năm kinh nghiệm. Trong tù anh thuộc diện “mồ
côi” không có thăm nuôi, họa hoằn lắm đôi ba lần anh mới được người nhà gởi
theo thân nhân đi thăm tù cải tạo một gói quà chừng 5 kí lô, gồm một ít đường
tán và muối đậu.
Khi về tới Gia
Trung, tình hình cải tạo bớt căng thẳng, không còn hà khắc như ở miền Bắc, tù cải tạo được sinh hoạt thoải mái trong trại, nấu
ăn và tụ tập từng tụm 5,7 người trong những ngày nghỉ lao động. Lúc bấy giờ các
Cha, Thầy cũng được xả ra nhốt chung với ngụy quân, ngụy quyền. Đặc biệt là các
Cha còn bí mật làm lễ trong trại cải tạo, hình thức cũng đơn giản và kín đáo,
cũng có đọc kinh ban phép lành và cho rước bánh Thánh (Mình Thánh Chúa) được
lén lút đưa từ bên ngoài vào trại.
Không biết cán
bộ biết tin từ đâu, có thể là do “ăng ten” mật báo không chừng mà có một hôm
toàn trại được lệnh tập trung mang hết đồ đạc cá nhân ra sân thật khẩn trương,
ban đầu mọi người tưởng là chuẩn bị chuyển trại vì đã quen rồi với việc tập họp
đột biến như vậy, nhưng hôm nay khác, sau khi tập họp xong cán bộ quản giáo cho
biết trong trại có một số trại viên phản động đã cử hành bí mật lễ nghi tôn
giáo là điều cấm kỵ, vi phạm nội quy của trại và ra lệnh ai đã tham gia thì phải
khai ra để được khoan hồng còn bằng không thì sẽ bị thi hành kỷ luật tùy theo mức
độ nặng nhẹ.
Mọi người im lặng
không có một ai lên tiếng tự giác hay tự thú về sự vi phạm vừa nêu nên cán bộ
ra lệnh bắt đầu lục soát tất cả tư trang của tù nhân. Lúc bấy giờ anh em đều
kín đáo liếc nhìn về phía anh Hòa để xem anh phản ứng như thế nào. Tuyệt nhiên
không thấy có dấu hiệu gì lo sợ từ phía anh.
Thình lình loa
trại phát thanh “Trâu xảy chuồng! Trâu xảy chuồng!” và cán bộ trại yêu cầu
anh Hòa là người tù tự giác chăn đàn trâu hơn 40 con phải xuất trại gấp để lùa
trâu vô chuồng, vì không nói ra nhưng mọi người đều thừa biết rằng hơn 40 con
trâu mà lạc vào khu rẫy đang trồng hoa màu thì thiệt hại chắc chắn là không nhỏ.
Một số anh em
tù nhân trong trại thở phào nhẹ nhỏm vì chính anh Hòa là người cất giữ bánh
Thánh. Nếu không có bàn tay của Chúa phù trợ thì sự thể xảy ra không biết sẽ tồi
tệ đến mức nào khi mà cán bộ phát hiện ra chứng cứ. Hơn nữa bản chất con người của anh là rất tận tâm trong công việc được giao
phó, làm đến nơi đến chốn “từ khởi sự cho đến lúc hoàn thành”, biết kính
trên nhường dưới nên rất được mọi người kính mến từ xưa đến nay dù ở bất cứ nơi
đâu trong mọi hoàn cảnh
Thật ra anh
Hòa là một người công giáo thuần thành được nhiều người tin cẩn thì sẽ không dễ
gì anh tự mình tiêu hủy Mình Thánh Chúa. Chưa biết ra sao, nhưng rồi trong khoảnh
khắc linh thiêng ấy anh đã cầu nguyện và xin phó thác. Chúa đã nhậm lời cho anh
thời cơ có một không hai để giữ gìn được bánh Thánh và sau đó anh cầu nguyện
xin được giấu Mình Thánh Chúa trên trần nhà chuồng trâu.
Tất cả mọi việc
đều êm xuôi và anh em sau đó vẫn tiếp tục kín đáo cử hành thánh lễ ngay trong
trại cải tạo, duy chỉ có một điều là từ nay anh Hòa sẽ cất giấu Chúa ở ngoài
chuồng trâu.
Câu chuyện “Võ
Hòa giấu Chúa” được loan truyền rộng rải trong mọi người như là một phép mầu
khiến cho nhiều người tin vào quyền năng Thiên chúa nhiều hơn và có không ít
người đã xin rửa tội theo đạo công giáo ngay trong trại cải tạo Gia Trung kể từ
sau đó.
Sau gần 7 năm
cải tạo, anh được thả ra cho về nguyên quán tỉnh Kontum, ngày anh ra tù, nguyên
Chánh văn phòng Tòa hành chánh tỉnh theo cách mạng ngày 30 vẫn còn ở lại trong
tù, vẫn tiếp tục được ưu đãi “đoái công chuộc tội” là hàng ngày xách
tông đơ đi hớt tóc cho tù nhân, khỏi phải đi lao động ngoài ruộng rẫy. Có lẽ đến
giờ nầy ông ấy mới thấm thía câu nói của Tổng Thống Thiệu “Đừng nghe những
gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm.”
Đã trải qua
muôn vàn khó khăn, ngày về của anh Hòa còn thãm thương hơn nhều, nhà cửa ở thị
xã bị cộng sản tịch thu, cả gia đình bị bắt đi vùng kinh tế mới tận trên Ngô
Trang (Đakto). Khi anh đi mấy đứa con còn nhỏ dại chưa quen đời sống kham khổ
nay đối diện với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn vật chất đã đành giờ còn thêm
chấn thương về tinh thần. Cha đi tù, mẹ bỏ đi biệt xứ từ rất sớm, bốn anh chị
em thì đứa con gái thứ hai mất vì bệnh tật, đứa con trai kế đi chăn bò bị điện
giật chết, chỉ còn 2 đứa sống nhờ vào người bà con bên Nội ở khu kinh tế mới xã
Ngô Trang. Không còn gì để nói thêm nữa, tình cảnh thật vô cùng bi đát.
Nhưng trong mọi
hoàn cảnh anh đều tin có Chúa quan phòng nên rất vững tâm, phấn đấu xây dựng lại
cuộc sống. Trong những năm còn ở trong trại cải tạo, thỉnh thoảng anh có nhận
được những gói quà 5kg, giờ mới biết đó là do một phụ nữ láng giềng ở khu kinh
tế mới giúp đỡ gởi cho. Đồng thời chị cùng hết lòng trợ giúp 2 đứa con của anh,
kể từ khi vợ anh bỏ đi biệt không về. Người đàn bà tốt bụng nầy biết anh Hòa
trước đây, thời chế độ cũ. Nay thấy hoàn cảnh khó khăn của gia đình nên chị tự
nguyện đứng ra giúp đỡ vậy thôi. Riêng anh Hòa, không thể không nói lời mang ơn
nặng đối với người đàn bà có lòng từ tâm nầy khi anh trở về. Chỉ có một cách để
đền ơn là ngỏ lời cầu hôn với chị.
Ba tháng sau,
đám cưới của hai người đã diễn ra ở khu kinh tế mới Ngô Trang dưới sự chủ tế của
Cha sở tại cùng với đông đảo bà con, chòm xóm xung quanh. Kể từ sau đó vợ chồng
anh bắt đầu xây dựng lại một mái ấm gia đình thật hạnh phúc, sinh sống bằng nghề
nông, trồng lúa, làm rẫy ở nông trường Ngô Trang.
Đến năm 1989
anh nộp đơn xin đi Mỹ định cư theo diện HO, hồ sơ gia đình gồm hai vợ chồng bốn
đứa con, hai đứa đời vợ trước, hai đứa đời vợ sau, lại thêm một cháu trai, con
của đứa con gái lớn. Thật cũng hơi rắc rối.
Trong khoảng
thời gian anh còn ở trại cải tạo, hai đứa con anh sống côi cút ở khu kinh tế mới
Ngô Trang, có một anh bộ đội còn trẻ đóng quân ở Đakto thấy hoàn cảnh đáng
thương của hai chị em, ngày ngày ra đồng làm thuê, làm mướn sống qua ngày, cô
chị tuy đen đúa nhưng không giấu được nét trâm anh và duyên dáng của người thiếu
nữ mới lớn nên anh bộ đội ban đầu động lòng trắc ẩn chỉ muốn giúp đỡ thôi,
nhưng dần dần theo thời gian thấy vừa hợp nhãn lại vừa lòng nên hai người đã
yêu nhau và có với nhau được một đứa con trai. Sau đó anh bộ đội ra quân về
sinh sống luôn ở Ngô Trang với gia đình hai chị em trước khi anh Hòa về.
Đến khi có
chương trình đi Mỹ theo diện HO, anh Hòa quyết định là hai mẹ con cô con gái lớn
được liệt kê trong danh sách gia đình đi định cư với sự đồng ý ở lại của anh
con rễ. Khi lên phỏng vấn anh trả lời thật về hoàn cảnh gia đình riêng của mình
và được phái đoàn phỏng vấn chấp thuận. Năm 1992 cả gia đình lên máy bay đi Mỹ
còn anh bộ đội năm xưa đành trở về quê cũ, một làng quê xa xôi ở tận ngoài miền
Bắc. Trời Ngô Trang hôm ấy mưa bão sụt sùi ....
* * *
Sau khi tàn tiệc
cưới, gia đình tôi mời hết gia đình anh 6 người gồm cả con cháu hẹn nhau về
Long Beach chơi một bữa ba-bi-cue sườn bò Đại Hàn trước khi anh trở về thành phố Baton Rouge, Louisiana. Bữa ấy
vui lắm, rượu vào lời ra biết bao nhiêu câu chuyện đời của nhau được kể ra,
nhưng cảm động nhất là câu chuyện đứa con gái lớn của anh, sau khi đến Mỹ được
hai năm, có nhiều mai mối đàng hoàng đứng đắn, con nhà tử tế ở đây muốn kết
tình sui gia với anh nhưng anh để tùy con quyết định.
Một buổi tối,
sau khi cơm nước xong xuôi, cô con gái lớn quyết định dứt khoát xin phép Ba Má
cho về quê anh bộ đội năm xưa để làm đám cưới, mặc dù lúc bấy giờ liên lạc về
Việt Nam, nhất là ngoài miền Bắc còn rất hạn chế. Anh đồng ý... Và hôm nay
trong bữa tiệc tại nhà tôi có sự hiện diện của anh con rể ấy, rất hiền lành, ăn
nói thật lễ phép. Tôi nói đùa:
- Thế thì em
Trang làm sao quên được.
Nói chung gia
đình anh rất an vui hạnh phúc. À mà quên nữa, em Trang sau nầy còn bảo lãnh cho
mẹ ruột của mình sang Mỹ sum họp, ở với gia đình em. Thế mới biết con lúc nào
cũng thương Mẹ nên không bao giờ lên án mẹ. Tôi hỏi, còn riêng anh thì sao, có
gì lấn cấn không. Anh nói:
- Bây giờ mọi
chuyện xem như nước chảy qua cầu, tất cả mọi sự trên đời đều do Chúa xếp đặt.
Mình có biết đâu mà lấn cấn, còn chuyện vợ chồng còn duyên phận thì ở với nhau,
hết duyên thì xa nhau. Chỉ có vậy thôi.
Hiện nay tất cả
các con anh đều có gia đình nhà cửa riêng và công ăn việc làm tốt, ổn định. Hai
đứa con với người vợ sau, một đứa trai là Bác sĩ Y Khoa, một đứa gái là Tiến sỹ
Vật Lý cùng làm việc ở Louisiana, Hoa Kỳ.
Anh nói thêm,
sau nầy khi gia đình có đám tiệc mọi người đều cùng họp mặt chung với nhau rất
vui vẻ. Tôi hơi liếc khéo nhìn về phía anh vì tôi biết người vợ trước của anh
... cũng một thời sắc nước hương trời. Biết ý nhau anh nói nho nhỏ cho tôi vừa
đủ nghe:
- Già rồi tình
nghĩa là chính, sự đời đã tắt lửa lòng lâu rồi bạn ơi!
Nghe xong tôi
chợt nhận ra năm nay anh cũng đã U90 rồi, quỹ thời gian chắc không còn nhiều. Bất
giác tôi nhìn lên cổ áo, anh đang đeo một sợi dây chuyền vàng mặt cây thánh giá
to quá khổ. Tôi biết anh thường có trang sức dây chuyền mặt cây thánh giá lâu lắm
rồi kể từ thời trước nhưng sợi dây chuyền ngày xưa nhuyển hơn nhiều chứ không
to bản như bây giờ. Thấy lạ tôi hỏi như đùa
- Chắc bây giờ
ở Mỹ anh được ơn Chúa nhiều hơn chăng?
- Đúng vậy,
sinh hoạt chính hiện nay của tôi là tham dự các công tác thiện nguyện ở nhà thờ
giáo xứ nơi tôi cư ngụ.
- Anh có về Việt
Nam không?
- Có. Cách đây vài
năm tôi có về Việt Nam lo mồ mã cho cha mẹ, ông bà ở Bình Định.
Anh kể cũng là
một chuyện lạ. Anh rời Qui Nhơn (Bình Định) lúc còn nhỏ nên chỉ nhớ lờ mờ khu
nghĩa trang địa phương, sau nầy chính quyền giải tỏa biến thành khu đất canh
tác, phân lô cho dân chúng trồng trọt. Khi đến nơi quê xưa chốn cũ anh còn nhận
ra được khu mộ, một dãy 5 ngôi mộ gần liền nhau của cha mẹ ông bà, trong khi
chung quanh mọi người đã san bằng tất cả. Anh hỏi người chủ miếng đất có 5 ngôi
mộ sao vẫn còn y nguyên, chị kể
Khi được chia
đất về đây đã có sẵn 5 ngôi mộ nầy, thay vì để thành mã lạn, tôi giữ lại bằng
cách bồi đắp mỗi năm vì tin rằng sống trên đời có âm có dương có người sống
cũng có người khuất nên lòng thành tôn kính, biết đâu sẽ được người khuất phò hộ.
Nghe qua rất cảm
động, anh đề nghị mua riêng khu đất có 5 ngôi mộ này, chị trả lời là không cần
thiết, nhưng anh cũng xin một tờ giấy viết tay ghi rõ chu vi khu đất nhỏ
nấy dành riêng cho gia đình anh, người em của anh ở Sài Gòn sẽ giữ tờ giấy nầy.
Anh tặng cho chị chủ nhân miếng đất 5 ngàn đô la và xin được xây sửa lại
căn nhà của chị cho khang trang hơn, đồng thời hằng năm anh sẽ gởi về cho chị
chút đỉnh tiền coi như tiền trông nôm mã mồ cho gia đình anh.
Thế mới biết sống
hiền lành tử tế, biết giữ gìn nhân cách không có ác tâm, biết thờ kính người đã
khuất dù thân hay sơ, rồi ra sẽ được ơn trên phù trợ, giúp tai qua nạn khỏi,
chưa kể là sẽ được phúc lộc trời ban.
Chuyện đời của
anh đến đây xem như đã nhẹ, giờ đây anh chỉ còn sống theo câu châm ngôn thuộc nằm
lòng “kính Chúa yêu người” kể cả người cộng sản.
Trời càng lúc
càng khuya, tôi tiễn gia đình anh ra về mà lòng bâng khuâng khó tả, biết còn có
ngày gặp lại nữa không. Đời là vô thường mà.
Trần Bạch Thu
Long Beach 27/6/2025




.jpg)


