Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, December 29, 2025
Sự Công Bằng Của Trời Đất - Nguyễn Doãn Đôn
Nhờ Đảng và Bác thông minh mà có đường lối, chính sách lấp ao hồ, sông suối để phân lô bán nền và bê tông hóa lãnh thổ cũng như phá núi, phá rừng; mà người giàu có xe sang trọng cũng được ngâm nước bảo trì cho mát máy...
Ở một Chế độ hắc ám mà tầng lớp trung lưu vừa lòng với nó, thì làm cách mạng cực khó. Hy vọng ông Trời sẽ làm cho tầng lớp này dần dần sáng mắt ra, khi họ cùng chung số phận qua nhiều pha nếm mùi với đám Dân nghèo. Để thực sự trở thành: "Cộng đồng chung vận mệnh"!
Cũng chính vì vậy mà Carl Thayer là một chuyên gia về VN, thuộc học Viện quốc phòng Úc mang hai Quốc tịch Mỹ và Úc chia sẻ như sau: "Phong trào Dân chủ khó có sức hấp dẫn ở VN, bởi giới trung lưu chưa cảm thấy bị áp bức".
Tôi cho rằng đây là sự đánh giá xác đáng và chính xác của ông. Bởi tôi thấy bọn người cơ hội, lợi dụng Chế độ nhộm nhoạm, để "đục nước béo cò" còn quá là đông ở Đất nước mà giá trị của cuốn Hộ chiếu hiện giờ còn đứng sau cả Lào và Campuchia...
Nên để phán tội tại sao Đất nước ta càng ngày càng thua xa bạn bè thì theo chủ quan của tôi ngoài tội của Đảng và Bác do dẫn đường chỉ lối sai lầm ra; thì sự im lặng, hèn nhát và ích kỷ của giới trí thức và giới trung lưu cũng là những tội đồ của Dân tộc.
Bởi tôi cho rằng, một Dân tộc có trí tuệ, tài ba và lòng quả cảm thì không thể để một Chế độ ấu trĩ, kém văn minh tồn tại dai dẳng như thế được!
Nguyễn Doãn Đôn
Động Mạch Cảnh
ĐỘNG MẠCH CẢNH – MẠCH MÁU DỄ BỊ TẮC NGHẼN NHẤT VÀ CŨNG NGUY HIỂM
NHẤT!
Bạn có biết đâu là mạch máu dễ bị tắc nghẽn nhất trong cơ thể
con người? Không phải tim, không phải phổi, mà chính là động mạch cảnh – con
đường huyết mạch kết nối trực tiếp giữa tim và não bộ!
ĐỘNG MẠCH CẢNH LÀ GÌ VÀ VÌ SAO DỄ TẮC NGHẼN?
Động mạch cảnh nằm ở hai bên cổ, phía trước khí quản, có kích
thước bằng khoảng ngón tay út, là con đường vận chuyển máu giàu oxy từ tim lên
não. Nếu bạn áp tay vào góc hàm dưới cổ, bạn sẽ cảm nhận được mạch đập đều đặn
– đó chính là động mạch cảnh đang làm việc không ngừng nghỉ để nuôi dưỡng trí
não.
Theo thời gian, giống như ống nước cũ bị cặn bẩn bám đầy bên
trong, mạch máu cũng bị “rỉ sét” bởi cholesterol, mỡ máu, và các chất thải
chuyển hóa, tạo thành các mảng xơ vữa. Khi các mảng này tích tụ quá nhiều, lòng
mạch thu hẹp lại, cản trở dòng máu lưu thông và dẫn đến tắc nghẽn mạch – hậu
quả nghiêm trọng có thể là đột quỵ, mù lòa, liệt nửa người hoặc tử vong.
Đáng sợ hơn, chỉ cần 8 phút sau khi não thiếu máu, tế bào não sẽ
bắt đầu chết dần đi. Và nhồi máu não – một biến chứng kinh hoàng – lại có tới
2/3 nguyên nhân xuất phát từ tắc nghẽn động mạch cảnh.
ĐỪNG
CHỦ QUAN – TẮC ĐỘNG MẠCH CẢNH KHÔNG CHỪA MỘT AI
Rất nhiều người, chỉ đến khi bị liệt, bị mất khả năng nói, mắt
mờ, mới phát hiện ra mình bị tắc động mạch cảnh. Đừng nghĩ rằng đây là câu
chuyện của người cao tuổi. Tuổi càng cao, nguy cơ càng tăng, nhưng lối sống
thiếu lành mạnh của người trẻ ngày nay cũng khiến bệnh lý này “trẻ hóa” từng
ngày.
DẤU HIỆU CẢNH BÁO TẮC NGHẼN ĐỘNG MẠCH CẢNH
Hãy chú ý nếu bạn có những biểu hiện sau:
Chóng mặt, choáng váng đột ngột
Tê bì tay chân hoặc yếu một bên cơ thể
Nói lắp, khó nói hoặc không nói được
Mắt mờ, thị lực giảm, nhìn không rõ
Cảm giác như sắp ngất, nhức đầu dữ dội
Đây chính là những tín hiệu kêu cứu từ mạch máu não mà bạn không
nên bỏ qua.
LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA TẮC NGHẼN ĐỘNG MẠCH CẢNH?
1. Kiểm soát Cholesterol "xấu" (LDL)
LDL là một dạng cholesterol gây hại, tích tụ lâu ngày sẽ hình
thành mảng xơ vữa. Hạn chế thức ăn nhiều dầu mỡ, chiên rán, đồ ăn nhanh – đây
chính là “nguồn cung” LDL chính trong bữa ăn hàng ngày của bạn.
2. Thường xuyên kiểm tra bằng siêu âm Doppler động mạch cảnh
Một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả cao. Siêu âm Doppler
giúp bạn quan sát rõ ràng lòng mạch, phát hiện sớm các mảng xơ vữa. Giá kiểm
tra chỉ khoảng 340.000 đồng – một cái giá nhỏ để bảo vệ mạng sống.
3. Phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường
Đừng bỏ qua những cơn đau đầu lạ, cảm giác nặng đầu, hay hiện
tượng hoa mắt, chóng mặt, tê tay chân, nói ngọng thoáng qua… Đây là những lời
“cảnh báo nhẹ nhàng” trước khi cơ thể bạn xảy ra thảm họa.
4. Kiểm soát tốt các bệnh mạn tính
Huyết áp cao, tiểu đường, béo phì, máu nhiễm mỡ… đều là
"thủ phạm giấu mặt" gây xơ vữa động mạch. Hãy thường xuyên theo dõi
và kiểm soát các chỉ số này trong ngưỡng an toàn. Bên cạnh đó, hạn chế rượu
bia, bỏ thuốc lá, ăn nhạt, tăng rau củ quả, ngũ cốc nguyên cám – tất cả đều
giúp bạn bảo vệ hệ tim mạch hiệu quả.
TẬP “THỂ DỤC” CHO MẠCH MÁU – TẮM NƯỚC NÓNG LẠNH XEN KẼ
Tắm nước ấm rồi rửa lại bằng nước mát nhẹ là một cách tuyệt vời
để giúp mạch máu “co giãn” linh hoạt, giống như luyện tập thể dục. Phương pháp
này:
Tăng cường tuần hoàn máu
Tăng đàn hồi thành mạch
Giúp tinh thần sảng khoái, ngủ ngon hơn
Lưu ý: Không áp dụng với người có cơ địa yếu, dễ cảm lạnh. Có
thể thay thế bằng cách lau người bằng khăn lạnh ẩm mát.
GIỮ MẠCH MÁU “THÔNG THOÁNG” VỚI 3 LY NƯỚC MỖI NGÀY
Một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để giúp máu loãng hơn,
ít bị vón cục và giảm nguy cơ tắc mạch:
1.
Nửa giờ trước khi đi ngủ
Uống khoảng 350–500ml nước ấm để giảm độ nhớt của máu, hạn chế
nguy cơ đông máu ban đêm.
2.
Ngay sau khi thức dậy
Một cốc nước ấm vào sáng sớm sẽ giúp kích thích tuần hoàn máu, làm sạch đường ruột và làm loãng
máu.
3.
Khi thức giấc giữa đêm
Khoảng 2–3 giờ sáng là thời điểm dễ xảy ra nhồi máu cơ tim. Hãy
đặt sẵn cốc nước bên cạnh giường để kịp thời bổ sung nước, giữ máu lưu thông ổn
định.
Động mạch cảnh – tuy nhỏ bé nhưng lại giữ vai trò sống còn. Đừng
để sự thờ ơ và chủ quan của hôm nay dẫn đến những mất mát không thể cứu vãn vào
ngày mai.
Hãy chăm sóc mạch máu của bạn như cách bạn chăm sóc trí não – bởi chúng chính là nguồn sống cho nhau.
Bạn có thể yêu thương gia đình, tận hưởng cuộc sống trọn vẹn –
nhưng chỉ khi mạch máu còn thông suốt, trí tuệ còn minh mẫn!
Nguồn FB
Lá Cờ
Nét sắc đường thanh tô vẻ đẹp
Nền vàng sọc đỏ sáng hồn thơ
Em ơi tổ quốc nhờ em đó,
Mau lớn khôn lên giữ cõi bờ.
Nguyễn Thái Bình
Tôi chăm chú theo dõi đứa bé...
Em bé ấy chỉ chừng 13, 14 tuổi gì đó với đôi mắt sáng và một
khuôn mặt thông minh. Tôi bắt đầu chú ý tới em đó khi tôi phát giác ra là em
đang chen lấn vào trong đám người đến tham dự buổi chợ tết hôm nay để nhặt những
lá cờ rơi trên sàn của khu phố thượng mại này, nơi chợ tết mọi năm vẫn thường
được tổ chức.
Những khi tay em đã có đầy những lá cờ thì em đưa lại cho một
người đàn bà mà tôi đoán có lẽ là mẹ của em. Rồi em lại cứ tiếp tục công việc ấy.
Thỉnh thoảng tôi lại thấy em dừng công việc nhặt cờ và đứng trầm ngâm nhìn một
tấm ảnh nào đó trên những tấm bảng được dùng để triển lãm tranh ảnh của QLVNCH
trước năm 1975. Rồi em lại tiếp tục.
Sau một hồi lâu tôi không dằn được sự hiếu kỳ và cho đến lúc em
bé ấy đứng lại nhìn bức hình một lần nữa thì tôi bước đến hỏi em :
- Em thích bức hình này lắm phải không?
Em giật mình ngó lên và một hồi sau em trả lời :
- Dạ, con thích tấm hình này lắm.
- Tại sao em lại thích bức hình này?
- Dạ, tại hình này có ba con trong đó.
- Ba em là lính phải không?
- Dạ, ba con là lính xe tăng.
Lính xe tăng. Lính của sư đoàn thiết kỵ lừng lẫy chiến công qua
những địa danh oai hùng. Tôi bế em lên và hỏi :
- Em tên gì?
- Dạ, con tên Trần Hoài Việt.
Thế Việt chỉ hình ba cho chú coi đi.
Việt đưa tay chỉ vào một người lính sĩ quan đứng chung với một số
bạn đồng ngũ với một nụ cười kiêu hãnh. Và em nói :
- Ba con đó.
Em thốt lên ba chữ đó với một niềm kiêu hãnh mà có lẽ chính tôi,
một trong những người trong binh nghiệp đã quên mất từ lâu rồi. Tôi thả bé Việt
xuống và hỏi tiếp :
- Ba Việt đâu? Việt dẫn chú lại gặp ba được không?
- Dạ, ba con chết rồi. Mẹ con nói ba con đi đánh giặc bị chết rồi.
Tôi bàng hoàng với câu trả lời của Việt. Tôi hỏi tiếp :
- Thế Việt dẫn chú lại gặp mẹ Việt được không?
Việt gật đầu và nắm tay tôi dẫn về phía một người đàn bà đang ngồi
trước một chiếc bàn nhỏ xếp lại những lá cờ mà Việt đã nhặt được. Việt lay nhẹ
vai người đàn bà đó và nói :
- Mẹ ơi, chú này muốn gặp mẹ.
Tôi chợt mỉm cười với lời giới thiệu ngộ nghĩnh của Việt. Người
đàn bà, không, người thiếu phụ, ngước lên nhìn tôi mỉm cười gật đầu chào và nói
:
- Tôi là mẹ của bé Việt. Chắc là Việt làm phiền ông phải không?
Tôi lắc đầu trả lời :
- Thưa không. Tôi mới làm quen với Việt cách đây không lâu. Tôi
muốn được hân hạnh tiếp chuyện với bà. Tôi tên là Trường.
- Tôi tên là Trân. Xin ông đừng gọi tôi là bà, có vẻ xa lạ quá.
Cho phép tôi gọi anh là anh Trường nhé.
- Vâng, xin bà... à không, xin chị cứ tự nhiên cho.
Tôi đưa mắt nhìn bé Việt và nói tiếp :
- Tôi muốn gặp chị để được nói với chị đôi lời cảm phục chân
thành của mình.
- Cảm phục tôi?
- Vâng, tôi rất lấy làm khâm phục khi thấy chị đã dạy được cho một
em bé biết tôn trọng lá cờ Việt Nam. Tôi xin được hỏi là làm sao chị dạy cho Việt
được như thế.
- Tôi nghĩ là tốt hơn hết anh nên hỏi bé Việt câu này thì đúng
hơn. Rồi quay sang bé Việt, Trân nói tiếp :
- Việt con trả lời cho chú Trường tại sao con thích lá cờ Việt
nam đi con.
Bé Việt nghe lời mẹ ngó qua tôi và nói :
- Dạ, tại lúc ba con chết mẹ con nói người ta đã phủ lá cờ này
lên người ba con. Mẹ con nói nếu con thương ba thì con phải biết thương lá cờ
này.
Trong khi tôi đang ngỡ ngàng vì câu trả lời chững chạc và chân
thành đó, mẹ Việt lại tiếp lời :
- Tôi đã suy nghĩ thật nhiều về cái chết của anh Duy, chồng tôi.
Tôi nghĩ đến một ngày nào đó, nếu có ai hỏi cha Việt ở đâu hoặc tại sao cha Việt
chết thì Việt biết câu trả lời và thấy tự hào về câu trả lời đó.
Tôi bỗng thấy kính trọng người thiếu phụ, người mẹ hiền đang ngồi
trước mặt tôi. Lúc đó bé Việt lại đưa xấp cờ giấy mà em vừa nhặt cho mẹ và nói
:
- Mẹ xếp dùm con nhé. Con đi nhặt nữa nhé mẹ.
Tôi nắm lấy tay Việt và nói với Trân :
- Xin phép chị tôi cùng đi với Việt để xem coi mình có làm bằng
Việt không.
Mẹ Việt gật đầu trong khi Việt nắm lấy tay tôi kéo đi.
Chúng tôi đang thi đua xem coi ai nhặt được nhiều lá cờ hơn thì
có một bàn tay lay nhẹ vai tôi. Tôi quay lại thì thấy Doãn, thằng bạn trong
quân ngũ và cũng là bạn học khi xưa, hỏi tôi :
- Mày làm gì đó Trường?
- Tao đang nhặt những lá cờ này.
- Ừ, tao cũng đang bực mình vì những lá cờ này. Mày thấy mà làm
trước tao là hay đó.
Tôi chỉ bé Việt và nói :
- Tao có hay ho hơn mày cái gì đâu. Bé Việt là người đầu tiên
đó. Làm tao mắc cỡ quá. Mình già cả đầu rồi mà không ý thức được gì cả, thật là
đáng trách.
Nhìn đôi mắt Doãn đang ngạc nhiên nhìn bé Việt trong sự thắc mắc,
tôi bèn đem câu chuyện vừa rồi kể lại cho Doãn. Doãn nghe xong quay lại nhìn
phía mẹ Việt một hồi lâu rồi nói :
- Được rồi. Mày cứ tiếp tục đi, tao sẽ có giải pháp.
Rồi Doãn bước đi với một nét mặt cương quyết mà tôi chưa bao giờ
thấy từ ngày tôi và nó cùng bước xuống con tàu ra khơi.
Mười phút sau...
Trong khi tôi và bé Việt vẫn còn đang nhặt những lá cờ thì tôi
chợtt nghe giọng nói của Doãn phát ra từ những cái loa được đặt chung quanh nơi
này:
- Kính thưa quí vị, tôi xin được mạn phép tạm ngưng chương trình
văn nghệ mừng xuân trong giây phút để được có đôi lời thưa cùng quí vị. Nếu quí
vị nhìn về phía tay tôi chỉ thì quí vị sẽ thấy có một em bé đang nhặt những lá
cờ. Thưa quí vị, em bé ấy tên là Việt và em nhặt những lá cờ đó vì cha em là một
cựu chiến sĩ của QLVNCH đã bỏ mình cho lá cờ này. Cho nên em rất kính trọng lá
cờ này mà không nỡ để cho nó nằm rải rác trên sân hoặc bị dẫm lên. Kính thưa
quí vị, hẳn quí vị còn nhớ là ở phần đầu chương trình chúng ta đều đã mặc niệm
trước lá cờ để tỏ lòng thương tiếc các chiến sĩ cũng như các đồng bào đã bỏ
mình cho hai chữ tự do. Để rồi ngay sau đó ta lại vứt bỏ và thậm chí còn dẫm
lên trên những lá cờ đó. Thật là mâu thuẩn phải không quí vị. Riêng tôi, với tư
cách của một cựu quân nhân, chỉ biết nói lên đây sự hổ thẹn về những sơ ý của
mình. Sau hết là tôi xin được tỏ lời khâm phục bé Việt và nhất là chị Trân, mẹ
của em đã dạy dỗ nên một người con mà chúng ta ai ai đều có thể hãnh diện cho
nhau.
Nói xong Doãn đứng ngay người và đưa tay chào Trân theo lối quân
đội.
Rồi Doãn bước xuống từ sân khấu và bắt đầu nhặt những lá cờ gần
nhất. Mọi người yên lặng trong giây phút rồi không ai bảo ai đều ngừng lại mọi
hoạt động và cùng nhau nhặt lên những lá cờ chung quanh mình. Không biết ai đó
bỗng xướng lên hát bài "Việt Nam, Việt Nam". Rồi mọi người cùng nhau
đều hát lên. Thú thật, cả đời tôi đã hát bài ca đó không biết bao nhiêu lần rồi
mà chưa lần nào tôi hát một cách say sưa như thế cả. và tôi đưa mắt nhìn chung
quanh thì tôi đã lấy làm cảm động khi thấy có những người già, có những thành
niên đã không cầm được giòng lệ nóng, Nhưng dù đang khóc, tay họ vẫn nhặt những
lá cờ và họ vẫn hát, hát say sưa, hát nhiệt thành. Chưa bao giờ tôi thấy người
Việt Nam gần nhau như thế. Tất cả chỉ vì một hành động nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa
của một đứa bé. Đưa mắt nhìn lên bàn thờ tổ quốc nơi sân khấu, tôi thấy mình
đang bước về trên những con đường quê hương. Và tôi thấy một niềm hãnh diện
đang lên làm tôi nghẹn ngào.
Và mắt tôi chợt ướt. Và môi tôi chợt mặn.
Rồi buổi chợ tết đã chấm dứt...
Sau khi dọn dẹp tất cả và những lá cờ còn sót đã được nhặt hết,
tôi bước ra bãi đậu xe. Vừa đi tôi vừa nghĩ đến câu chuyện mà tôi và bé Việt
đang dở dang trước khi Doãn gặp tôi. Lúc đó bé Việt hỏi tôi :
- Mặc niệm là gì vậy chú?
- Khi ta muốn tỏ lòng thương nhớ tới một người nào đã chết rồi
thì thường yên lặng để nghĩ đến những người đó và cầu nguyện cho họ. Việt hiểu
không?
- Dạ hiểu. Thế con mặc niệm cho ba con được không chú?
- Được chứ Việt.
- Tại sao mọi khi mặc niệm người ta thường ngó về lá cờ vậy chú?
- Là bởi vì lá cờ Việt Nam tượng trưng cho hai chữ tự do. Bởi vì
nhiều người đã chết vì hai chữ đó Việt biết không. Những đồng bào vượt biển vì
muốn được tự do, những người ngày xưa đã chiến đấu để bảo vệ tự do cho mọi người
như cha Việt và bạn bè của chú. Cho nên người ta mới nhìn về hướng lá cờ để tỏ
lòng biết ơn tất cả qua lá cờ đó Việt.
- Thế sao người ta kính trọng lá cờ mà người ta còn vất nó đi vậy
chú? Có người còn dẫm lên nữa vậy chú?
Tôi đang ấp úng trước câu hỏi thì Doãn gọi tôi. Câu chuyện được
dừng lại ngay lúc đó. Và giờ đây tôi nghĩ lại câu hỏi cuối cùng của Việt mà
lòng thật phân vân vì thật ra, chính tôi cũng không biết tại sao nữa.
npn
Video Giáng Sinh Strasbourg - Nguyễn Duy Phước
Khi nói về mùa lễ lạc cuối năm ở Pháp, ai cũng thường nghĩ đến cảnh đèn đuốc thắp sáng ngời, rực rỡ trên đại lộ Champs Élysées từ dịp Noel cho đến cuối năm, quy tụ hơn cả triệu người đến từ khắp nơi để liên hoan bước sang năm mới.
Nhưng mừng lễ Giáng sinh không phải chỉ có ở thủ đô Paris mà còn
có một thành phố khác cũng rất đặc sắc và lộng lẫy. Đó là thành phố
Strasbourg, ở phía Đông nước Pháp, sát với biên giới nước Đức, nơi có
một phiên chợ Noel được tổ chức hàng năm và là phiên chợ lớn và thu hút nhiều khách
nhất nước Pháp và thế giới. Vậy nhân dịp lễ Giáng Sinh, mời viếng thăm thành phố
Strasbourg và phiên chợ đặc biệt còn đường mệnh danh là "Kinh đô
của Noel".
Sunday, December 28, 2025
Chùm Khế Ngọt ! – Sơn Tùng
Trương Thế Phát là một
thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong
và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội và chiếm Bắc Ninh, Thái
Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển
cả, gia đình ông đến Xiêm La (Thái Lan), rồi định cư tại đây.
Nhờ có tàu bè, ông
mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài
kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa
tiệm vải vóc lụa là, và Trà Thất Mây Tần.
Là một nhà kinh
doanh, công việc bận rộn, nhưng ông luôn thương nhớ quê hương. Ông nhớ Hà Nội
ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc…
má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ
phở, nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa
Một Cột… Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội
chùa Hương…
Ông nhớ những bài hát
ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải,
cam, quít… Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung
các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng,
phong tục khác biệt làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái.
Lúc bấy giờ nhiều người
trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết, một lý
tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động.
Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở
lại Xiêm mà cũng có người đi qua, đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu
trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế.
Trà Thất Mây Tần do
con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu
nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất,
cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh
doanh Trà thất Mây Tần.
Trà Thất Mây Tần ở thủ
đô Băng Cốc là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người
Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống
trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất
Mây Tần uống trà, uống rượu, Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt
Nam.
Ông bèn tới chào hỏi,
mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người
Bắc, người Trung, và người Nam. Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập
nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng
hai bên thật vui vẻ như câu thơ “Thiên lý tha hương ngộ cố tri”. Họ hỏi ông tại
sao đặt tên Trà Thất là Mây Tần. Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ
băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa”.
Dần dần, hai bên quen
nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật.
Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì
không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng
cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như
Liên Sô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục
đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột
người. Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có
khoảng mười triệu đảng viên.
Lực lượng đảng trong
nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm
được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ
nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc.
Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong
ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng
bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và
hoạt động của đảng cách mệnh.
Ông được chi bộ đảng
khen ngợi là “nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo Cộng Sản được
gọi là “Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với
cách mạng.
Sau 1945, Đệ Nhị Thế
Chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ
Cộng Sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những
người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe Cộng
Sản càng mạnh.
Năm 1954, Hiệp Định
Geneve chia đôi Việt Nam. Nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” giao thương với Xiêm
La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Băng Cốc. Những đảng viên Cộng Sản Việt
Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động “Việt kiều” tại Thái Lan về
xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào,
Miên…
Họ bảo “đất nước ngày
nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, nông
dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội
bây giờ không còn nạn người bóc lột người. Sinh viên học sinh được tự do học
hành, không phải đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở
cho đến khi thành tài.
Trong nước ai cũng có
công ăn việc làm, không ai thất nghiê.p. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều
thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ”.
Trương Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con
người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng
sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội,
và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.
Lúc bấy giờ công việc
buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được “cán bộ” cộng
sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê
hương. Ông nay được ban khen là “gia đình có công với cách mạng”. Nếu về Việt
Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở
trước mắt ông.
Ta về ta tắm ao ta!
Ông muốn trở về tắm
ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú
cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai!
Ôi! Nước ta nay đã độc
lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân
dân ta khốn khổ điêu tàn. Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà
đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa
Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến
thành sự thực.
Ông lo bán nhà cửa,
hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô
la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã “đăng ký” mua máy bay trở về Hà Nội
thân yêu. Nhưng tòa đại sứ Việt Nam CS tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả “Việt
kiều” tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cam Bốt
rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.
Sau khi đoàn “Việt kiều”
Thái Lan về đến Cam Bốt, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Sô là loại xe bốn
bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả
đám được cán bộ Cộng Sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề
rào kín và có lính gác. Họ bảo:
“các Việt kiều tạm ở
lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Họ
ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó. Họ bảo mọi
người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép”. Họ đưa mọi
người vào hội trường. Viên “thủ trưởng” tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:
Ông vừa dứt lời, mọi
người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo.
Tiếp theo, ông nói:
Ông nói xong thì lui
bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ
sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hột xoàn và đô la. Trong
khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào khám xét hành lý của
Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ
giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra. Ngay hôm đó, họ bắt mọi người
giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.
Ông cán bộ nói:
“Đảng sẽ giữ tài sản
cho họ vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính
phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được
ổn định.”
….Đã nhận 300 miếng
kim loại bề ngoài màu vàng… Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài… Đã nhận hai mươi
viên đá nhỏ óng ánh…
Đến đây thì các Việt
kiều biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp
Mã Giám Sinh đã kêu lên:
Vài ngày sau, các “Việt
kiều” được “phân phối” về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Vinh được
“phân phối” về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ:
– Chúng tôi xin về Hà
Nội là quê hương của tôi và đã được Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Băng Cốc chấp thuận.
Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?
Tên cán bộ trong “ban
Việt kiều yêu nước” nói:
”Nay chúng ta đang
xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười lần xưa. Hà Nội
tương lai sẽ có những tòa cao 40-50 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa
xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời
gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau”.
Biết rằng phản đối
cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ
xuống Quốc Lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây
số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi
sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số.
Ông là một kẻ ngụ cư.
Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia
đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để
phá hoại xã hội chủ nghĩa.
Tiền của mất sạch,
gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi
không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. Ở Thái
Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh
và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị
coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về
Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên chính quê hương mình.
Ông suy nghĩ xa gần
mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa,
giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về
Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy
vọng của ông!
Kẻ sát nhân cướp bóc
chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình
đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh
để rồi làm hại mình và con cháu!
Vài năm sau, chiến
tranh bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh Bắc tử Nam”. Trương Thế
Vinh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào “bộ đội” rồi tử thương tại chiến
trường miền Nam. Con gái ông phải đi “thanh niên xung phong”, lâm bệnh rồi chết
trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cắn đắng nhau.
Bà trách ông nhẹ dạ
tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận vì bị lường
gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu
say rồi chửi Cộng Sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù
Thái Nguyên.
Sơn Tùng
Đêm Thánh Tạ Ơn - Kim Oanh
Mãi mãi có Mẹ kết liên
Được gần bên Chúa ưu phiền xóa tan
Vượt qua giai đoạn khổ nàn
Quỳ bên ngôi Thánh xin van nhậm lời
Lòng con yêu mến chẳng dời
Với tình son sắt cuộc đời sáng tươi
Nửa đêm mừng Chúa ra đời
Ngài ban ân phúc nơi nơi thái hòa
Người ơi! muôn dặm cách xa
Cùng nhau hiệp ước tình ta hóa gần
Đôi lòng cùng nguyện xin dâng
Tạ ơn Mẹ, Chúa vạn lần ân thiêng
Amen!
Kim Oanh
Noel 2025
Nước Úc Yes hay No? - Đoàn Xuân Thu
Bảo Huân
Chân ướt chân ráo từ bên đảo tới Úc, tui cũng được chính phủ Kangaroo và Emu (Đại thử và đà điểu trên quốc huy của Úc) cho đi học tiếng Anh 510 giờ miễn phí để chuẩn bị đi làm cu li cho nó
Học “cầu vừa đủ xài”, để không phải cái gì
cũng động từ “to quơ”. Biết “Yes” và “No” là sống còn, để đi làm, đi chợ với vợ,
đi pub nhậu mà không bị boss, đồng nghiệp hay thổ dân nhậu xỉn nó dộng vô mặt
gãy răng.
Mới đầu, Úc hỏi cái gì tui cũng “yes” hết
ráo. Nói “no” sợ nó giận; nó đì mình sói trán. Rồi thấy trả lời “yes” là mình
ngu. Có lần thằng boss cự nự: “Chú mầy say ‘yes’; đồng ý rồi sao không làm?”
Tui đâu có hiểu nó sai cái gì mà làm. Từ đó, mỗi lần nó hỏi, tui đều “No”. Làm
nó hết sai tui luôn, quá phẻ! Nhớ nhe, dân Úc nói mình không hiểu cứ “No” đại
là chắc ăn như bắp!
Bà con mình ai cũng biết dân Úc rặt hồi xưa vốn
là dân Anh chôm chỉa một cây xúc xích (sausage), một chai rượu (whiskey) nhậu
chơi lỡ bị bắt, bị đày qua đây. Truyền thống chôm chỉa đó vẫn còn nhe. Thấy
thiên hạ có cái gì hay là Úc nó chôm về xài, mắc công sáng chế làm chi? Dân Úc
lè phè chết mẹ, có mấy ai thèm sáng chế nữa đâu! Ai cũng biết chôm dễ nhứt là
chôm của má mình. Chính vì vậy, Úc chôm của mẫu quốc Anh cái hệ thống chính trị
kiểu Westminster, chôm luôn kiến trúc của Má Anh. Đi chơi ngoài city Melbourne,
mình cứ tưởng đi lạc qua London chớ!
Nhưng cái thời chỉ biết ăn “fish and chips” –
cá lăn bột và khoai tây chiên – đã trôi vào dĩ vãng. Giờ đây, Úc ăn “hamburger”
của McDonald’s hay Hungry Jack’s, hoặc ăn cánh gà, ức gà, đùi gà chiên của KFC,
uống Coca Cola. Bà con không tin thì thử qua Southbank, bờ Nam sông Yarra, tưởng
mình đi lạc qua New York. Bốn chục năm trước vùng nầy ma nó ở, giờ đây toàn cao
ốc chọc trời, ba bốn chục tầng. Báo cháy reng reng là thang máy tụt một cái vèo
xuống đất chỉ mất 30 giây, cửa mở ra, con nó chạy lẹ như nghe mate (bồ Tèo) hú
đi pub!
Người Úc bỏ Má Anh để theo Ba Mỹ. Bỏ tiếng
Úc ngọng của mấy thằng nghẹt mũi do “hay fever”, sốt phấn hoa, khi Mùa
Xuân nước Úc lại về để nói tiếng Mỹ.
Em Ba Lùn, “se” phòng nhà tui, cũng đổi thay,
em theo Ba Mỹ: “business is business”. Em không còn văn nghệ tao đàn miễn phí nữa.
Đầu tiên là tiền đâu? Em tuyên bố “Từ rày về sau, nhậu cửng cửng về, nếu hết tiền
móc xỉa thì đừng có xin tui cho hun “free” một cái nữa nhe cha!”
Chuyện đua ngựa Melbourne Cup đầu tháng Mười
Một làm cả nước đứng hình. Dân Úc mắc đi cá ngựa. Em Ba Lùn cũng mê cá ngựa.
Ban đầu tui tưởng em chỉ thích nhìn ngựa, hóa ra em nó đánh cược theo kiểu
“business is business” Em xin tui năm chục đô sau khi cho tui “thơm” em một cái
để mua cá ngựa.
Nói rốt ráo, bà con mình sống ở Úc lâu mới thấy
được cái tinh thần “cầu vừa đủ xài” của Úc lợi hại ghê. Mình đi học, đi
làm, không quá bon chen. Biết dăm ba từ “Yes – No” là đủ. Sống ở Úc lâu lắm,
tui mới “Eureka” phát hiện ra: “Yes” không phải lúc nào cũng hay; “No”
đôi khi lại cứu mình khỏi bao chuyện bộn bề. Chính những câu “No” đúng lúc mới
giúp sống sót trong môi trường làm việc kiểu Úc.
Ỗ Footscray, ngoại ô phía Tây của Melbourne, hơn 30 mùa thu lá bay, tui gặp đủ hạng người. Có ông già Úc dắt chó đi dạo, nói lơ lớ với, mình cứ cười, nói “No” đại, thấy hổng tốn tiền vì ổng xin mình 5 đô để ghé pub uống bia. Có lần, tui thử trả lời “Yes” với con Úc sát nhà nhờ giúp bê cái bàn. Say “Yes” rồi mới thấy mình ngu. Cái bàn nó nặng thấy mẹ!
Bảo Huân
Từ đó, tui hiểu một chân lý: “Yes” không phải
lúc nào cũng khôn. No cho nó chắc ăn như ăn bắp
Chuyện pub cũng thú vị. Tui theo mấy người Úc
đi pub, tụi nó gọi pint bia, mình gọi theo, nhấp một ngụm, mắt trợn trắng vì đắng.
Nhưng đối với dân Úc bia đắng uống mới đã!
Úc đi nhậu không dám nói xấu vợ như Mít. Sao
dám? Úc vừa nhâm nhi, vừa nói chuyện về ngựa đua, thể thao, vừa chửi thủ hiến
tiểu bang, thủ tướng liên bang. Mình nghe mà buồn cười vì dân Úc giống
tui khoái nhậu và nói dóc!
Tóm lại ai mới tới Úc, học nhiều hại não, phí
thời gian vàng bạc. Chỉ cần học tiếng Anh “cầu vừa đủ xài” thôi. Không cần văn
hoa. Làm cu li văn hoa làm gì tổ cho chúng ghét. Miễn hiểu “Yes – No”, biết
khi nào nên nói đúng, khi nào nên làm lơ. Mấy lần tui nghe dân Úc nói chuyện về
luật, thuế, bảo hiểm, tui gật gù, nghe cho vui, nói No đại cho chắc ăn, cuối
cùng vẫn sống sót.
Và đây là đặc sản của dân Úc: chôm, chôm, và
chôm. Họ chôm cái hay của Anh, chôm cái hay của Mỹ, về xài, khỏi phải phát minh
chi cho mệt. Dân Úc lè phè chết mẹ, đâu cần mấy thứ sáng chế vớ vẩn. Nhà cao tầng,
công nghệ, quán pub, đồ ăn, hệ thống chính trị, mọi thứ đều là bản sao chọn lọc.
Tui thấy mà nể phục, vừa thông minh vừa… lười mà vẫn sống khỏe!
Đi dạo ở Melbourne, từ CBD đến Southbank, từ
Yarra River tới các quán cà phê, ta thấy sự pha trộn giữa Má Anh và Ba Mỹ. Người
nói Anh, người nói Mỹ, ăn uống, vui chơi, làm việc đều pha trộn. Nhưng trên hết,
dân Úc sống rất “cầu vừa đủ xài”, hài hước, tự do, và biết chọn lúc “Yes” hay “No”
để sống vui sống khoẻ.
Cuối cùng, bà con mình nếu muốn sống thoải
mái ở Úc, nhớ Úc nó hỏi Can you…! Cứ trả lời No là khoẻ re như con bò kéo xe bò
vậy
“Yes hay No? “No” cho chắc ăn nhe
bà con!
Đoàn Xuân Thu
Saturday, December 27, 2025
Bài Học Nửa Đời - Như Nhiên Thích Tánh Tuệ
Nửa đời người tôi hiểu được
Vô thường -
ấy lẽ thường nhiên
Và ta chỉ là chiếc lá
Trong rừng nhân loại vô biên..
- Nếu có một điều vĩnh cữu
Thì đó chính là đổi thay
Đổi thay -
chẳng hề thay đổi
Đành hanh.. tại thế gian này!
Điều ta cho là Hạnh phúc
Nào phải cứ là bên nhau
Dẫu hai phương trời cách biệt
Vẫn vui ý hợp tâm đầu!
- Không phụ thuộc vào năm tháng
Mà đo Sống ít hay nhiều.
Chính là
cách mình đã Sống
Mỗi ngày Thức tỉnh bao nhiêu..
Nửa đời trầm tư hiểu được
Bản chất kiếp người lẻ loi
Đã biết
nhân sinh hữu hạn
Lấp đầy - vẫn thiếu mà thôi!
- Con sóng phủ thềm năm tháng
Xóa nhòa,
cuốn nỗi niềm trôi
Chỉ cần nhận ra, trầm tĩnh
Đớn đau nào cũng phai phôi..
Nửa đời người tôi học được
Tan hợp,
thăng trầm bởi duyên
Đến lúc mây về chốn cũ
Nhẹ nhàng, đâu bận niềm riêng...
Nửa đời người
khi tỏ ngộ
Phân trần đen, trắng mà chi!
Thế gian mĩm cười đối diện
Sống với cõi lòng vô vi..
Như Nhiên
(Thích Tánh Tuệ)








